Hiển thị các bài đăng có nhãn Ảnh- bài TH Triệu Phong Cũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ảnh- bài TH Triệu Phong Cũ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

Ngày Về .Lê Thị Thanh Hằng

NGÀY VỀ
Vài dòng tặng các bạn 6-9/2 K- 67-71

Tôi bước xuống ga Đông Hà với khuôn mặt đầy mệt mỏi vì chuyến đi dài từ Sài gòn ra Quảng Trị. Nhưng với lòng náo nức muốm gặp lại quê hương  sau 34 năm xa cách, nên tôi nhờ ông Xã mượn xe gắn máy chở tôi về ngay làng Cổ Thành ( tức chợ Sãi). Trên đường đi ông Xã tôi giới thiệu cho tôi nơi này là trường Nguyễn Hoàng, đằng kia là chợ Quảng Trị, rồi chùa Tỉnh Hội, đập Rì Rì…. Mối cảnh vật cứ từ từ hiện ra trước mắt tôi kèm theo những kỷ niệm của thời thơ ấu. lòng tôi lại nao nao, tim tôi như thắt lại khi nhìn thấy những quang cảnh xung quanh. Mọi vật vẫn còn đây, nhưng người xưa thì nơi đâu? Xe chạy qua xóm Hà, cầu Sãi, nước của sông Vĩnh Định vẫn lững lờ trôi với một màu đục chứ không còn trong xanh  vì đang mùa nước lũ. Mái đình làng cũng không còn để rủ bóng rêu phong. Và đây là bến Miễu, nơi tụ lại giữa nhánh  sông Vĩnh Định và sông Thạch Hãn, cũng là nơi chúng tôi thường hò hẹn, vui chơi. Ngày đó quê tôi chưa có điện nên những đêm trăng sáng đối với chúng tôi rất là quý báu. 
Đi tiếp một đoạn ông Xã tôi bảo đến nhà rồi. tôi tròn xoe mắt ngạc nhiên nhìn quanh, đây không phải là nhà mình. Đâu rồi chợ Sãi, đâu rồi  cái dãy phố với những căn nhà san sát. Cây đâ, cây bồ đề, ngôi chùa Cổ Thành nơi tôi sinh hoaït gia đình Phật tử nằm ở đâu đây? Tôi hỏi nhưng tất cả đều im lặng. Tôi nghe tai tôi lùng bùng, mắt tôi nằng nặng; ông Xã tôi thấy vậy liền chở tôi qua khu Nghĩa địa chạy ra con đường đất đỏ mà tôi thường đi học. đến khi ông Xã tôi chỉ kia là quận, bên này là trường Triệu Phong, tôi lại càng sững sờ, trường Triệu Phong của tôi đã ngồi miệt mài 4 năm  đấy ư ? Sân trường đi đâu, cái dãy phòng  trong đó có lớp 9/2 của tôi về đâu? Tôi vẫn nhớ trong văn phòng thầy Văn Phong đang ngồi sau bàn Hiệu Trưởng làm việc, quý thầy Hạnh,thầy Hảo, thầy Hóa, thầy Quang… cô Thanh, cô Hoàn đang chuẩn bị lên lớp. Trong lớp 9/2 tôi, Kiệt, Hường, Thuần, ngồi do bài; bên kia có Hường, Hoa, Thủy, làm toán đằng sau các O Nhớ, Tâm, Thạnh bàn chuyện tương lai. Các bạn quê, Hiền, Lâm đứng ngoài sân, còn Bảo,Kim,Ứng, Nọ thì học bài. Bạn Tiễn lớp trưởng chuẩn bị sổ điểm danh. Âm thanh gọi tên như vẫn còn vang bên tai tôi. Nhìn sang bên quận tôi thấy ông lính sĩ quan xấu trai ngày nào theo tôi khi tan lớp đang mỉm cười. tôi giật mình tỉnh giấc khi nghe ông Xã  tôi gọi. Tôi vội ngồi lên xe mà đầu vẫn còn ngoái lại. xin tạm biệt… tôi sẽ trở về…
 Sãi - 10. 2010 
Lê Thị Thanh Hằng 6/2 K-67-71

GIẤC MƠ

Đêm qua tôi nằm mơ
Thấy về lại quê hương
Nơi tôi cất tiếng khóc
Góp mặt với mọi người

Hôm qua tôi lại mơ
Thấy đến trường họp mặt
Quý Thầy Cô tuy yếu
Cũng tươi cười như hoa

Bạn bè xúm xít quanh
Không còn như xưa nữa
Mặt giờ đã hơi mờ
Tóc hai màu tiêu muối

 Như tiếng nói tiếng cười
Vẫn vang vang không ngớt
Gương mặt ngời ngời sáng
Ánh mắt đầy thương yêu

Chỉ là giấc mơ thôi
Sao tôi nghe ấm áp
Tình thân của mọi người
Mãi vẫn còn trong tôi.
Tp. HCM 10/2010 ngày trở lại
Lê Thị Thanh Hằng
(USA)

Thứ Hai, 9 tháng 8, 2010

Khi xa kỷ niệm- L.N. Quế



 

                                   CHS: Lê Ngọc Quế
Lớp       : 6/2 K 67-71
Địa chỉ : Cổ Thành- Triệu Thành- TP
Điện thoại:  053 3663 325  
Email: lengocquevn@gmail.com   





