Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thị Thu Sương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thị Thu Sương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2022

VỀ QUÊ DỰ HỘI TRƯỜNG HỘI KHỐI Nguyễn Thị Thu Sương


VỀ QUÊ DỰ HỘI TRƯỜNG HỘI KHỐI
 
 
Chúng tôi đã thực hiện một chuyến về quê hương Quảng Trị dự hội trường và hội khối.

Trước đó vài tháng Thanh Hà báo cho tôi biết kỳ này bạn ấy về Việt Nam thăm mẹ, dự đám cưới của cháu và đi Quảng Trị dự hội trường. Có một điều chắc chắn là Thanh Hà sẽ kêu gọi các bạn tổ chức Hội khối 70-75 lần thứ hai. Nhưng Hội khối 70-75 lần thứ hai không quy mô như lần thứ nhất vì nhiều lẽ, trong đó linh hồn văn nghệ của nhóm Biển hát Phương có tang chồng, bạn ấy không có tinh thần để tổ chức một đêm Văn nghệ hoàn chỉnh. Chúng tôi thống nhất chỉ làm đêm văn nghệ nhỏ ở sát bờ biển để giao lưu các bạn nhóm 70-75.
Thanh Hà gọi điện thoại về động viên Phương và các bạn Biển hát để chuẩn bị về văn nghệ.
Tôi lại đi xa đất nước những ngày gần đó , mọi công tác tổ chức của nhóm 70-75 NHSG đều do Văn và Xuân Nguyên lo. Các bạn liên lạc với các nhóm Huế, Đà Nẵng , Cam Ranh - Nha Trang động viên nhau về tham dự . Xuân Nguyên và Văn liên lạc với Bạch Hoa và Quỳ lo việc tổ chức : đặt khách sạn cho các bạn ở Sài Gòn trong mấy ngày hội trường ở Quảng Trị . Bạch Hoa đặt khách sạn tại Cửa Việt không riêng gì nhóm bạn nơi xa về mà toàn bộ nhóm 70, người ở resort, khách sạn và nhà nghỉ, hết chỗ liên hệ cả home stay. Bạch Hoa thuê xe chở các bạn nhóm 70 từ Quảng Trị ra Cửa Việt. Ngoài ra Bạch Hoa và Phan Quỳ còn lo chuyện ăn uống chiều 20/7 và chuẩn bị thuê chỗ để diễn đêm Văn nghệ nhóm (chi phí ăn uống chiều và đêm 20/7 , chi phí thuê mặt bằng sân khấu , Thanh Hà có nhã ý tài trợ).
Lúc đầu các bạn chỉ dự tính tổ chức văn nghệ ở gần bãi biển, nhưng khi coi mặt bằng thấy nhỏ, không thể đốt lửa trại vì nằm gần bờ biển ảnh hưởng an ninh quốc phòng , nếu trời mưa thì rất khó khăn di chuyển. Sau khi tìm hiểu Quỳ liên hệ được khách sạn Sepon Cửa Việt thuê mặt bằng cho đêm văn nghệ nhóm 70 . Bạch Hoa và Quỳ dự trù chi phí và đưa ra tạm tính khoản tiền để các bạn đóng góp, có tiền đặt cọc khách sạn và cửa hàng ăn uống. Công việc tổ chức nói chung ở Quảng Trị tạm ổn.
Các nhóm Sài Gòn , Huế, Đà Nẵng và Cam Ranh Nha Trang đăng ký thu tiền gửi ra cho Bạch Hoa và Phan Quỳ chuẩn bị tổ chức họp mặt.
Riêng nhóm ở Sài Gòn lo mua vé máy bay vì giá vé tăng lên từng giờ từng ngày. Nhóm Cam Ranh Nha Trang mua vé tàu lửa vì thuận lợi di chuyển.
Gần đến ngày đi Phục báo không thể đi cùng bạn bè vì em trai phát hiện bị trọng bịnh , bạn ấy không đành lòng đi chơi, thế là phải trả vé tàu. Lòng bạn như lửa đốt vì bịnh tình của em trai và tiếc buổi gặp mặt bạn bè . Hội khối 70-75 năm 2019, Phục phút cuối cũng trả vé tàu vì anh trai bị tai nạn giao thông chấn thương sọ não, bạn ấy phải ở lại đưa anh đi bịnh viện Chợ Rẫy Sài Gòn mổ cấp cứu. Hy vọng lần họp mặt tới Phục có mặt cùng bạn bè. Những hình ảnh bạn bè xôn xao trên Facebook làm Phục chạnh lòng. Thương Phục quá!
Ở Bà Rịa, Lài gần đến ngày đi, bạn ấy đau không thể cùng bạn bè về hội trường được,thêm một lần lỡ hẹn cùng bạn bè.
Ở Đông Hà có Bê cũng gặp trường hợp tương tự, gần ngày hội trường chồng Bê nhập viện Sài Gòn, Bê phải vào chăm sóc, hội trường đành vắng mặt. Có bạn không biết, tìm không thấy Bê ở sân trường gọi điện thoại, Bê khóc thút thít trong điện thoại, thương bạn vô cùng. !
Kỳ này Hiền đã mang cháu ngoại về hội trường cùng bà. Hình ảnh thật đáng yêu và đặc biệt.
Bạn nào cũng muốn về quê để gặp bạn bè và thăm thành phố trong ký ức. Mặc dù Quảng Trị bây giờ khác xưa rất nhiều, nhưng khi về thăm chốn xưa, chúng tôi căn cứ tên con đường, lần tìm và định vị ngôi nhà cũ của mình . Trong tâm tưởng của chúng tôi vẫn thấy thành phố trong ký ức. Đi theo con đường dọc bên sông Thạch Hãn, tôi vẫn nghĩ mình đang đi trên đường Gia Long ngày nào, vẫn thấy toà tỉnh, bưu điện ở chỗ đó, ty Thanh niên, sân quần vợt ở chỗ kia. Chúng tôi đang đi trong thành phố ký ức của mình.
Chiều 18/7/2022 đến khách sạn Thành Cổ Quảng Trị, sau khi check in xong, đợi bớt nắng, nắng ở quê mình gay gắt, khí hậu nóng bức , đi xa quê lâu ngày, nay về lại chúng tôi thấy thật mệt trong cái nóng và nắng này. Chiều về không khí hạ nhiệt, chúng tôi rủ nhau ra bến sông Thạch Hãn chụp hình hoàng hôn. Tranh thủ chụp hình vì những giọt nắng cuối cùng gần tắt, quả cầu lửa đang dần hạ xuống, những đám mây chuyển từ màu cam sang màu tím nhạt, rồi tím đậm , hoàng hôn dần buông xuống. Dòng sông bắt đầu chuyển sang màu xám, những con thuyền nhỏ cắm sào đứng đợi chuyển thành màu đen thẫm trên dòng sông. Nhìn về phía cầu Ga thấy chiếc cầu đen sì, nhìn về phía chùa Tỉnh Hội có một cây cầu mới bắc ngang sông gọi là cầu Thành Cổ. Tôi vẫn thấy lạ lẫm chưa quen với chiếc cầu này. Gió dưới sông bắt đầu thổi lên, không khí dễ chịu hẵn lên. Tôi nhìn vào dòng sông nghĩ giờ này chắc ít ai qua lại sông, vì dưới đó biết bao người đang nằm lại vì cuộc chiến năm 1973.
“Đò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ
“Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
……
(Lê Bá Dương )
Tôi thấy rùng mình và rủ các bạn đi chợ đêm Quảng Trị. Chợ đêm có bán những mớ cá nục , tôm rất tươi. Tôi mua mấy ký ném về cho gia đình, ba mạ tôi rất thích kho cá với ném. Thấy bắp nếp quá ngon, tôi mua hết số bắp còn lại của em nhỏ định về khuya ăn cho vui. Tối đó chúng tôi về quán góc đường Trần Hưng Đạo và Phan Đình Phùng ăn xôi và cháo vịt. Quán nấu ngon, nêm rất hợp khẩu vị, thịt vịt quê mình ít mỡ thịt dày, rất ngon, tôi định bụng không dám ăn nhiều vì sợ mai mặc áo dài không đẹp nhưng đồ ăn ngon quá không đành lòng.
Sau khi, chúng tôi đi ăn khuya về, cả nhóm đi bộ với nhau trên đường Trần Hưng Đạo, lần mò xác định đây là nhà Xuân Nguyên, kia là nhà Thu Trang, Lý Thế Văn khoe kỳ này về xác định được vị trí nhà của mình. Chúng tôi xác định được vị trí trường Nữ tiểu học và trường Nam tiểu học ngày trước. Xóm có cây đa và mộ cô cậu cũng như xóm có lò bánh mì ông Vi bây giờ là chợ Quảng Trị mới. Còn chợ Quảng Trị cũ giờ là khách sạn Thành Cổ và các nhà chung quanh. Tôi đi qua đường Quang Trung, miếu Ông Voi hiện là nhà dân, ở ngoài chỉ có một trang thờ nhỏ .
Trường trung học Nguyễn Hoàng đã sụp đổ, một trường trung học được xây trên nền móng cũ của Trường trung học Nguyễn Hoàng, nhưng mang tên khác: Trường phổ thông trung học Quảng Trị. Chúng tôi tìm về đây để tìm gặp bạn bè, ôn lại kỷ niệm của ngày xưa, như nhắc nhở cho thế hệ sau biết rằng trước đây đã có một ngôi trường bề thế, với chiều dày lịch sử, có truyền thống tôn sư trọng đạo, có những thế hệ vàng, với những học trò thành đạt làm rạng rỡ tên trường mang tên Chúa Nguyễn Hoàng- người có công lao mở mang bờ cõi về phương Nam, các vua chúa Nhà Nguyễn đã xây dựng và mở rộng bờ cõi, đất nước mới có được như ngày hôm nay.
Cảm thấy thương cho những chàng trai cô gái học trò trường Nguyễn Hoàng năm xưa , vượt hàng ngàn cây số từ phương nam xa xôi, hàng nghìn dặm từ nước ngoài , như những cánh chim bay về tổ.
“Từ bốn phương trời lồng lộng
“Những bóng chim hồng, chim nhạn
“Nghe tiếng hót gọi đàn