KHI XA KỶ NIỆM
Thời gian trôi đi thật nhanh, mang theo những tháng ngày ấu thơ thời tiểu học trôi đi thật êm đềm, vội vàng mà không để lại trong tôi một ấn tượng gì sâu lắng, ngoài những trò chơi bắn bi, bắt dế hay những chiều tắm mát trên sông…
Rồi đến khi phượng hồng bắt đầu khoe sắc , tôi lại vùi đầu vào ôn tập để chuẩn bị cho một kỳ thi quan trọng nhất đầu đời “Thi đệ thất” , trời không phụ lòng người, Tôi đã trúng tuyển vào trường Trung Học Triệu Phong năm học 1967 với điểm số khá cao.
Ngoài nỗi vui sướng vì được vào trường Công lập, trong Tôi còn giã từ được cái cảnh mỗi ngày phải chuẩn bị 4 cái kẹo BI dúi vào túi quần cậu lớp trưởng to cao để khỏi bị cho điểm xấu. 
Cầu Rì Rì 
Quê tôi ở xóm Hà ( thôn Cổ Thành) , một xóm nhỏ vùng ngoại ô nằm giữa Thị xã Quảng trị và Huyện lỵ Triệu Phong, có hai dòng sông Thạch Hãn và Vĩnh Định bao quanh với những luỹ tre xanh ôm kín đôi bờ, với dòng nước mát lạnh, với những con đò ngái ngủ nằm sát bên nhau, buông lơi mái chèo mỗi khi chiều xuống; hay những bước chân vội vàng , hối hả như chạy trốn ánh nắng chói chang mang theo cái nóng của ngọn gió Lào rít mạnh trong những buổi trưa hè khi đi qua bãi cát Rì RÌ. Những bước chân run rẩy như muốn tựa vào nhau trong cái giá lạnh của những ngày cuối đông.
Đi qua khỏi cầu Sãi chưa đầy 1 cây số là đến trường Trung học Triệu Phong. Tôi xúng xính trong bộ áo quần mẹ mới may cho và ngày khai trường cũng đã đến. Cái nắng buổi sáng mùa thu chưa đủ để xua tan làn sương mỏng còn đọng lại. Ngày đầu tiên bước chân vào trường Trung Học, vẫn không gian đầy ắp tiếng cười, những ánh mắt rạng rỡ, tay bắt mặt mừng sau 3 tháng hè xa cách ,tôi vẫn chưa trút bỏ được cái bỡ ngỡ ban đầu,     đứng ngẩn ngơ, đảo mắt cố tìm kiếm một vài khuôn mặt bạn bè thân quen, nhìn hình ảnh của ngôi trường mình sắp học… 