“Rạo rực hoài trông cố thổ
“Rong ruổi cánh, tìm về đây hội ngộ
(Nam Hải Trường Sơn)
Chúng tôi tìm về quê hương và trường cũ , tìm về ký ức một thời tuổi thơ và hoa niên của mình, thành phố Quảng Trị xưa trong tâm tưởng của chúng tôi lúc nào cũng đẹp và bình yên.
Văn nghệ Tiền hội ngộ tổ chức đêm 19/72022 , chúng tôi đến để làm quen với sân khấu. Các anh chị đang tập bài Hội trùng dương, tôi nhìn trời mây đen và đọc dự báo thời tiết báo tối nay có mưa. Thanh Hà và tôi lo không biết đêm Tiền hội ngộ có diễn được không?.Mây đen nhưng phía chân trời còn sáng, tôi hy vọng mưa đám mây thôi. Trời đổ mưa thật, khá nặng hạt, các anh chuẩn bị những tấm nylon che nhạc cụ. Trên sân khấu thầy Nghiên và các anh chị vẫn tập hát, kỳ này hát chay không có nhạc. Mưa rào ba lần, gió thổi bay dần các đám mây, trời quang đãng sáng dần lên, ánh nắng cuối buổi chiều chiếu hắt lại. Thanh Hà và tôi thấy nhẹ nhõm và vui mừng, công tập luyện của mọi người không bỏ phí, đêm Tiền hội ngộ vẫn tiếp tục được diễn. Chúng tôi về nhà chuẩn bị cho đêm diễn tối nay.
Tối hôm đó đến sân trường, chung quanh tối om chỉ có sân khấu sáng, chúng tôi tìm nhau cũng khó khăn. Có những người bạn mới gặp lại nhau nhưng không thể chụp hình bằng điện thoại được , chỉ có máy ảnh chuyên nghiệp của anh Dũng phu quân của Trần Kim Anh là chụp được. Anh ưu ái chụp cho các bạn một số hình kỷ niệm trong hành lang và sân trường hôm ấy.
Đêm Tiền hội ngộ diễn ra tốt đẹp nhưng khán giả chỉ khoảng 200 người, ghế không đủ một số người không có ghế, chúng tôi đứng chờ diễn cũng mỏi chân nhưng không tìm được ghế ngồi, đi xa sân khấu sợ tìm nhau không được vì sân trường tối đen như tối ba mươi Tết. Tôi tham gia diễn thời trang áo dài của đoàn NHSG và Nhóm 70-75 diễn tiết mục “Ngồi lại bên nhau “cuối của chương trình . Khi ra về không tìm được xe taxi, chúng tôi đi bộ về khách sạn.
Khuya đó vợ chồng tôi, vợ chồng Văn và Thanh Hà sau biểu diễn văn nghệ mới đi ăn tối. Cả thành phố ngủ yên, quán xá đóng cửa, chúng tôi đi bộ đến quán cũ ở góc Phan Đình Phùng và Trần Hưng Đạo nhưng quán đóng cửa , sau nhờ taxi chở đến quán phở gần cầu ga, chúng tôi mới có tô phở ăn trong đêm.
Tối đó tôi lên mạng hẹn các bạn có mặt 6h tại bến thả hoa sông Thạch Hãn chụp hình lưu niệm trước khi đến trường. Chúng tôi mặc áo dài trắng cùng nhau chụp một số hình kỷ niệm nơi đây, gần 7 giờ các bạn đi về trường cũ. Chúng tôi chụp hình kỷ niệm bên Thành Cổ Quảng Trị trước khi vào trường. Mới 8 giờ sáng mà nắng đã gay gắt, sân trường không có bóng cây, các cây lớn đều bị chặt, các cành con mới đâm ra không tạo được bóng mát. Chúng tôi chịu không nổi chụp một hai tấm là bỏ vào hành lang. Tôi quyết định về khách sạn thay áo dài và guốc cao.
Hôm trước, mang guốc cao đứng cả buổi tối Tiền hội ngộ và đi bộ khoảng một cây số về khách sạn, kết quả ngày hôm sau tôi đi cà nhắc vì sưng khớp đầu gối.
Anh Đào gọi điện báo cho tôi biết bạn đã giữ dùm hai ghế cho vợ chồng tôi. Khoảng 10 giờ tôi quay lại trường, chúng tôi ngồi ngoài hành lang. Nhìn vào khu nhà to nơi tổ chức họp mặt, trong gian phòng lớn gần 1.000 người ngồi cửa sổ không nhiều, số quạt không đủ, mọi người nóng và mệt mỏi, diễn giả đọc dài, dù đoàn NHSG hát bài Hội Trùng Dương rất hay, nhưng với tinh thần mệt mỏi không biết có ai theo dõi hết đầy đủ hết chương trình không.?
Trời nắng gắt, thỉnh thoảng mới có một cơn gió mát thổi qua. Sau khi ăn xong, chúng tôi đi taxi về khách sạn và sắp xếp hành lý, khoảng 14 giờ có xe đón ra Cửa Việt.
Sau khi ổn định ở khách sạn, xe đón chúng tôi ra quán Bé Hoá Cửa Việt. Thanh Hà mời toàn nhóm 70 , các anh chị trong ban văn nghệ NHSG , một số anh chị và một số em khối 71, 72,73 chưa có chương trình nhóm. Các món ăn hải sản như mực, tôm, sò tươi thật ngon. Sau đó, chúng tôi nhanh chóng trở về khách sạn chuẩn bị cho buổi họp mặt nhóm 70-75 đêm nay.
Xe chở chúng tôi đến khách sạn Sepon Cửa Việt, khung cảnh trang trí đẹp , mỗi bàn đều có bình hoa tươi đẹp và lịch sự. Thanh Hà mang chocolate từ Mỹ về, bạn Bơ Cam tặng bánh bông lan đãi mọi người. Chương trình văn nghệ được mở màn với bài hát “Ngồi lại bên nhau “, chúng tôi- những ca sĩ nghiệp dư lên sân khấu hát cho nhau nghe. Các tiết mục còn lại được các bạn chuẩn bị kỹ với các giọng hát hay của nhóm như Hoàng Hường, Thanh Hà hài hước với bài “Vè nói trạng” , Kim Phượng, Văn và phu nhân, Nhóm Biển hát có tiết mục sôi động “Ngựa phi đường xa” và các gương mặt mới như Sáu (NH ĐN), Nguyễn Khắc Thanh, anh Lanh chồng Bạn Kim , khách mời anh Hoàng Ân (NHSG) … Lý thế Văn và Phan Quỳ làm MC thật duyên dáng, kết thúc với bài hát Nối vòng tay lớn và Bài ca tạm biệt do toàn nhóm 70 trình bày. Đêm văn nghệ rất hay và đầm ấm, các bạn thật vui đoàn kết bên nhau .
Bạn Thanh Hà đã đem tâm huyết và nổ lực để tổ chức đêm họp mặt và văn nghệ của nhóm Cựu học sinh Nguyễn Hoàng khối 70-75. Thanh Hà là sợi dây kết nối tình thân ái và đoàn kết trong nhóm. Thanh Hà có một tình cảm thân thiết hiếm có với bạn bè. Bên cạnh đó, công lớn thuộc về nhóm Cựu học sinh Đông Hà trong đó bạn Bạch Hoa và Phan Quỳ có công lao lớn nhất , mặc dù bịnh tật nhưng hai bạn đã nhiệt tình, đem hết tinh thần ra lo cho buổi hội ngộ Nhóm Cựu học sinh Nguyễn Hoàng 70-75, các bạn khác của Đồng Hà và Quảng Trị chung tay vào lo cho cuộc họp mặt chu đáo và thành công. Nhóm Biển Hát tập luyện và trình bày những bài hát thật hay và hấp dẫn. Các bạn Quảng Trị, Đà Nẵng, Sài Gòn, Nha Trang cũng có những tiết mục tham gia xuất sắc. Điều quan trọng hơn cả là tình thân ái và đoàn kết đã tạo nên sự thành công của đêm họp mặt và văn nghệ biểu diễn của nhóm cựu học sinh Nguyễn Hoàng khối 70-75.
Sáng hôm sau, chúng tôi dậy sớm ra biển Cửa Việt đón bình minh, tôi đã chụp những tấm hình đẹp bình minh trên biển Cửa Việt. Từ trong màn đêm tối bao la của biển cả, những áng mây ửng hồng, chuyển dần qua màu cam , đám mây trên bầu trời nhuốm màu cam. Những ánh sáng cam đỏ loé dần lên như hình rẽ quạt, quả cầu đỏ từ từ ló dạng, bầu trời sáng dần lên. Mặt trời nhô cao dần lên trên biển, bầu trời chuyển dần sang màu xanh, ánh sáng mặt trời lấp lánh trên mặt biển . Chúng tôi chụp được những hình ảnh đó của bình minh, sau khi chụp cho nhau những tấm ảnh kỷ niệm, chúng tôi đến quán Bé Hoá, nhóm 70 ăn sáng ở đây. Vừa ăn sáng, chúng tôi chụp hình kỷ niệm, nhóm Biển Hát có một chương trình văn nghệ bỏ túi, hát chia tay bạn bè trong nhóm. Chúng tôi về khách sạn chuẩn bị hành lý trả phòng. Mười một giờ xe đón chúng tôi trở lại quán ăn trưa và chia tay nhau. Chúng tôi bịn rịn chia tay các bạn Đông Hà và Quảng Trị, những cái ôm thân thiết, những giọt nước mắt không thể ngăn lại.
Chúng tôi lên xe về Huế. Các bạn Huế và Đà Nẵng hẹn ghé quán cà phê bên bờ sông Hương uống nước và chụp một số cảnh đẹp với nhau. Phu quân của Trần Kim Anh phục vụ những bà ngoại bà nội mê chụp hình. Gần đến giờ ra sân bay, chúng tôi bắt tay và ôm nhau thân thiết hẹn ngày tái ngộ. Nhóm NHSG đến sân bay làm thủ tục cho chuyến bay 19 giờ về Sài Gòn. Máy bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, một lần nữa bịn rịn chia tay nhau. Kết thúc những ngày hội trường sôi động và nhiều kỷ niệm ở quê nhà.
Nguyễn Thị Thu Sương, 2/8/2022.
 