Xóm Hà bên dòng sông Thạch Hãn

Trường tôi thật khiêm nhường với hai dãy nhà tường vôi, mái ngói, không quá 10 phòng học, 1 phòng Giáo sư, 1 phòng Giám Thị , với cái trống treo lơ lửng bên ngoài. nằm giữa một khoảng không gian không rộng lắm. Sân trường không có những hàng me xanh cho những mảnh tình thơ mộng, cũng không có những hàng phượng vĩ cho lũ ve râm ran mùa hè. Chỉ là một thảm cỏ xanh tươi ngậm chút sương buổi sáng vui đùa theo những bàn chân áo trắng, hay ủ rủ xác xơ vàng úa trong những ngày hè vắng bóng lũ chim non. Chính giữa là cái cột cờ nằm đơn độc như cây bút cắm vào bình nghiên tiếp thêm sức sống cho từng thế hệ đi qua, ghi thêm kiến thức cho những lớp vừa mới đến; phía trước là tỉnh lộ 64 gồ ghề, sỏi đá, phía sau là nhà bác Thơm, người suốt đời tận tụy, chăm chút với tiếng trống trường… Bao quanh là làng Nại Cửu với những mái nhà tranh, những luỹ tre xanh, những luống khoai , bờ ruộng. hình ảnh của một làng quê thanh bình, êm ả; bên hông trường là chi khu Triệu Phong với những hàng rào kẽm gai, những pháo đài, lô cốt… Đây hình ảnh của chiến tranh và chính cái hình ảnh đó đã làm tan nát quê hương , xoá đi vết tích cuả một ngôi trường…
Tôi được phân vào học lớp 6/2. Thầy Phan Thanh Thiên là Giáo sư hướng dẫn của lớp; Thầy cũng vừa là Hiệu trưởng của trường. Thầy có dáng người thanh cao, bước chân thoăn thoắt, nhanh nhẹn, chúng tôi thường gọi đùa Thầy là chiếc phản lực siêu thanh; Thầy Bính là Giám thị với đầu tóc lúc nào cũng bóng mượt chải rẽ về phía sau; Cô Nguyễn Thị Qui dạy Việt văn thật hay, Cô có đôi bàn tay thật đẹp; Thầy Văn Phong dạy sinh ngữ, Thầy hiền, chuẩn mực và rất thương học trò; Cô Bùi Thị Gái dạy Lý Hoá và Toán. Trong lớp có trò quê ở rất xa như Lanh, Hoa ở tận Bồ Bản; bên kia sông Xuân An có Phước, Cuộc; tận Long Hưng xa đến 8 cây số có Văn Thiên Tùng với cái giọng bè bẹ nghe rất vui tai…
Bạn bè thường chơi chung với nhau thành từng nhóm, nhóm Ô MAI mặc váy có chung đường về chợ SÃI như Thanh Hằng, Mỹ Thuần, Hường, Phụng Kiệt; Nhóm XÓM HÀ có Thu Hương, Bích Thuỷ, Như Hoa; Nhóm XOÀI TƯỢNG có các O Thạnh, Tâm, Nhớ; Bọn con trai chúng tôi cũng thế các anh lớn và chững chạc ở nhóm ĐẠI CA Như Hoàng Tiễn ( lớp trưởng), Diện ( lớp phó), Ty, Khang; Nhóm CHIM SẺ nhỏ con như Ứng, Lự, Quốc, Kim A, Thuỷ; Bọn tôi có Quế, Hoàng, Bảo cùng ở chung một chiến hào …
Những khuôn mặt lạ lẫm ngày nào nay trở thành thân quen đến lạ thường. Những giờ học cuối được nghỉ, cả nhóm thường đạp xe về nhà Bảo, Bạt ở Bích Khê leo lên cây ổi ‘sẻ” trồng phía sân nhà rồi chụm đầu vào nhau với đĩa muối ớt vừa mặn lại vừa cay; cũng có lúc về đến Đâu Kênh ,Tân Định đến nhà Phạm Văn Huề, Võ Đích xin những trái bắp tươi sau đó cùng nhau kiếm cỏ khô ngồi nướng, vừa ăn, vừa nhìn nhau nực cười vì miệng đứa nào cũng bám đầy tro bụi…
Trong lớp học cũng không ít trò đùa, ở bàn sau ngồi cột vạt áo trắng dài quý O ngồi bàn trước vào nhau hay vấn giấy gấp lại thành chữ V rồi thỉnh thoảng hỏi thăm cái lưng một bạn gái nào đó là chuyện bình thường… Ở lớp có lẽ sợ nhất là cô Như Hoàn, bạn nào không thuộc bài thì phải dè chừng mười đầu ngón tay, chỉ một cái gõ nhẹ cũng đủ đau đến cả tuần, Cô còn ưu ái tặng thêm hột vịt lộn về bồi dưỡng chẳng khác gì cô Gái đâu: nếu như cô cậu nào trễ học hoặc vắng mặt không có lý do tại sổ điểm danh xem như sổ điểm ăn một hột vịt lộn …Có lần bọn tôi không thuộc bài phải tìm cách thoát thân thôi. Với kinh nghiệm của dân gian, chúng tôi đi kiếm lá Vông xát mạnh vào ghế cô ngồi. Đến giờ học cả nhóm im lặng, hồi hộp , ngồi đợi tín hiệu âm thanh phát ra từ chiếc ghế. Quả đúng như vậy! Hôm ấy cả lớp được học bài mới mà khỏi trả bài cũ … Lại là KỶ NIỆM…
Đến năm lên lớp 7 nhà trường tổ chức cho đi thăm các anh lính biển, chúng tôi tập trung thật sớm ở Bến Miệu - Chợ Sãi, được các Thầy Cô hướng dẫn lên 2 chiếc Hải thuyền từ từ xuôi về Cửa Việt để lại đằng sau một vùng sông nước trắng xoá, thật đẹp và thơ mộng. Thế mới biết quê Mình quá đẹp. Ra đến biển, tàu cứ lắc lư theo từng cơn sóng, biển cả mênh mông mới thấy mình quá nhỏ bé. Biển thật dịu hiền như vòng tay của Mẹ. Quay một vòng, tàu đổ chúng tôi lên chiếc tàu lớn “ Hạm Tử 2”, vừa lên đến tàu đầu óc Thầy trò chúng tôi choáng váng, có bạn chưa kịp nhìn hết những gì trên tàu thì mồ hôi đã vã ra thấm mệt, mặt mày xanh mét, cứ thế nằm tựa vào nhau, có gì trong bụng mẹ cho ăn hồi sáng giờ đem tặng hết cho Boong tàu. Lần đầu tiên chúng tôi tận hưởng cái đẹp của biển như thế đó…
Đến năm lên lớp tám thầy Lê Mậu Duy hướng dẫn lớp, Thầy dạy môn toán tuyệt vời, rất dễ hiểu. Với điếu thuốc luôn cháy đỏ trên môi, Thầy nhả ra những cụm khói, đường cong, đường thẳng, những vòng tròn lớn nhỏ quyện vào nhau… Thầy ít khi cho ăn trứng vịt, em nào bét lắm cũng được nhận 1 cây gậy ( điểm 1), nhưng bù vào đó cái lỗ tai cũng được kéo giãn ra bằng cái “vá”; Thầy Nguyễn Thiện Lữ dạy môn Vạn vật. Ngoài những bài Động - Thực vật, Hệ tuần hoàn, Hô hấp, Bài tiết, cứ sau mỗi bài giảng Thầy thường kèm theo những câu chuyện để chúng tôi lấy làm bài học suốt đời. Có lần Thầy kể về bệnh QUAI BỊ ( má chàm bàm), “các em đừng lấy củ gừng mài xuống đất rồi bôi lên má mà phải đi Bác sĩ, nếu để lâu hai ‘hòn..’ sưng to như quả cam thì nguy cơ dẫn đến vô sinh”; Thầy vừa kể vừa xoè hai bàn tay lên minh hoạ. Cuối lớp có tiếng ai đó nói nhỏ nhưng cũng vừa đủ nghe: “Thưa Thầy bạn T… chưa đau mà nó đã to như quả bưởi rồi”. Cả lớp có một trận cười hả hê hướng về 3 bàn nữ sinh phía trước đang ngồi cúi đầu, mặt đỏ thẹn thùng…Cứ thế giờ học sau cả lớp đề nghị Thầy kể chuyện tiếp để lấy làm bài học cuộc đời cho các bạn gái nữa.
Thầy đồng ý và kể: “Thầy có người cháu gái ở tận Đà Nẵng lấy chồng ngoài Huế, trong ngày cưới vì mải mê trang điểm và tiếp bạn bè nên quên đi ‘xả’ đến khi đoàn xe đưa dâu lên đến đỉnh dào Hải Vân hai Cô phụ dâu ngồi hai bên nghe một tiếng ‘bịch’ nước ào ào chảy ra vì vỡ bọng … thế là cô dâu tắt thở”. Lại có tiếng ai đó từ cuối lớp hướng về bốn bàn con gái dặn dò: Nếu ứ thì cứ ‘xả’ đại trong quần không thì mất mạng; Cả lớp lại được ăn một trận cười. Nữ sinh vẫn là tính nữ “E thẹn và đỏ mặt…”.
Thầy Thái Tăng Hạnh dạy sử địa. Tôi cứ nhớ mãi trong kỳ thi đệ nhất bán niên, Thầy ra đề xong giao lại cho lớp trưởng giữ trật tự, rồi Thầy lên văn phòng ngồi uống nước, cả lớp vui như trẩy hội, cô cậu nào cũng lấy vở ra chép tự do với hy vọng có số điểm cao để bù vào những môn còn thiếu. Ai dè đến khi trả bài gần nửa lớp thi chỉ có điểm 2, điểm 3; những đường mực đỏ gạch ngang , gạch chéo vào những dấu hỏi, dấu ngã, vào chữ hoa, chữ thường làm chúng tôi bật ngửa, dường như Thầy không chấm bài mà chấm lỗi chính tả. Lại là KỶ NIỆM QUÝ GIÁ…
Có lẽ đây là năm đầy ắp kỷ niệm của Học trò chúng tôi đang bước vào tuổi trăng rằm, những tình cảm riêng tư bắt đầu nẩy nở đan xen vào sách vở… Những bộ váy của quý O tung tăng ngày nào được thay vào màu trắng của chiếc áo dài thướt tha, chân guốc nhẹ che nghiêng che vành nón, cái e ấp của bạn gái thức tỉnh cái tuổi dậy thì của bạn trai, gặp các cô mặt lại đỏ rần lên…Để rồi những ánh mắt thương yêu, pha chút ngại ngùng của người ngồi sau lén nhìn bờ vai xoã mái tóc dài của người phía trước, trong làn gió thổi hương tóc ngát thơm, những cái nhìn chăm chú lên bảng đen nghe lời Thầy trên bục giảng, vẫn còn những ánh mắt mơ màng nhìn ra ngoài song cửa, thoáng chút ưu tư theo hình bóng của ai đó ngoài sân trường…