 
 


 

 

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2022

TÌNH HỌC TRÒ , ÁNH MẮT YÊU THƯƠNG Nguyễn Thị Thu Sương

TÌNH HỌC TRÒ
 Nguyễn Thị Thu Sương.
 

Sau Mùa hè Đỏ lửa 1972, dân Quảng Trị chạy loạn vào các tỉnh Miền Trung, lưu lạc khắp Miền Nam Việt Nam, và nhiều nhất là ở thành phố Đà Nẳng. Hiệp định Paris 1973 được ký, quân đội Mỹ rút quân về nước, các căn cứ Mỹ bỏ lại ở Non Nước và Hòa Cầm trở thành nơi tạm cư của dân chạy loạn Quảng Trị.
Sau một thời gian ổn định, Trường Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị đã tổ chức học lại. Trường Trung học Nguyễn Hoàng đóng tại trại 5 Non Nước. Trường tạm thời mở tại một hội trường lớn của Mỹ để lại. Lớp học được ngăn vách bằng cót ép, để trống phần trên và phần dưới, ngồi bên lớp này có thể nghe thầy bên lớp kia giảng bài. Những ngày đầu chưa có bàn ghế, học sinh mỗi người còn phải mang theo một ghế nhỏ để ngồi. Sau một thời gian ngắn, trường đã trang bị được bàn ghế, chúng tôi được một lớp học tương đối ra lớp học.
Thầy Nguyễn Huy Vỹ dạy Anh Văn cho bốn lớp 9, trong đó ba lớp 9/1, 9/2, 9/3 (nữ) và lớp 9/4 (nam). Thầy dạy Anh ngữ rất hay và tận tâm với học trò. Thầy khuyến khích chúng tôi học hành và ganh đua với nhau. Khi vào lớp con gái, thầy lúc nào cũng khen lớp con trai học rất giỏi và cứ nói:” sao con gái lại thua con trai hè!”. Vào lớp con trai thầy cũng dùng chiêu thức đó, các lớp cạnh tranh nhau học hành. Cuối học kỳ 1 thầy nói: “kỳ này thầy sẽ ra đề thi chung bốn lớp, ai đạt điểm cao nhất, thầy sẽ có phần thưởng!” Chúng tôi ganh đua nhau học. Kết quả học kỳ 1, điểm Anh ngữ của tôi là 19 ¼.
Tôi được một quyển tự điển Anh ngữ, đó là phần thưởng của thầy Vỹ. Nhưng đây mới là duyên cớ cho câu chuyện bắt đầu. Tôi có em trai học dưới tôi hai lớp cũng tại trường trung học Nguyễn Hoàng. Vui mừng vì chị đạt giải thưởng của thầy, em tôi đem ra khoe với bạn ngồi cùng bàn. Cậu bạn đó về kể lại cho anh trai mình. Hôm sau, bạn của em tôi nói: “anh trai mình thua chị bạn ¼ đó, anh mình 19 điểm”. Nhưng anh của bạn ấy không đành lòng, đưa ra câu đố: “To be or not to be” là gì?, đề nghị chuyển về cho tôi trả lời.
Thực tình, tôi không biết câu này, tôi tra tự điển mà không thấy. Tôi đành đến hỏi thầy Lữ, thầy giải đáp cho tôi. Đó là phrase bắt đầu của một lời độc thoại (soliloquy) của nhân vật Hamlet, hoàng tử xứ Đan Mạch (Denmark) trong hồi 3, cảnh 1 vở kịch Hamlet của đại văn hào và nhà viết kịch William Shakespeare nước Anh, thời Phục hưng:
“ To be , or not to be – that is the question:
“ Whether ‘ tis nobler in the mind to suffer
……………….
“To be or not to be “có nghĩa là: “sống hay chết, tồn tại hay không tồn tại: đó là một vấn đề nan giải” và nó trở thành câu châm ngôn bất hủ (famous quotation) của William Shakespear.
Khi có câu trả lời, tôi viết gửi lại cho người bạn ấy và không quên ghi chú: “Đồ con nít!”
Tôi đem câu chuyện này nói với nhóm bạn của tôi. Chúng tôi chỉ biết tên bạn ấy, nhưng không biết mặt. Hai lớp học cách buổi nên hoàn toàn không biết mặt nhau. Chúng tôi quyết định phải tìm cho biết mặt người thách đố ấy.
Chuẩn bị cho văn nghệ Tết của trường, liên lớp 9 họp lại ban văn nghệ. Chúng tôi vào họp nhóm văn nghệ, tôi nói với nhóm bạn: ”phải tìm xem mặt chàng kia, xem mặt mũi ra sao, mà phách lối thế!” Trong lúc đó, thật bất ngờ “hắn ta” lại ngồi trước mặt chúng tôi, ôm đàn lặng lẽ cười!
Sau này, khi xong chương trình văn nghệ, tôi mới biết mặt chàng ta.
Ngày liên hoan Tết cuối năm của trường, tôi nhận một thiếp chúc tết xinh xinh, ghi trong đó lời chúc tết và kèm theo câu:” Giọt sương xuân thấm lạnh lòng núi non”. Cả nhóm bạn tôi làm quen với bạn ấy và Mai Anh rất nghịch ngợm gặp người ấy đều đọc to câu đó.
Một hôm, Quảng phát hiện ngay chổ ngồi của tôi, có một lỗ tròn nhỏ, đặt mắt vào có thể nhìn sang bên kia. Quảng đi điều tra mới biết: phòng học của lớp tôi lại sát phòng nhà bạn ấy. (Ba bạn ấy là nhân viên của trường trung học Nguyễn Hoàng nên nhà bạn ấy ở trong trường!).
Buổi học Anh văn, học mệnh đề IF ( Conditional sentences), các bạn có dịp chọc bạn ấy. Ở bên lớp, Quảng và Mai Anh đọc to.”If you are Mountain, I will be Dew”. Không biết ngồi bên nhà, bạn ấy có nghe rõ không? Cái nhóm bạn nghịch như quỷ này luôn gây áp đảo bạn ấy. Bạn ấy chỉ cười mà không nói gì.
Cả nhóm tổ chức buổi họp mặt tại bãi biển Sơn Chà. Chúng tôi đi xe lam từ Non Nước qua Sơn Chà. Cả nhóm ngồi chơi đùa đến gần chiều giải tán, lúc về chúng tôi quyết định không đi xe mà đi bộ dọc bờ biển. Chúng tôi đi bộ từ bãi biển Sơn Chà về đến Mỹ Thị, đến bãi biển trại Hòa Long, Hoa, Mai Anh, Ái Hồng và Quảng đi tiếp về nhà. Tôi và bạn ấy đi bộ dọc bờ biển đến trại 5 Non Nước. Áo dài trắng bay quấn quýt theo bước chân, tóc dài bay tung trong ánh trời chiều. Ánh nắng trên biển bắt đầu dịu lại, dể chịu hơn hẳn. Chúng tôi vẫn lặng lẽ bước bên nhau, nói chuyện vu vơ về bài học này nọ. Bỗng nhiên, bạn ấy dừng lại, ngập ngừng hỏi tôi :
- S có cảm nhận một tình cảm nào đó về mình không? “.
Tôi thẹn thùng bối rối trả lời:
- Mình cũng không biết nữa!
Rồi chúng tôi tiếp tục bước, mỗi người đeo đuổi mỗi ý nghĩ riêng. Tôi không thể trả lời câu hỏi của bạn ấy, tôi mơ hồ cảm nhận về nó, nhưng không thể diễn tả nó như thế nào.
Ông ngoại tôi nổi tiếng là người khó tính. Hồi ở Quảng Trị, các bạn trai của các dì đến nhà chơi, ông ngồi quan sát và nhìn đồng hồ. Thấy không thích anh chàng nào ông lên tiếng hết giờ đến chơi. Không biết bạn ấy lấy cam đảm như thế nào mà dám bước vào nhà tôi. Ông ngoại tôi nằm trên gường, kế bàn học của tôi lắng nghe hai đứa nói chuyện. Lúc đầu tôi sợ thật tình, nhưng khi nói chuyện về học hành, chuyện sách vở, tôi quên mất cảm giác sợ hãi. Hai đứa trao đổi nhiều đề tài từ học hành, văn học, đến chuyện khoa học….Ông ngoại vẫn lắng nghe chúng tôi nói chuyện. Khoảng gần một giờ sau, bạn ấy cúi chào và xin phép ra về. Khi bạn ấy ra đi khỏi nhà, ông ngoại tôi khen:”thằng nhỏ học hành được đó, nói chuyện khá, nghe được”.
Từ đó, sau mỗi tối học bài xong, bạn ấy hay qua nhà tôi nói chuyện, dưới sự cho phép của ông ngoại. Nhà tạm cư không gian chật hẹp, chỉ có căn phòng nhỏ, nhất cử nhất động đều nằm dưới sự kiểm soát của ông ngoại. Chúng tôi vô tư nói chuyện, tôi cũng hóm hỉnh đối đáp với kiến thức có được, mang đến nhiều tiếng cười góp vui cho ông ngoại.
Dì Út tôi từ Đà lạt về thăm ông ngoại, tổ chức chuyến đi chơi Ngũ Hoành Sơn. Vài người bạn của bạn ấy, ba người hàng xóm và hai dì cháu tôi đã thành một nhóm tham quan Ngũ Hành Sơn.
Chúng tôi đi Ngũ Hành Sơn, nhưng chủ yếu tham quan Thủy Sơn. Tham quan nhiều đền chùa và hang động. Phong cảnh Ngũ Hành Sơn lúc nào vẫn đẹp, dù đi bao nhiêu lần, lúc nào tôi vẫn thấy khám phá ra nhiều điều mới lạ. Chúng tôi leo lên Vọng Hải Đài. Đứng trên ngọn núi cao, ngắm nhìn bao quát thành phố biển Đà Nẵng, ngắm bãi biển cát vàng vòng cung từ Sơn Chà đến Non Nước. Trời xanh và biển xanh, xanh ngắt một màu, mây trắng lững lờ trôi, ngọn núi Sơn Chà vươn dài ra biển, quang cảnh Vịnh Đà Nẵng thật đẹp như tranh. Nhìn về hướng đông nam là đảo Cù Lao Chàm, những đàm chim hải yến bay lượn dưới bầu trời xanh trong.
Chúng tôi đến thắp nhang ở chùa Linh Ứng và chùa Tam Thai. Chúng tôi đến động Huyền Không, đây là động lớn nhất của Ngũ Hành Sơn. Động nằm lộ thiên và có cấu trúc độc đáo ấn tượng với máy vòm bình tròn thông qua bên ngoài nên luôn tràn ngập ánh sáng. Bạn ấy quỳ cầu nguyện trước tượng Phật Quan Âm Bồ tát rất lâu. Tôi hỏi:
- S cầu nguyện xin gì mà lâu quá vậy?
Bạn ấy cười bảo:
- Bí mật.
Theo truyền thuyết, chúng tôi hứng nước trong thạch nhủ uống, với hy vọng mang nhiều may mắn trong cuộc đời.
Dù đến Ngũ Hành Sơn nhiều lần, nhưng không lần nào tôi dám xuống tham quan Động Âm phủ, nghe nói có con đường tối om và những hình dáng tượng đáng sợ dẫn xuống, tôi sợ không dám bước vào. Chúng tôi đã chụp rất nhiều hình, có một vài tấm hình tôi còn giữ đến ngày nay.
Chúng tôi ngày càng thân thiết nhau hơn, thỉnh thoảng bạn ấy nhờ em trai mang qua một bài thơ nhỏ hay một lá thư cho tôi. Bạn ấy viết lưu bút cho tôi, với những tình cảm thân thương của tuổi học trò, những mơ ước tương lai của chàng trai nhiều hoài bảo. Thời gian chia ly cũng đang đến gần. Bạn ấy và gia đình quay về lại Quảng Trị, tôi cùng ông ngoại vào định cư Nha Trang. Trước khi chia tay, bạn ấy tặng tôi một tấm thiệp có hình hoa Pensée (Pansy) màu tím với những tình cảm thiết tha.
Ngày chia tay đã đến. Sáng sớm hôm ấy, nhà bạn ấy trở về Quảng Trị. Cả nhà gói ghém đồ đạc và di chuyển trên một chiếc xe tải lớn. Trời còn tối, tôi và dì Út ra bên hiên nhà tiễn bạn ấy, bạn ấy ngồi trên xe tải pha đèn pin đến chổ tôi đang đứng. Tôi đứng đó vẫy tay chào tạm biệt bạn ấy và gia đình. Bạn ấy pha đèn pin và nhá đèn pin nhiều lần để chào tạm biệt tôi và dì Út. Chiếc xe chạy xa dần và mất hút trong bóng đêm. Tôi nhận thấy một cái gì đó vở vụn trong tôi, tôi không cầm được nước mắt. Tôi sẽ khó gặp lại bạn ấy. Bạn về quê Quảng Trị, còn tôi vào Nha Trang, địa chỉ không rõ ràng, có thể nói là chưa có, không có manh mối nào để có thể liên lạc cho nhau. Sống trong thời buổi loạn lạc, đầy bất trắc và tạm bợ này, xa nhau xem như là mất nhau, khó mà gặp lại.
“Nàng đứng ngóng, vẫy tay buồn thê thảm
Ánh đèn pin tôi viết chữ phân ly
Lòng nghẹn ngào, mắt ứa lệ hoen mi
Tình trong trắng như pha lê tan vỡ”
(Nam Hải Trường Sơn)
Năm 1977, bạn ấy đến thăm tôi tại Ký túc xá trường Đại học Kinh Tế TPHCM. Dáng vóc bạn ấy vẫn như ngày nào, vẫn vui tính và dí dỏm, tôi và bạn ấy ngồi nhắc chuyện ngày xưa. Nhưng tôi biết bạn ấy bây giờ đã khác xưa, bạn ấy đã có người yêu mới. Chúng tôi bấy giờ xem nhau như những người bạn thân của ngày xưa còn bé. Tôi trân trọng tình cảm của bạn ấy, giữ gìn những kỷ niệm, những ngày tháng xưa tươi đẹp và trong sáng.
Thời gian không dừng lại, như nước trôi qua cầu, đi đi mãi không bao giờ trở lại. Con người đã thay đổi, nhưng kỷ niệm xưa vẫn còn đó, nó đánh dấu một khoảng đời mà chúng tôi đã có nhau. Tôi mượn tạm mấy câu thơ của một nhà thơ để kết thúc.
“Duyên dang dở để ngàn thu nhung nhớ
Mộng trinh nguyên trôi vạn kiếp tồn lưu
Hạnh phúc tuổi thơ thiên trường địa cữu
Xin giữ gìn năm tháng đã có nhau!”
(Nam Hải Trường Sơn)
Trích thêm trọn bài thơ của bạn tôi ngày xưa.
 