Trong lớp, tôi và Hoàng là hai người bạn thân thiết và hiểu nhau nhất. Cùng đi, cùng về và cùng làm cái đuôi chung nếu ai kia lọt vào tầm ngắm. Tôi còn nhớ mãi, ngày ấy Hoàng được bầu làm trưởng Ban báo chí của lớp, được gọi đi họp để chuẩn bị làm tờ báo xuân. Sau buổi họp khi ra đến cửa, vô tình chạm nhẹ vào cánh tay của một cô lớp 7. Cái cảm giác mát lạnh trên làn da người con gái làm Hoàng ngất ngây đến sững sờ trong một thời gian dài. Thế cũng từ hôm ấy, cảm giác đầu tiên về cô nữ sinh lớp 7 đã có trong Hoàng, lại thêm một thời gian biểu phụ ngoài thời gian vào lớp. Những buổi tan trường, Hoàng rủ tôi cùng làm cái đuôi bám theo bóng hồng… Cứ thế thường ngày trên tuyến đường từ trường đến Thị xã Quảng Trị có 3 chiếc xe đạp thong dong từ trường đến nhà ấy vì một bóng hình. Nhà người ta ở tận đường Trần Cao Vân Quảng Trị ( Bên hông rạp Kim Châu), suốt dặm đường mỗi người mang một tâm trạng riêng. Với người ấy, trong cái e ấp pha chút sờ sợ, thỉnh thoảng ngoảnh lại nhìn hai chúng tôi mà không biết ai là thủ phạm. Tôi mỉm cười “lẩm nhẩm” mấy câu:
Chữ tình còn giấu trong tim
Xin em chớ ngoảnh lại nhìn hai anh
Phía trước đường dốc loanh quanh
Lỡ mà té ngã e thành vạ to!
Còn Hoàng, bao nhiêu ý tứ ngọt ngào sắp sắn trong tim, sao cái miệng cứ cứng đờ ra mà chẳng nói được câu nào! Và tôi, kẻ vô tội thì luôn sợ bị hiểu lầm, và cứ thế sau này lên học Nguyễn Hoàng khi ngang qua đường Trần Cao Vân tôi vẫn không quên nhìn vào “cái cổng nho nhỏ có con chó mực nằm trước nhà em”…
Cũng tình cảm ngây thơ đó, Có lần tôi vội vã ôm cặp đến trường vừa đi vừa nhai ổ bánh mì, bỗng nghe tiếng cười khúc khích sau lưng, lên dốc cầu Sãi tôi ngoái đầu nhìn lại, bắt gặp một trong hai tà áo trắng đi phía sau nhìn tôi với ánh mắt thật trìu mến, với nụ cười thật tươi để lộ cái răng khểnh duyên dáng, để rồi :
Đứng trên con dốc nhỏ
Nhìn ‘lui’ đoạn đường dài
Áo trắng về qua đó
Phơi tình ta sớm mai.
Và chỉ có thế. Tôi cũng chẳng hơn gì Hoàng.Thôi thì :
Dấu trong tim cho tình luôn nồng ấm
Nói ra chi sợ hơi lạnh luồn vào…
Năm lên lớp 9, Thầy Nguyễn Văn Hảo mới đổi về hướng dẫn lớp 9/2. Thầy cao trắng và rất đẹp trai trông như một thư sinh còn cắp sách tới trường. Buổi đầu tiên đến lớp có lẽ vì vội vàng nên Thầy quên cài cửa sổ, cả lớp cứ che miệng cười. Thầy ngạc nhiên hỏi : “Các em cười gì? Và phóng mắt nhìn ngay vào chỗ tôi ngồi. Tôi nhanh nhẹn đánh trống lảng để gỡ rối cho Thầy.
“ Thưa Thầy Bạch diện thư sinh ạ !”
Cả lớp cười vang, xua đi cái cảm giác ngờ ngợ với Thầy.
Thầy Nguyễn Văn Hoá dạy Văn. Có lần Thầy phân tích chữ “tình’ giữa Thuý kiều và Kim Trọng trong Đoạn trường Tân Thanh. Thầy giảng: ‘Trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh tất cả đều yêu cuồng sống vội, chứ không như tình yêu ngày xưa:” “mắt em như nước mùa thu”, cái long lanh ngày xưa ấy bây giờ được nhìn vào nào ngực, nào mông , nào đùi… Lại có tiếng nói nho nhỏ ở cuối lớp “Cái gì cũng ngon hơn Nem lụi chợ Sãi hết Thầy ơi !”. Cả lớp lại che miệng cười; Thầy Nguyễn Quang Kế dạy Anh văn. Thầy rất thương tôi, thỉnh thoảng Thầy luôn nhắc nhở các em phải cố gắng học sau này “không thành danh cũng thành nhân”; và 3 năm sau Thầy đã vội ra đi trong một chuyến bay định mệnh. Phút giây nầy xin thắp nén tâm nhang cầu mong Hương linh của Thầy nơi suối vàng sớm được thanh thoát về miền cực lạc.
Đồng hành với chúng tôi, ba chiếc kim đồng hồ vẫn miệt mài đuổi quanh mặt số. Mùa xuân nồng ấm lùi dần, ngoài sân trường cái nắng chói chang và ngọn gió Lào đầu mùa bắt đầu thổi. Chương trình học cuối cùng chúng em cũng đã hoàn tất, điều không ai mong đợi rồi cũng đến, hàng phượng bắt đầu nhú búp màu đỏ nhạt và nắng hạ như đang tô điểm cho màu đỏ hồng thêm hồng thắm, giữa nền trời cao xanh thẳm với những áng mây trắng đầu hạ mỏng manh như vẫy chào mùa chia tay trong tiếng ve rền…