TRINH NGUYÊN 
 
Ngó dòng chữ ghi đầu trang sách nhỏ
Ngậm ngùi thương gió cuốn bụi thời gian
Nét mực xanh, giấy thắm đã phai tàn
Quanh ký ức bồng bềnh năm tháng cũ
 
Nhớ mãi mái trường xưa, người tố nữ
Bài Anh văn cả bốn lớp thi chung
Nàng thủ khoa nên hứng thú vô cùng
Hoa vương miện phút giây thành hiện thực
 
Thua (một phần tư điểm) cứ ấm ức
(Ai đường đường là bực đại tu mi
Lại cam tâm lép vế “tiểu oa nhi?”)
Nên phóng bút hiên ngang đòi hỏi đố
 
Lời Shakespeare trong vở kịch xưa cổ
Chàng Hamlet: “To be or not to be?”
Đặt vấn đề sống chết với hoài nghi
Rồi “Tồn tại hay không? Mất hoặc có?”
 
Thành dấu ấn khởi đầu duyên hạnh ngộ
Tuổi học trò từ đó lắm mộng mơ
Cát hong vàng, biển động... cũng nên thơ
Ôm đàn hát ru trăng sao huyền ảo
 
Thiệp chúc Tết chua thêm dòng áo não
“Giọt sương xuân thấm lạnh lòng núi non.”
Lời tỏ bày trong mấy chữ cỏn con
Mong gói trọn phiến tình son bàng bạc
 
Nàng trả lễ bằng ngôn từ đài các
Bảo rằng tôi nên “gột rửa” tư duy
Như thể yêu là bệnh dịch hiểm nguy
Và con nít chớ điên rồ, xuẩn ngốc
 
Tôi khấn nguyện “tiểu oa nhi” nhiễm độc
Để tặng nàng phương thuốc giải tương tư
Cứu giai nhân như một đấng y sư
Nhưng lưu bút cứ ghi “mình trong sáng”
 
Bờ Non Nước nàng cười như tiên giáng
Động Ngũ Hành tôi dệt mộng Thiên Thai
Núi Sơn Chà hai đứa nhập Bồng Lai
Tình yêu đến tím khung trời Đà Nẵng
 
Nguồn thương nhớ long lanh chùm hoa nắng
Chuỗi ngày vui như ảo ảnh hoàng lương
Cuối dòng... sông chẻ nhánh rẽ đôi đường
Ngày tiễn biệt bình minh còn hắc ám
 
Nàng đứng ngóng, vẫy tay buồn thê thảm
Ánh đèn pin tôi viết chữ phân ly
Lòng nghẹn ngào, mắt ứa lệ hoen mi
Tình trong trắng như pha lê tan vỡ
 
Duyên dang dở để ngàn thu nhung nhớ
Mộng trinh nguyên trôi vạn kiếp tồn lưu
Hạnh phúc tuổi thơ thiên trường địa cữu
Xin giữ gìn năm tháng đã có nhau!
 
Nam Hải Trường Sơn
Mến tặng Thu Sương
Canada, giữa một mùa hạ nhớ gió cát Đà Nẵng
NTTS, 12/6/2020.
 
Truyện ngắn: ÁNH MẮT YÊU THƯƠNG
Câu chuyện xảy ra ở một tỉnh địa đầu giới tuyến trước Mùa hè đỏ lửa 1972.
Nguyễn Thị Thu Sương.
 