Những dòng lưu bút không còn nắn nót như xưa, màu hồng trên trang giấy chẳng còn nồng thắm trong mỗi chúng tôi, phảng phất đâu đó nỗi buồn chia xa. Những ngày cuối cấp nhà trường tổ chức cắm trại hè, chúng tôi cứ quấn quít bên nhau. Đêm văn nghệ và đốt lửa trại thật vui nhưng cũng không đủ để xua tan nỗi buồn, cố nuốt vào tận tâm khảm nhưng nước mắt cứ lại trào ra… Soong chè đậu xanh nấu sẵn, vị đường không còn ngọt ngào như cũ, xen vào đây vị đắng của chia ly. Suốt đêm ấy, chúng tôi không ngủ được, cứ nhìn nhau rồi lại khóc, khóc như đứa trẻ con đòi vú mẹ… cho đến khi mặt trời lên cao, tấm tăng được cuốn gấp lại, thế là đã gói hết bao kỷ niệm vào trong ấy…
Tôi bước chân vào Trường Nguyễn Hoàng chưa đầy một năm học, chiến tranh lại ấp đến , tiếng đạn bom cày xới quê hương. Thầy Trò chúng tôi như đàn ong vỡ tổ, người ra Bắc, kẻ vô Nam, những trang sách đành bỏ ngỏ, áo trắng chưa loang vết bụi trần đã phải đã phải ngậm ngùi chia xa tuổi học trò. Sau 3 năm lưu lạc xứ người chúng tôi trở về Quảng Trị xây dựng lại những gì đổ nát, thăm lại dấu tích trường xưa: Chẳng còn gì nữa, tất cả bị vùi chôn trong lòng đất lạnh. Hình ảnh ngôi trường thân yêu tan loãng vào không gian, chia đều cho mỗi chúng tôi đem vào tâm hồn, in đậm trong ký ức… Để rồi chân vẫn bước, hai tay vươn tới, cõi lòng cứ réo gọi, làm cuộc hành trình tìm kiếm nhau… tìm mãi và tìm mãi …hai chục năm còn gì, bạn bè gặp lại không quá 10 người, gần 40 năm liên lạc với nhau, chưa hơn nửa lớp, và cứ thế vào những ngày đầu năm chúng tôi lại tổ chức họp lớp, gặp nhau thì mừng và thương nhau nhiều lắm, hỏi thăm tin tức ai còn, ai mất và cứ mãi chạnh lòng. Ngày xưa đông vui bao nhiêu bây giờ lại vắng vẻ bấy nhiêu…
Ngồi điểm lại, trong đường đời chúng em có người thành đạt, có những vị trí cao trong xã hội cũng có người thiếu may mắn về vui với cảnh ruộng đồng, nương khoai, có người ngắn số sớm ra đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng chúng em được các Thầy Cô dạy dỗ, được học tập dưới mái trường này đa phần là con nhà nghèo nhưng học giỏi và hôm nay chúng em tất cả đã thành nhân. Cúi xin quý Thầy Cô tha thứ cho lũ học trò nghịch ngợm ngày xưa, vốn được liệt vào hạng ba, chỉ sau quỷ và ma: Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò!
Rồi một buổi chiều trong những ngày giáp Tết, thật bất ngờ khi Thầy Nguyễn Văn Quang đến thăm nhà. Tôi niềm nở tiếp đón Thầy , hai Thầy Trò nắm chặt tay nhau thật xúc động. Vẫn tính cách cởi mở, với nụ cười tươi vui khi Thầy còn là học sinh của lớp đầu đàn, vẫn ánh mắt trong sáng dịu hiền ẩn chứa một nét suy tư đầy trách nhiệm, trong thời gian Thầy làm hiệu trưởng ( sau thầy Phan Thanh Thiên và thầy Văn Phong) Thầy nói lên những suy nghĩ, bao trăn trở và hoài bão của Thầy Trò gần 40 năm nay.
Tôi thật vui đón nhận tập Thư ngỏ từ bàn tay và ý tưởng của Thầy và từ đây tôi có quyền hy vọng những nụ cười sẽ thắp sáng lại trên môi, chân vẫn bước và lòng réo gọi, hai tay vươn thật xa, xa nữa đến tận bạn bè muôn nơi, réo gọi về đây cùng tụ hội; để cho bạn, cho tôi và cho một thời hoa mộng, được một lần nhận diện nhau trong ngày đoàn tụ, những bàn tay xiết thật chặt, gom góp cho hết bao kỷ niệm, bao ký ức của thời áo trắng… Cùng nhau xây dựng lại mái trường xưa xanh, mãi xanh trong tâm khảm của mỗi một cô cậu học trò là: “ Còn mãi ngôi trường khang trang trong bóng dáng Thầy Cô, có hàng phượng vĩ, có những gốc me xanh tô điểm sắc màu cho sân trường dấu ái rộn rã tiếng cười...