Hương là tên một cô bé đang học lớp đệ thất tại trường Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị - ngôi trường công lập danh giá nhất trong tỉnh hồi đó.Hương có cô bạn rất thân cùng lớp tên Lài, hai đứa lúc nào cũng bên nhau.
Mỗi ngày, hai đứa cùng nhau đến trường. Sau khi học bài xong, Hương hay qua nhà Lài chơi, lúc nào cũng mang theo đồ ăn vặt, khi thì ô mai, cóc chua hay ổi dầm. Lài quê ở Bình Định theo cô ruột ra Quảng Trị học. Nhà cô của Lài là một cửa hiệu buôn lớn bán len, áo len, vali, túi xách… Cô của Lài là thiếu nữ xinh đẹp, được cưới về làm vợ thứ cho một chủ tiệm buôn lớn người Hoa. Người vợ cả cũng người Việt Nam nhưng bà không sanh con được. Cô Lài sanh cho ông ba người con: hai trai và một gái. Người con trai cả có thể gọi là đại thiếu gia hồi đó. Anh thừa hưởng nét đẹp và dáng vóc của cha, đẹp trai, cao lớn và học giỏi. Anh là học sinh cùng trường với Hương và Lài, sau khi tốt nghiệp tú tài hai anh vào Huế học Đại học Sư phạm khoa Hán văn. Hồi đó, theo lời kể của Lài, anh có yêu một cô gái xinh đẹp, là anh em cô cậu với anh ( mẹ của cô gái là em gái cùng mẹ khác cha của anh). Anh dự định tốt nghiệp đại học là thưa chuyện với mẹ cô gái xin cưới cô gái . Nhưng khi ngõ lời cầu hôn, mẹ cô gái không đồng ý, bảo gia đình cô ấy đã dự định gả cho một gia đình khác ( thực sự vì gia đình nghĩ bà con). Anh thất vọng buồn bã, sinh bịnh, thêm phần tức giận, anh đã thổ huyết. Sau đó, anh từ giã gia đình vào chùa tu ở Huế. Theo Lài kể, gia đình can gián và năn nỉ anh trở về, nhưng anh từ chối. Hai năm sau, cô bạn gái cũng kiên quyết từ hôn vào chùa năn nỉ anh về. Anh không về và nói rằng anh đã có duyên với Phật và nguyện sẽ đi tu suốt đời.
Khi Hương đến chơi nhà Lài, anh đã xuống tóc đi tu được khoảng ba năm; lúc đó anh hai mươi bảy tuổi. Những lúc anh từ Huế về thăm nhà, Hương tò mò theo dõi anh. Đối với cô, trong nhà có người đi tu cũng là chuyện lạ và điều đặc biệt là anh quá đẹp trai. Trong mắt cô bé mười hai tuổi, anh quá hoàn hảo, không hiểu sao lại bị từ chối hôn sự. Những lúc anh về thăm nhà, Hương và Lài chú ý theo dõi anh. Hai đứa qua căn gác gỗ đối diện với căn phòng bên lầu đúc của anh, nhìn qua khe cửa xem anh làm gì. Sau giờ cơm (anh thường được dọn cơm riêng), ăn xong anh lên lầu. Hương vẫn dõi mắt nhìn theo. Hình như anh biết được sự chú ý của Hương, khi lên lầu, anh mỉm cười nhìn lại. Hương quay mặt đi, dấu sự hoảng hốt của mình.
Anh Sanh người con trai thứ hai và chị Khánh cô em gái út rất thương mến Hương. Hai anh chị đã dạy thêm Anh văn cho nhóm bạn học của Lài và Hương. Thỉnh thoảng Hương được Lài cho xem những bài thơ tình của anh Sanh tặng người yêu, anh làm thơ thật hay và lãng mạn. Lài bảo anh Linh (tên của người đi tu) làm thơ cũng hay lắm, nhưng hai đứa chẳng bao giờ được đọc bài thơ nào. Với Hương anh vẫn là anh trai của Lài, cô không quen gọi là Sư. Cô cũng không hề bắt chuyện với anh, không tiếp xúc với anh bao giờ. Cô chỉ đứng đằng xa ngắm nhìn và ngưỡng mộ anh thôi.
Mùa hè đỏ lửa 1972 xảy ra, tan tác và xa nhau. Lài đã về lại Bình Định, anh trở về chùa và lưu lạc ở đâu, cô không hề biết tin tức.
Năm 1978, lúc ấy Hương đã là cô sinh viên năm thứ hai của trường Đại học Kinh tế ở Sài Gòn. Khi đang chờ xe buýt đi học trước ký túc xá 135 Trần Hưng Đạo, quận 1, cô gặp lại anh Linh. Anh bây giờ là một nhà sư mặc áo vàng. Vui mừng quá, cô kêu lên:” anh Linh!” Mọi người quay lại nhìn cô, chắc họ ngạc nhiên khi nghe cô gọi tục danh một nhà sư. Họ đâu biết trong mắt cô, lúc đó anh vẫn là anh Linh thưở nào ở Quảng Trị mà thôi. Anh thật đẹp và dáng vẻ thanh cao. Hương nhìn anh với ánh mắt bối rối, trong lòng thấy xao xuyến rung động, cô đã trở thành cô thiếu nữ mười chín tuổi, không còn cô bé ngây thơ ngày nào. Hương bắt gặp ánh mắt trìu mến và yêu thương của anh. Hương thấy choáng ngập trong ánh mắt đó, lòng mơ hồ nhen nhúm một hy vọng mong manh.
Sáu năm trôi qua với nhiều biến động, anh bảo Lài đã lập gia đình và có hai con, hiện đang ở Bình Định. Khi xe buýt đến, anh chỉ kịp nói:“đến thăm anh ở chùa Lăng Ông Bà Chiểu”. Hương cũng không kịp hỏi tên xuất gia của anh.
Gặp lại anh, cô rất vui và xúc động, cô muốn đến thăm anh ở chùa. Nhưng cô sợ tình cảm của mình. Cô nhớ lại lời Lài kể, cô người yêu đầu tiên của anh -mà anh đã yêu rất sâu đậm đã vào chùa năn nỉ anh trở về nhà nhưng anh kiên quyết từ chối. Vậy cô là gì? Cô chỉ là cô bé nhỏ mười hai tuổi, bạn học của em anh ngày xưa, có gì mà hy vọng anh dành tình cảm ưu tiên cho mình? Để mong níu kéo anh, đưa anh quay về cuộc sống đời thường? Cô thấy mình thật nông cạn và viễn vông. Cô quyết định gạt bỏ tình cảm riêng của mình, không đến chùa thăm và làm phiền anh. Nếu cô có đến chỉ làm mình thêm tổn thương mà thôi. Tuy nhiên, ánh mắt yêu thương của anh vẫn theo cô. Những khi gặp đắng cay, phụ bạc trong cuộc đời, cô vẫn nhớ ánh mắt của anh, vẫn tự nhủ và động viên mình, rằng vẫn có người đàn ông đẹp và thanh cao cho cô ánh mắt yêu thương ngọt ngào. Một hạnh phúc mà suốt đời cô không bao giờ quên. Cô yêu anh một tình yêu thuần khiết và lý tưởng.
Nhiều khi cô cũng thấy hối hận, phải chi ngày ấy cô đến chùa thăm anh, thì bây giờ cô đã giữ liên lạc với anh, biết tên xuất gia của anh. Hơn ba mươi năm qua, cô mất liên lạc với người bạn thân thuở nhỏ của mình, chỉ biết Lài về Bình Định, nhưng cụ thể địa chỉ ở đâu, cô không hề biết .
Trong một lần cô đọc tập san “Chân dung và Kỷ niệm” của Trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị, cô thấy bài thơ của chị Khánh, lần theo địa chỉ và số điện thoại của chị Khánh, cô đã liên lạc với Lài. Hai đứa mừng rỡ gọi điện cho nhau, hỏi thăm và kể cho nhau nghe những thăng trầm cuộc sống sau một thời gian dài xa cách. Hương có được số điện thoại của anh, Hương gọi điện hỏi thăm và xin địa chỉ để đến thăm anh. Hương nhắc đến cuộc gặp gỡ hơn ba mươi năm về trước ở đường Trần Hưng Đạo Sài Gòn. Anh vẫn nhớ cuộc gặp đó, anh nói anh xúc động trước nhan sắc xinh đẹp của cô ngày ấy và anh cảm nhận được tình cảm cô dành cho anh. Anh mong muốn cô đến thăm anh. Thỉnh thoảng khi ra ngoài anh bắt gặp một hình dáng một cô gái tóc dài, anh cứ tưởng là Hương. Hương không ngờ ánh mắt thương yêu của anh ngày nào là có thực, không phải là sự tưởng tượng của chính mình. Cô cũng thú nhận sự xúc động chới với trước ánh mắt của anh. Cô nói không dám đến thăm anh.
Lài vào khám bệnh ở Sài Gòn, hai đứa thuê xe, rủ thêm nhiều bạn bè và Phật tử về Bà Rịa lên một ngôi chùa trên núi thăm anh. Mặc dù, anh bây giờ đã sáu mươi lăm tuổi đã là một đại lão hòa thượng, nhưng nét đẹp thanh cao vẫn còn đó. Bây giờ cô phải gọi anh là Sư. Sư tu biệt lập ở một cóc lưng chừng núi, hàng ngày mỗi bữa trưa có đệ tử mang cơm đến, bữa tối nhịn ăn, chỉ ăn nhẹ vào bữa sáng. Sư ăn gạo lứt để chữa bịnh. Tinh thần rất tốt, tu yên tĩnh trên núi, làm thơ, nghiên cứu về Phật pháp, Sư đã hoàn thành tiến sĩ về Phật học, thỉnh thoảng dạy Phật pháp cho chùa. Sư tu theo phái Phật Nam tông, phái tu khổ hạnh, sống cần kiệm và khiêm tốn về vật chất.Nhìn thấy Sư sống khiêm nhường trên núi, tự lo sinh hoạt mặc dù tuổi đã cao, Lài đã rớt nước mắt thương cảm, Lài nói với cô rằng ai ngờ một đại công tử ngày xưa mà bây giờ sống khổ như thế. Hương nói rằng Sư tự chọn cách sống của mình, sống với tinh thần Phật pháp mà thôi.
Anh tặng cho cô một tập thơ do anh sáng tác, trong đó có tấm hình anh chụp hồi ở Quảng Trị. Nhìn hình cô thấy lại hình ảnh của anh ngày nào.
Hương thỉnh thoảng gọi diện hỏi thăm sức khỏe của anh và không dám làm phiền sự tu hành của anh.
Hương đã yêu anh một tình yêu chân thành trong sáng, cô muốn đấu tranh tình cảm của mình với tình yêu của anh dành cho Đức Phật. Hương có sự giành xé đấu tranh trong tình cảm của mình. Nhưng cô biết không thể thắng, anh đã chọn lựa đạo Phật. Anh cũng đã rung động trước cái đẹp thanh xuân và tình yêu trong sáng của cô, nhưng chỉ giới hạn ở đó. Tình cảm giữa hai người là chân thực nhưng không thể đến với nhau. Hương xem đó là tình cảm đẹp nhất, thuần khiết nhất, cô luôn gìn giữ trong lòng và nguyện mãi tôn thờ tình cảm đó. Đó là một tình yêu lý tưởng.
NTTS, 24/2/2021.

 

 

ĐỒNG ĐỀN - BÌNH TUY, HỌC TRÒ TRƯỜNG HUYỆN ĐI THI Nguyễn Thị Thu Sương

1. ĐỒNG ĐỀN - BÌNH TUY 
Nguyễn Thị Thu Sương.
Năm 1974, Động Đền nơi ba mạ tôi sống, là một dãy nhà tạm bợ cho những người dân Quảng Trị di cư vào đây. Mái nhà và chung quanh tường lợp bằng lá buông. Thiếu thốn tiện nghi sinh hoạt, tôi thấy thương dân Quảng Trị mình. Thương gia đình tôi, phải sống tạm bợ như thế này trong gần một năm. Trước khi được chính phủ chia đất và có nhà riêng của mình.
Từ Cam Bình, cả nhà đi bộ leo dốc trên con đường đất đỏ, đi khoảng hai cây số đến vườn của tôi. Chính phủ chia đều mỗi hộ gia đình là một ngàn mét vuông đất để làm lô gia cư cất nhà và vườn. Chia thêm một ngàn mét vuông làm rẫy canh tác. Ở đó, ba mạ tôi đã xây xong một căn nhà nhỏ.Nhà lợp bằng Fibro ciment được chính phủ cấp. Chung quanh nhà ốp lợp bằng lá buông, loại lá phổ biến ở vùng này. Căn nhà nhỏ cũng đủ cho một bàn học đặt tại phòng ngoài thay cho phòng khách. Bên trong đặt được ba gường ngủ cho cả gia đình gồm hai người lớn và năm chị em chúng tôi. Phía sau là nhà bếp và nhà tắm. Còn khu vệ sinh thì nằm phía sau khu vườn. Vườn rộng cả ngàn mét vuông, ai cứ tự tiện xách theo cái cuốc hay vào nhà vệ sinh thì tùy chọn.
Sau khi chuẩn bị tương đối ổn, gia đình tôi dọn về Sơn Mỹ, nơi ở mới của gia đình. Ba tôi trồng chung quanh nhà những bụi sả to, để phòng ngừa không cho rắn vào nhà. Người ta nói rắn rất sợ mùi sả. Thế mà sau hai tháng, bụi sả phát triển tốt, em trai tôi phát hiện một con rắn lục nằm khoanh tròn trong đó. Cả nhà tôi cười vang!.
Trước sân nhà, ba tôi trồng một đám bông vạn thọ lớn, bông vạn thọ nở vàng rực cả một khoảng sân. Hai bên lối đi vào nhà, ba trồng rất nhiều hoa mười giờ. Sáng sáng hoa hé nở vào khoảng mười giờ hoa tím, đỏ rở rộ khắp lối đi rất đẹp. Bên hông nhà, ba tôi chừa lại một cây thị rừng rất to và cao. Vì cây thị cao quá mà không có cách nào để leo lên. Tôi chỉ ngước mắt nhìn lên và mong “thị ơi! rớt bị bà già!”. Nhìn những con sóc nhảy nhót trên cành thị, tôi nghĩ khả năng trái thị còn không nhiều. Sáng ra, vài trái thị rớt xuống đất, tôi nhặt lên bỏ trên bàn học để ngửi mùi thơm của nó.
Hàng rào trước cổng nhà, có loại dây leo có trái rất lạ, hỏi ra tôi mới biết đó là đậu rồng. Đậu rồng có thể hái vào luộc và xào lên ăn rất ngon. Loại cây này ở đây mọc hoang rất nhiều, tự nó mọc lên chứ chẳng ai trồng cả. Đây là vùng đất mới khai hoang, những mùa đầu đất còn tốt, cây trái rất được mùa. Ba mạ tôi đi dạy học nên cũng không trồng nhiều cây trái trong vườn. Nhà chỉ trồng khoai, sắn, khoai tía, đậu xanh, đậu phụng và bắp đủ ăn mà thôi.
Nhà tôi ở trên một ngọn đồi khá cao. Tối đến nhìn ra phía biển, tôi thấy biển có hàng ngàn ánh đèn lấp lánh như một thành phố đang hoạt động náo nhiệt ngoài kia. Ba tôi giải thích đó là thuyền thúng đánh bắt mực ban đêm của ngư dân. Hình ảnh thật đẹp và vui mắt. Trong không gian tĩnh mịch của vùng quê không có ánh đèn điện, những ánh đèn đằng xa kia làm tôi thấy ấm lòng và vui lên. Chúng tôi vào vùng khẩn hoang lập ấp này, coi như xa rời ánh điện. Các thiết bị điện tử như quạt máy, bếp điện và bàn ủi điện coi như “thất nghiệp” đóng gói cất kỹ. Tối tối chúng tôi học bằng đèn măng-sông (gas mantle), cũng tạm ổn. Nhưng thiếu các tiện nghi khác cũng cảm thấy rất khó chịu. Ngày trước tôi chỉ cắm điện vào là ủi nhanh một bộ áo dài. Nhưng bây giờ tôi phải quạt than đỏ bỏ vào cái bàn ủi con gà. Rồi đợi nó nóng mới ủi được, ủi một bộ đồ mất nhiều thời gian và công sức.
Nước uống cũng là một vấn đề khó khăn. Nhà tôi ở trên đồi cao, mạch nước dò rất khó, cả xóm chỉ có một giếng bơm nước của UNICEF tài trợ. Mọi người phải canh giờ nhau mới có nước. Ba tôi thuê một xe bò bỏ một thùng phi to trên đó chứa nước chở về nhà. Cả nhà tôi dùng bốn thùng phi chứa nước để ăn uống và dùng sinh hoạt.
Trên đây là cảm nghĩ của cô bé mười sáu tuổi trở về nhà, về Động Đền của những năm cuối 1974.
Sau 30/4/1975, Động Đền khó khăn và cuộc sống của dân Quảng Trị ở đây lầm than và khốn khổ hơn. Người dân không có nhiều phương hướng làm ăn sinh sống. Kẻ trở về quê nhà Quảng Trị, còn người ở lại bắt đầu làm rẫy, phát quang để trồng trọt.
Gia đình tôi ở lại vùng đất Động Đền này, mẹ tôi tiếp tục đi dạy học. Riêng ba tôi là quân nhân biệt phái nên chính quyền mới không cho dạy học. Ba tôi cũng không quen lao động, những ngày đầu gặp nhiều khó khăn. Những gia đình khác bắt tay vào rừng khai phá lô đất mà chính phủ trước đây cấp làm rẫy. Người ta tiến hành cặt cây, phát rẫy để trồng trọt. Nhà tôi chiêu yếu, các em còn nhỏ nên chưa bắt tay vào làm. Một hôm được tin, bộ đội đã đi vào rẫy của nhà tôi gỡ một trái mình đã gài trước 1975. Thật hú hồn, nếu nhà tôi siêng năng đi làm sớm, chắc có tai nạn thương tâm xãy ra!.
Phá rừng, không có nhiều cây để giữ những cơn mưa rừng và nước cuốn trôi những đất màu mỡ. Đất trở nên bạc màu, mùa màng không thu hoạch được bao nhiêu. Có một số gia đình ở Động Đền bắt đầu di cư vào Miền Tây. Nhưng dân đồng bằng không thể thích nghi dễ dàng với miền sông nước. Họ thất bại không thể sống ở vùng sâu vùng xa của Miền Tây. Dân di cư Quảng Trị lại tiếp tục ra đi tìm miền đất sống. Sau này họ nhận thấy vùng Miền Đông Nam bộ có thể lập nghiệp được. Ở vùng Miền Đông Nam bộ, đất tốt, người ít, mọi người tham gia vào các nông trường cao su. Họ nhận thêm đất để trồng cây và canh tác. Có một số gia đình di cư lên vùng đất mới Tánh Linh, Đức Linh. Ở đó, có ruộng nước, dân mình có thể canh tác trồng lúa. Cuộc sống người dân di cư Quảng trị dần dần ổn định hơn.
Sau 1975, nhiên liệu để chạy máy bơm nước từ giếng lên không còn. Nắp giếng được mở ra, mọi người múc tay nước từ giếng lên. Giếng sâu ba mươi mét, múc một gầu nước từ giếng lên chỉ còn gần nửa gàu, dọc đường va chạm nó đổ gần hơn nửa. Múc gần nửa tiếng mới đầy thùng nước. Đó là ngày thường, còn ngày khô hạn thì khỏi nói, sắp hàng múc nước mệt mỏi vô cùng. Tôi phải tập gánh nước, trước đây bơm từng thùng phi thuê xe chở về nhà, nay tất cả đã khác. Đầu tiên, tôi gánh một góc thùng, vai đau quá. Tối về vai tôi đau không chịu nổi. Nhưng hôm sau, tôi vẫn phải cố gắng để tập gánh. Dần dần vai tôi quen rồi, nâng dần lên một nửa thùng, rồi hai phần thùng, cuối cùng là cả thùng. Phải mất gần hai tháng tôi mới gánh thành thục đôi nước và có thể trở vai nhẹ nhàng.
Chính quyền mới kêu gọi mọi tầng lớp trong xã hội tham gia các đoàn thể. Thanh niên nam nữ thì tham gia Hội Thanh niên. Thiếu niên trẻ con vào Đội Thiếu niên. Nông dân vô Hội nông dân. Người già vào Hội phụ lão. Trong một tuần có khi kêu họp đến hai ba lần.
Lúc chưa đi học, tôi tham gia Hội Thanh niên. Có chị ở cạnh nhà, hồi trước ở quê có vào du kích nên chị thuộc nhiều bài hát cách mạng. Các anh chị thì đem các bài hát thời đấu tranh sinh viên ra hát. Trong thôn có anh tham gia Đoàn Văn công tập cho nhóm nữ một bài múa Cách mạng. Các em trai tôi vào Đội thiếu niên, chơi trò chơi và hát múa bài “Cùng nhau múa chung quanh vòng”. Kết quả em trai bị một thằng nhóc trong xóm lây ghẻ ngứa. Rồi nó về lây cho những đứa em khác. Tôi không biết thằng nhóc đó bị ai lây ghẻ. Nếu truy lùng có lẻ F0 là các chú bộ đội trong rừng lây ra cho dân, cũng bằng bài múa đó. Vì bị lây ghẻ, kèm với điều kiện xà bông thời đó khá hiếm nên cả Động Đền hồi đó bị ghẻ ngứa rất nhiều. Tôi nhờ đi học xa nhà nên thoát khỏi bị bịnh dịch này.
Tình hình nước uống ở Sơn Mỹ càng lúc càng khan hiếm, sau này nhà tôi quyết định về Cam Bình sống. Nơi ấy thấp hơn, nước dễ có hơn, nhưng đổi lại nguồn nước không trong sạch như trên cao này.
Nhà tôi bỏ lại khu vườn và đất rẫy của mình ra đi. Về Cam Bình, gia đình tôi mua miếng đất một ngàn mét vuông có một căn nhà gỗ rộng, đẹp hơn hẳn căn nhà cũ. Ngoài ra, có một ngàn mét vuông đất rẫy để canh tác. Cuộc sống thoải mái hơn, nhưng đối với mẹ tôi thì tài sản dần dần đội nón ra đi. Lương giáo viên không được bao nhiêu, tiêu chuẩn mười ba kí gạo. Nhưng thực tế chỉ nhận ba hoặc bốn kí, còn lại kèm theo khoai sắn. Ba tôi vào hợp tác xã nông nghiệp của thôn. Thôn không có ruộng, đa số là đất rẫy, chỉ chủ yếu trồng khoai sắn. Ba tôi trước đây là giáo viên, việc làm nông không quen, nên năng suất cũng không cao, ít công điểm . Khi chia phần theo công điểm, nhận về chẳng được bao nhiêu. Với số lương thực ít ỏi đó làm sao đủ ăn cho cả nhà. Hồi đó tôi và các em đang học ở trường cấp III Hàm Tân. Vì thế, mẹ tôi phải bán dần tài sản chắt chịu, số tài sản vơi dần đi.
Thời kỳ ấy, nhà nước có chính sách ‘tự cung tự cấp”. Nơi nào sản xuất sản phẩm gì, tiêu thụ sản phẩm ấy, còn công việc phân phối do nhà nước phụ trách. Ở Bình Tuy đánh bắt hải sản nổi tiếng cả nước, các hải sản như cá, tôm, mực rất nhiều. Vùng này sản xuất nhiều khoai, sắn, bắp nhưng gạo thì rất ít, vì thế giá gạo rất cao. Nhà nước cấm giao lưu mua bán giữa các vùng. Các dân buôn Bình Tuy mang cá tươi và mực khô vào Sài Gòn bán bị công an kinh tế bắt tại các trạm kiểm soát. Ngược lại, dân buôn Sài Gòn mang gạo từ Miền Tây ra bán cho Bình Tuy cũng bị bắt tại trạm gác Liên Tỉnh. Nhà tôi có bữa nấu cháo loãng gạo cho cả nhà, nhưng có thể ăn với ba đến bốn ký cá nục hoặc cá bạc má luộc chấm nước mắm. Có lúc ăn cá kho với một rổ khoai luộc hoặc một nồi bắp tươi trừ cơm là chuyện bình thường.
Ba năm sau, không thể kéo dài mãi tình trạng này, nhà tôi mua một miếng đất ẩm gần đó. Đó là một khu vườn người ta đã trồng tương đối đầy đủ các cây lâu năm: ổi, dừa, xoài, mảng cầu và chuối. Vườn có một thửa đất trồng lúa sau nhà. Mảnh vườn này thấp, nên quanh năm đất ẩm, không cần tưới nước. Cây cối mọc sum sê, các mảnh đất nơi khác khô cằn nên nhiều loại rắn tập trung sinh sống ở đây. Nhà tôi sống chung với lũ rắn!. Trên nóc nhà thỉnh thoảng có vài ba con rắn uốn lượn, gường trước khi ngủ phải đập đề phòng có rắn ở trong. Tôi đi học ở Sài Gòn về không biết, sáng ra hí hửng định leo lên cây hái ổi. Nghe tiếng gì thổi phù phù, nhìn lên hai con rắn hổ đang phóng cái lưỡi dữ dằn của nó về phía tôi. Mất hồn, tôi chạy vào nhà nói với em gái tôi. Em gái tôi nói:” chị muốn hái ổi, phải cầm một cây gậy, gõ vào gốc cây cho rắn bò đi chị mới leo lên được”. Ở nhà tôi tất cả làm gì cũng phải báo động trước cả. Muốn hạ quày chuối xuống, phải đưa cây chọc vào buồng chuối rắn lục trên buồng chuối bò ra, mới cắt chuối được. Nói chung, lúc nào cũng có cái cây đi kèm theo. Lúc đầu, tôi thấy thật khủng khiếp, nhưng rồi quen dần, tôi nhận thấy cần phải chung sống hòa bình với lũ rắn. Ta không đụng nó thì nó vẫn để ta bình an không chuyện gì xãy ra. Có một chiều hè, cả nhà ra mương bên hông vườn tát cá. Thấy có bóng dáng con lươn chạy ra, cha con chận tới, chận lui, mới phát hiện ra con rắn không phải con lươn!. Cả nhà hết cả hồn, may không bị rắn cắn rồi!
Nhà tôi nuôi hai con chó để giữ vườn, nhưng vẫn bị cảnh hái trộm cây trái trong vườn do những đứa trẻ nghịch ngợm. Nhờ có khu vườn ẩm, nhà có thể nuôi heo nái, vì có sẳn rau lang quanh năm. Em gái tôi có thể bán các trái cây trong vườn như ổi, xoài, mảng cầu, rau lang để tăng thêm thu nhập. Nghỉ hè, tôi thường về nhà nuôi heo phụ mẹ. Khi các em trai lớn lên đi vào Sài Gòn học đại học. Em gái ra Phan Rang học Cao đẳng sư phạm, chỉ còn ba mạ, nhà trở nên vắng vẻ. Nhà tôi bán mảnh vườn và ra gần đường cái ở. Ba mạ tôi lại lập vườn mới, trồng dừa và cây điều, buôn bán thêm để kiếm sống. Nhà tôi tiếp tục sống ở đây thêm nhiều năm nữa.
Công cuộc tàn phá rừng để làm rẫy, đốt than ngày càng tàn khốc hơn, làm kiệt quệ rừng. Hết rừng, không có cây để giữ những cơn mưa xối xả trên dòng suối. Nó tạo ra xói lỡ hư hại đường sá, mưa cuốn cát từ trên dốc đổ dồn về Cam Bình. Con đường từ Sơn Mỹ đến Cam Bình, chỉ còn lại một rãnh sâu chạy dọc hai bên đường, xe đò không thể chạy được. Con đường từ Cam Bình đển ngả tư Quân Cảnh đầy cát trắng. Không thể chạy xe lam như thường lệ, chỉ còn có xe bò hoạt động được. Các con bò tội nghiệp kéo xe hàng đi từng bước nặng nhọc qua con đường đầy cát trắng. Dân thường và đám học trò chúng tôi chỉ có đi bộ mà thôi. Phải gần mười năm sau, chính quyền mới làm lại con đường để xe cộ lưu thông được như bình thường.
Các em tôi lần lượt tốt nghiệp đại học ra trường. Tôi chuyển công tác từ Nha Trang về Sài Gòn. Sau khi tôi lấy chồng, có hộ khẩu ở Sài Gòn, tôi mới có thể thu xếp đưa ba mạ về Sài Gòn .
Năm 1989, ba mạ tôi giã từ Động Đền về Sài Gòn sinh sống. Kết thúc gần mười bảy năm sống ở đây với biết bao vui buồn và vất vả. Vùng đất này cũng đã cưu mang cho dân Quảng Trị trong những ngày khốn khó. Người dân Quảng Trị được ví như người dân Do Thái, di cư khắp nước Việt Nam. Việc di cư lần này chắc là lần cuối, hy vọng sẽ định cư lâu dài nơi ở mới này. Gia đình tôi đã sống ở Sài Gòn hơn ba mươi năm, một thời gian khá dài. Sống ở đây ta chỉ cần cố gắng chăm chỉ, không sợ bị phân biệt đối xử. Không ai quan tâm anh từ đâu đến, vùng miền nào. Sài Gòn là nơi đất lành chim đậu.
NTTS, 21/4/2020.
 