Hình ảnh ấy còn mãi trong tôi và mong đồng hành mãi cùng chúng ta trong cuộc sống,cho dù hôm ay tóc đã bac, vầng trán thêm nhiều nếp nhăn, làn da sạm nắng và khi bòng ngã về chiều vẫn có những ánh nắng vàng lơi lả còn thơm mùi KỶ NIỆM YÊU THƯƠNG./.
Triệu Thành 3/2010
Lê Ngọc Quế

Thứ Năm, 5 tháng 8, 2010

SÃI -HÔI ỨC VỀ ... D.T.B.LIÊN

SÃI, HỒI ỨC VỀ TUỔI THƠ
DƯƠNG THỊ BÍCH LIÊN


Tôi lớn lên ở Sãi, Triệu Thành ,Triệu Phong ,Quảng Trị. Được học những năm tiểu học tại trường tiểu học Triệu Phong.
Nhà tôi gồm tám chị em, tôi đứng hàng thứ ba, tính theo miền Trung mình. Mặt tiền nhà, đối diện là chợ Sãi, vào mỗi buổi sáng, cô bác đã gánh những hàng từ các vùng quê mang lên bán, đủ các loại trái cây, rau quả. Tôi mê ăn quà vặt nên rất hứng thú.
“ Thị tại môn tiền náo
Nguyệt lai môn hạ nhàn ”
Song sự náo nhiệt này tạo nên một sức sống lành mạnh và mang nét thanh bình cho mọi người dân sống ở Sãi. Chợ Sãi có năm dãy nhà lồng chợ, được xây cất rất kiên cố, đối diện chùa Cổ Thành có hai dãy, trước mặt nhà tôi có một dãy nhà dài, và hai dãy còn lại nằm đối diện với nhau trong khuôn viên chợ. Ở cuối dãy này có ngăn một góc, là tiệm hớt tóc của ông Bụi. Tiệm hớt tóc này thường cắt cho phái nam, vì không có tiệm hớt tóc nào cho phái nữ, nên chị em chúng tôi buộc lòng phải hớt tóc ở đây. Ông Bụi cắt tóc cho tôi theo kiểu “búp bê”, tôi cố năn nỉ ông cắt cho vừa thôi, nhưng ông lắc đầu lia lịa. Tôi sợ nhất là khi ông cầm cái dao, mài vào sợi dây da treo ở trên tường, để cho da được sắc bén, rồi ông cạo những lông măng ở gáy, làm cho tôi sợ vô cùng.
Đầu Hạ ,tiếng gió Lào đầu mùa thổi rì rào trên những hàng tre và cái nắng 40 độ giữa trưa hè, đang ru những con đò ngủ yên trên bến Sãi- Kia là  cầu Sãi vắng   lặng bước chân ai... 
Sãi, chợ đông từ sáng sớm, với các ghe thuyền chuyên chở thực phẩm từ Đông Hà, Cam Lộ, Gio Linh chở tới, những nơi này có nhiều nông sản, và nhiều loại trái cây,. Hải sản cũng rất phong phú, vì Quảng Trị có nhiều bãi biển, biển Cửa Việt, Cửa Tùng, Gia Đẳng, Mỹ Thuỷ… Tôm cá rất tươi, không bao giờ có ướp nước đá, vì khi ghe vào bến, những ngư dân đem thẳng lên chợ bán.
 Miếu Ngũ hành nằm bên bến Miệu
Mỗi buổi chiều chị em chúng tôi thường lén nhà đi dạo mát trên con đường, có Đình Làng Cổ Thành, có bến Miệu, có bến nước mới xây gần cầu Sãi, bến này rất cạn, từ bến này nhìn qua bên tê sông là Xóm Hà, nước sông trong vắt, chảy lững lờ dưới ánh chiều tà rất là êm ả, khúc sông này rất cạn, có thể nhìn thấy cát vàng ở dưới đáy sông, có thể trông thấy những đàn cá long tong bơi lội. Nhiều cô thôn nữ ngâm mình trong dòng nước trong xanh để cào hến, xa xa ghe câu cá thong thả lặng lờ trôi.
Ba tôi lúc nào cũng cấm không cho chúng tôi đi đến chơi những nơi đó, nhưng ở tuổi nhỏ sông nước là sự quyến rũ mạnh mẽ nhất không thể khước từ được. Bến Miệu có lẽ đã xây lâu rồi, những bậc tam cấp được làm bằng bê tông sỏi trắng đẹp, ngồi ở bậc cấp này giặt đồ rất thích thú.
- Nghề ăn tới mần lui( dưới)
Sãi vào mùa nước lũ, trời mưa liên tục mấy ngày đêm không dứt, nước sông dâng lên từ từ, chiều đi học về, tôi chạy xuồng bến Miệu, đếm xem còn mấy bậc nữa thì nước tràn lên bờ, có nhiều người đến bờ sông để cất rớ. Tôi thường chen lấn, chạy lon ton, hết chỗ này, qua chỗ nọ để xem ai được nhiều cá, thấy ai được nhiều cá là nhảy lên vui mừng.
Chiều đến những áng mây xám từ đâu kéo đến, làm cho bầu trời trở nên tối hẳn, rồi cơn mưa trút xuống như thác đổ, mưa rơi suốt đêm. Sáng hôm sau tôi thức dậy sớm để chuẩn bị đến trường, tôi nhìn ra ngoài đường, và reo lên mừng rỡ, nước lụt đã lên đến chợ rồi, nước dâng lên rất nhanh, có nhiều ngôi nhà thấp nước vô đến nhà, còn nhà tôi thì chưa bao giờ có nước lụt vào nhà, vì nhà xây theo kiểu xưa nền nhà rất cao, ( tôi vẫn cầu mong cho nước lụt vào nhà). Làng Lệ Xuyên ở gần biển, vì chiến tranh loạn lạc, phải rời làng quê lên chợ Sãi sinh sống, họ được ở trong nhà mái lợp tôn, nền nhà thấp nên khi có lụt lội họ ra chợ nương náu. Tôi vẫn còn nhớ mãi hình ảnh nước lụt năm đó, trên con đường chính của chợ, nước dâng cao hơn vào sáng hôm sau tôi thấy chiếc ca - nô của quận Triệu Phong đem thực phẩm đến cứu trợ cho những gia đình làng Lệ Xuyên,  mọi người  đón nhận  hàng  cứu trợ mà cảm thấy vô cùng xúc động...
Nước lụt trường học đóng cửa, tôi được nghỉ học, ở nhà cùng bạn bè đi lội nước, đi xem người lớn vớt củi, những cây khô ở rừng theo nước nguồn chảy tuông về Sãi nhiều vô số. Thời gian được nghỉ học vì nước lụt, mỗi ngày tôi dầm mưa ướt cả chục bộ đồ. O Hải người giúp việc ở nhà thường ái ngại cho tôi, sợ tôi bị cảm lạnh, O thường hong khô quần áo bằng lò than lớn cho chúng tôi.
Tôi đi học. Mỗi buổi sáng chị Bích Đào và tôi đi bộ từ nhà đến trường tiểu học, ra đến đầu ngõ là gặp đầy đủ các bạn, rồi cùng nhau đi đến trường. Ngôi trường thật khiêm tốn nằm sâu bên trong làng, gần bên trong xã Triệu Thành, đường đến trường là con đường đất đỏ, dọc hai bên đường có nhiều loại cây dại đủ để cho chúng tôi nghịch phá. Trước sân trường có những cây Phượng vĩ che bóng cho chúng tôi khi giờ ra chơi, phía sau trường có một bãi cỏ xanh xanh mềm mại như thảm nhung. Vào giờ ra chơi chúng tôi thường ngồi trên thảm cỏ này, bày ra nhiều trò chơi, và chọc phá lẫn nhau. Cuối khuôn viên nhà trường có những lô cốt xây từ lâu lắm rồi, tôi tuy nghịch phá nhưng chưa bao giờ dám bước chân vô đó, vì sợ ma…Những lúc tan trường về tôi và các bạn quanh quẩn bên các bụi cây mầm xôi để hái những chùm trái chín đỏ ngọt mê hồn, ăn no mới thong thả về nhà.
Vào lúc đó tôi lớp ba, chị Bích Đào lớp năm, chị BĐ mảnh khảnh, trên đường đi học về, thường bị bạn cùng lớp kiếm chuyện, cứ nhịn hoài nên bạn cứ làm tới, tôi đi phía sau lưng, cảm thấy rất là bực, vội vàng quăng cặp xuống đất và túm đầu đánh liền. Chi BĐ tái xanh mặt năn nỉ tôi bỏ qua, còn hăm về nhà mách Ba, tôi hét lớn Ba cuối tuần mới về, chứ không chịu nhục được. Tôi có lợi thế túm được mái tóc dài của chị Huệ ( người hay gây sự) trong tầm tay rồi ghì xuống, có lẽ đau lắm làm chị buông hai tay đầu hàng. Cũng may, chứ chị mà đè tôi xuống đất chắc chết mất vì chị ấy rất mập. Cuối tuần đó ba rôi đi làm từ Huế về, tôi bị phạt rất nặng nhưng lòng tôi không hối hận về việc đã làm.
Sãi và tuổi thơ: Tôi đi chùa Cổ Thành và ở trong đoàn oanh vũ, trưởng đoàn là chị Liên Hoa vào những ngày rằm chùa thường bán thức ăn chay để gây quỹ, tôi rất thích thú tham gia, chạy bưng từng tô mì khắp nơi mời gọi. Sãi có hai ngôi chùa là Cổ Thành và Hậu Kiên. Chùa Cổ Thành không lớn lắm, được ông bà Lôi chăm sóc hương khói và quyét dọn hàng ngày. Bên trong chùa tượng Phật thật lớn đặt ở chính diện. Phía bên phải có hai tượng cũng khá lớn, với hai khuôn mặt khác biệt nhau, một ông vui vẻ mặt hiền lành, đó là ông Thiện, còn ông vẻ mặt hung dữ, đó là ông Ác. Hình ảnh hai ông này đã đi vào tâm trí tôi, cho tôi cân nhắc những việc gì mình làm để hướng tới con đường đi của mình đúng.