2. HỌC TRÒ TRƯỜNG HUYỆN ĐI THI
 Nguyễn thị Thu Sương.
 
Bây giờ học sinh không còn phải cực khổ thi đại học, căn cứ kết quả thi tốt nghiệp và nguyện vọng vào các trường đại học, các trường đại học có cơ sở để xét tuyển vào trường. Cách thức xét tuyển vào các trường đại học cũng là một bước tiến dài của việc giáo dục Việt Nam, cũng là trào lưu của thế giới. Tôi chưa xét đến những “vấn đề “ nằm phía sau của cuộc xét tuyển này của chúng ta.
Nhớ cách đây hơn mười ba năm, con gái lớn tôi đi thi đại học. Tôi phải dậy thật sớm chuẩn bị bữa sáng, nấu hủ tiếu cho con ăn. Hôm trước đi chợ mua xương heo hầm để có sẳn nước dùng cho ngày hôm sau nấu hủ tiếu. Ngày trước đó, ba nó đi xe máy đến địa điểm thi xem tình hình, để nghiên cứu đường đi như thế nào cho thuận lợi. Ngày thi, cha chở con đến địa điểm thi, trưa canh đón con gái về ăn uống, nghỉ ngơi một chút rồi chở đến trường thi tiếp. Đó là thí sinh có gia đình ở Sài Gòn, được cha mẹ chăm sóc chu đáo đến trường thi, nhìn các con em ở tỉnh đi thi mới thấy thương và tội nghiệp làm sao!.
Năm 1977, hai năm sau ngày 30/4/1975. Tôi đi thi đại học Kinh Tế ở Sài Gòn. Nhà tôi lúc đó ở Động Đền - Bình Tuy, một huyện nhỏ cách Sài Gòn 170km về phía đông.
Tôi dậy thật sớm để đi được chuyến xe lam đầu tiên chạy hồi bốn giờ sáng về Lagi. Đến bến xe, tôi sắp vào hàng ưu tiên học sinh đi thi đại học. Hồi đó, ai đi khỏi tỉnh, phải có giấy phép đi đường. Tôi phải về trường trung học Cấp III Hàm Tân xin giấy phép đi đường với lý do: đi thi đại học, thời hạn cho phép: đi trong một tuần. Còn những người dân khác phải sắp hàng mua vé rất mệt mỏi, có khi hai hoặc ba ngày chưa mua được vé xe. 
 
Sau khi có vé, chúng tôi leo lên một chiếc xe than. Xe than là chiếc xe chạy xăng hay dầu trước đây, giờ “cải tiến “ qua chạy bằng than. Xăng dầu rất hiếm sau 30/4/1975. Than củi được người dân Động Đền vào rừng cặt cây, làm lò than, cung cấp cho Lagi sử dụng nấu bếp và chạy xe. Đoàn người bán than với ngọn đèn dầu nhỏ treo trên gánh than lầm lũi đi như những ánh ma trơi trong đêm đen ám ảnh tôi cho đến tận bây giờ.
Leo lên chiếc xe than, nếu hên được ngồi vào phía trong, còn xui ngồi phía ngoài gần bình than, nóng hầm hập , thỉnh thoảng than nổ lốp bốp có khi cháy lủng áo hay quần không chừng. Trên xe tài xế chất đầy các giỏ cá tươi và cá khô, nước cá chảy xuống đầu và người đi xe. Xe từ Lagi vào Sài gòn đa số chở cá tươi , mực khô và cá khô . Chủ trương “tự cung và tự cấp” của nhà nước: yêu cầu dân ở đâu sản xuất ra sản phẩm gì thì tự cung cấp và tiêu thụ với sản phẩm ấy. Bình Tuy là ngư trường lớn về đánh bắt cá của cả nước. Ở đây, ngư dân đánh bắt rất nhiều cá và mực. Chắc chắn dân ở đây không thể nào tiêu thụ hết các hải sản đó, người ta phải bán ra tỉnh ngoài mới có tiền mua xăng dầu và ngư cụ để đưa thuyền đánh cá ra khơi tiếp.
Nông nghiệp không phải là thế mạnh của Bình Tuy, đất đai nơi đây không tốt lắm, đất pha cát, chỉ trồng được khoai, sắn và hoa màu. Bình Tuy phải mua gạo các nơi khác mới đủ cung cấp lương thực cho dân. Với chính sách này, dân không có gạo ăn, phải ăn cá bù gạo! Cấm đưa cá và hải sản vào Sài Gòn, cấm mua gạo từ Sài Gòn ra!
Xe than đi Sài Gòn, dù có lệnh cấm chở cá và hải sản vào Sài Gòn, nhưng những người đi buôn chuyến vẫn liều lĩnh mang đi. Họ phải liều, vì cuộc sống mưu sinh cơm áo cho con cái ở nhà, làm nông không đủ sống, không có đủ cơm gạo để ăn. Người phụ nữ tay yếu chân mềm, không lao động nặng được, nên đi buôn chuyến kiếm thêm thu nhập cho chồng con. Hôm nào được tài xế tử tế dấu các giỏ hàng trong xa và khó tìm, qua mặt được thuế vụ và trạm gác thì hôm đó có lời, còn hôm nào xui xẻo bị thuế vụ lôi ra hết, coi như mất vốn. Các chị và các mẹ dấu mực khô, buộc trong người từ chân lên bụng, như người có bụng bầu, qua được mắt thuế vụ là ổn. Sau này, tụi thuế vụ nó biết chiêu này, đưa vào trạm gác kiểm soát, bắt phải vén quần và vén bụng lên, xem như trắng tay!
Từ Lagi, phải qua trạm gác Láng Gòn, sau đó trạm gác 46. Có rất nhiều giỏ cá phải “sạt “xuống trạm, nước mắt ngắn, nước mắt dài năn nỉ khóc lóc của các chị em phụ nữ xin thuế vụ cho qua. Nhưng sắc mặt chúng không thay đổi, vẫn lạnh lùng từ chối, hầu như bọn này ít mủi lòng lắm!.
Xe chạy tiếp trên quốc lộ 1, qua các trạm kiểm soát căn cứ 3, căn cứ 4, căn cứ 5 và các trạm kiểm tra đột xuất dọc đường. Mặc dù, có ăn cánh với tài xế qua các trạm gửi gắm, nhưng vẫn có tình trạng thay đổi người đột xuất. Trạm nào thuế vụ cũng bắt hàng vài ba người, nhiều người trên xe mặt mày lo lâu và khóc sưng đỏ mắt. Ai lọt qua được cũng không lấy gì làm vui mừng khi bạn hàng chung quanh mình mất hàng như thế. Việc kiếm sống và tồn tại không dễ dàng một chút nào, nhiều khi phải đánh đổi nhiều thứ. Có câu hồi đó người ta hay nói:
” Ngày xưa, gái đậu cành mai,
“ Ngày nay gái đậu trên vai bác tài”
Ai đi buôn chuyến đường dài, cũng thấy thấm thía câu nói này!
Khoảng gần bốn giờ chiều, xe chạy vào Sài gòn, coi như mất gần cả ngày. Tôi và hai người bạn về nhà bạn quen cho ở nhờ ở đường Nguyễn Trãi quận 5 . Tôi mang theo một nồi cá kho và ít gạo ăn trong vòng hai ngày đi thi. Sau khi tắm rửa cho sạch mùi tanh cá, chúng tôi ăn uống và nghỉ ngơi. Tối đó, chúng tôi rủ nhau đi ăn chè đậu đỏ, cầu nguyện hôm sau thi làm bài tốt.
Sáng hôm đi thi, tôi dậy thật sớm đi xe buýt lên chợ Bến Thành, từ đây bắt chuyến xe đi tiếp đến chợ Tân Định, vào trường tiểu học Nguyễn Thái Sơn thi. Buổi sáng thi môn Toán, tôi làm bài cũng tạm ổn, có được tinh thần để chiều thi tiếp môn Lý. Hết giờ làm bài, các thí sinh túa ra sân trường như ong vỡ tổ, có bạn làm bài được, gặp người nhà đến đón, nói cười vui vẻ. Có bạn không làm được như ý, không thèm trả lời người nhà, mặt buồn và mắt rưng lệ.
Tôi bước ra khỏi trường, tìm xem phải ăn trưa bằng kiểu gì đây. Vào quán ăn, tôi không dám, vì sợ không đủ tiền về xe. Tôi nhìn quanh, thấy có bác bán bắp nấu, tôi mua mấy trái ăn tạm cho qua bữa trưa. Ăn xong, kiếm một vỉa hè gần đó, ngồi xuống nghỉ ngơi, lấy sức chiều vào thi tiếp. Chiều thi môn Lý, đề lý thuyết ra Tế bào quang điện, phần này tôi nắm bài rất chắc. Phần toán Lý làm cũng tạm được. Thi xong Lý, tôi thấy tăng thêm tin tưởng và hy vọng. Sau khi thi xong, tôi lên xe buýt và trở về nhà bạn.Tối hôm đó, chúng tôi tiếp tục đi ăn chè đậu và cầu nguyện thi tốt môn Hóa cuối cùng.
Sáng hôm sau, thi môn Hóa, tôi làm bài cũng tạm ổn, nói chung về môn này, cũng không gây khó khăn gì lắm cho các học sinh ban Toán, chúng tôi chỉ cần chăm chỉ học bài và nắm vững các cân bằng phản ứng hóa học là có thể vượt qua.
Học sinh những năm sau 1975, sách phải mượn của trường, sau khi thi xong tốt nghiệp, chúng tôi phải trả lại trường. Chúng tôi phải ghi chép bài lại để học. Tôi cũng may mắn được một đàn anh học Nguyễn Hoàng cho mượn bộ sách Toán Lý Hóa của ban Toán để ôn thi. Trong một tháng ôn thi, tôi phải tranh thủ thời gian để làm các bài tập, tập giải các dạng Toán, Lý và Hóa. Tôi miệt mài từ sáng sớm cho đến đêm khuya, chạy đua cho kịp với thời gian.
Học thi vất vả, nhưng thời đó, chỉ có khoai bắp và cá là thức ăn chính, gạo thì hiếm hoi. Cả nhà chỉ nấu cháo một lon gạo với ba bốn ký cá là chuyện bình thường. Nhờ cá và khoai sắn mà người dân Động Đền bước qua được những năm tháng khốn khổ.
Sau khi thi xong, về nhà ngồi chờ kết quả. Thời gian chờ đợi sao mà dài thế!. Mẹ tôi lo lắng, không biết tôi có kết quả tốt không, biết đâu học tài thi phận. Tôi an ủi và trấn an mẹ: “con làm bài cũng được, hy vọng đậu”. Nói thế thôi, chứ tôi cũng lo không biết thế nào. Cảnh nhà ngày càng khó khăn hơn, còn bốn đứa em đang học trung học, hai năm nữa cũng có hai đứa thi vào đại học. Lương giáo viên và tiêu chuẩn lương thực của mẹ ít ỏi, ba tôi không được tiếp tục dạy học vì vướng vào quân nhân biệt phái, lao động nông nghiệp không quen, năng suất không cao. Tài sản gia đình bán dần ăn cũng gần cạn. Gánh nặng cơm áo đè nặng trên đôi vai gầy của mẹ, tôi thấy thương mẹ quá!. Mẹ tôi bàn bạc với tôi:”hay con nộp đơn đi dạy cấp 1”. Tôi hứa với mẹ, hết tháng mà không có kết quả, tôi sẽ nộp đơn xin đi dạy học cấp 1.
May thay, cuối tháng tôi có giấy báo của trường Đại học Kinh Tế TPHCM gọi nhập học. Kết thúc những ngày chờ đợi trong lo âu, tôi đã có hướng đi tốt trong cuộc đời, giảm bớt gánh nặng cơm áo cho gia đình.
NTTS, 27/6/2020.