Chùa Cổ Thành hiện nay vẫn sinh hoạt hàng tuần đều đặn
 Chùa Hậu Kiên kế bên cũng đang được tiếp tục trùng tu cho ngang tầmvới các chùa khác- Đạo hữu và đoàn sinh GĐPT tham gia sinh hoạt đều đặn - Chùa cũng có các sư Cô kinh Phật
Vào những ngày lễ Phật Đản, Chùa cho cắm trại, được sinh hoạt chung với chùa Hậu Kiên, đêm đốt lửa trại và văn nghệ, ca múa hát vang dậy cả bầu trời. Chị BĐ được đóng vai em bé bán bánh mì, tôi rất thích giữ vai này lắm, nhưng vì tôi mập, nên các chị không có vai nào cho tôi. Vào mùa hè, Chùa tổ chức đi du ngoạn, đi bộ một đoàn người, vừa thiếu nữ, vừa oanh vũ. Từ Sãi về làng Tích Tường, trên đường đi lúc nào cũng xếp hàng theo thứ tự và ca hát quên cả mỏi chân và đói bụng, phong cảnh ở Tích Tường đẹp ghê lắm, trước mặt là hồ sen ngào ngạt hương thơm, những búp sen trắng hồng khoe sắc trong ánh nắng lung linh. Khi đã cắm được trại, chúng tôi quây quần ngồi nghe kể chuyện, các chị lớn thì kiếm củi nấu cơm trước. Không bao lâu cơm canh đã chín, trước khi ăn chúng tôi hát vang những câu: “ Cơm canh kia rồi. Chúng ta ơi, chúng ta cùng ngồi ăn, cùng ngồi ăn, nhưng anh em nhớ rằng : Hạt cơm kia đã mấy tháng rồi, do anh em nông phu tay cày tay cấy, ta ngồi ăn chớ khi nào quên……..”
Sãi những đêm trăng sáng : - Thuở đó chưa có điện nhà nhà đều đốt đèn dầu, chúng tôi, sau khi ăn cơm xong, vào bàn để học bài và làm bài tập. Ba tôi có nhờ anh Hữu con bác Lạc đến dạy kèm và kiểm tra bài vở cho chị em tôi, bài vở xong rồi tôi cảm thấy nhẹ nhõm và chạy ra đường, các bạn cùng xóm vừa tới, và tôi chúng tôi cùng chơi đùa cho đến lúc ướt đẫm mồ hôi, vào nhà tắm rồi đi ngủ, chuẩn bị cho một ngày mai vui nhộn chờ đón.
Sãi và Tết Mậu Thân (năm 1968). Mùa hè 67, những thiếu nữ ở vùng biển bỗng dưng xin giúp việc cho một số gia đình mà không nhận thù lao. Nhà tôi cũng có một O, tên là Non, O vào nhà tôi và năn nỉ mẹ tôi cho phụ việc nhà, nhưng nhà tôi đã có người làm, sau nhiều lần năn nỉ, mẹ tôi cho O ở nhờ, chỉ ăn uống thôi, không nhận tiền công, gần đến tết, vào những buổi tối, sau khi cơm nước xong O thường xin mẹ tôi ra ngoài chơi, O đi cho đến khuya mới về, mẹ tôi cũng không hỏi han về việc O đi muộn.
Vào sáng sớm ngày mồng một tết âm lịch năm Mậu Thân, nhà tôi cũng như các nhà hàng xóm đều nghe tiếng kêu cửa, vang lên,  “mở cửa, mở cửa” O Hải chạy ra mở cửa thì những chú bộ lính đồng phục màu kaki, đầu đội nón cối vào nhà , chúng tôi còn nhỏ nên đứng nhìn ngơ ngác, nhà tôi chỉ có cố ngoại và mẹ tôi là người lớn tuổi, rồi họ nhìn lên trần nhà và hỏi có ai trên này không? Mẹ tôi trả lời “không có ai hết” , thế rồi họ ra đi, tôi xuống bếp tìm O Non mới biết O đã ra đi tự lúc nào mà không từ giã. Đó là lần đầu tiên tôi thấy O  du kích. Qua ngày mồng bảy tết, súng nổ mỗi lúc mỗi gần, bên xóm Hà cũng bị  bom đạn, có nhiều người chết và bị thương, cả nhà ở dưới hầm, đến trưa tình hình lắng xuống gia đình tôi di tản lên Tỉnh để lánh tránh bị bom ,đạn, không bao lâu Sãi trở lại bình yên.
Hè năm sau tôi thi đậu vào trường TH Triệu Phong. Lúc xem kết quả thấy có tên mình tôi vui mừng khôn xiết, liền rủ Hiệp em gái kế tôi và Nga nhà kế cạnh đi tắm sông. Trưa hè trời nắng chang chang, bến Đình nước trong xanh, nhìn thấy cát vàng dưới đáy sông, tưởng rằng nước đã rút nên mới bồi cát lên, ba đứa tôi nhảy xuống tắm, càng lúc càng bị lún sâu không ngoi lên được nữa, tôi đưa hai tay lên làm dấu hiệu cầu cứu, cũng may bên kia sông có các anh đang tắm, liền đem phao ra cứu chúng tôi, thoát chết đợt đó tôi bắt đầu sợ nước, cả nhà tôi đều không cho ba tôi biết về chuyện này.
Ba tôi mua nhà ở Tỉnh, một ngôi nhà thật đẹp, có vườn cây ăn trái, có những bức tường cao sơn màu trắng sáng, ở đường Trần Cao Vân, số nhà 9b. Ngày từ giã Sãi, ai cũng buồn. Tôi vẫn còn học ở trường THTP, vào mỗi buổi sáng, tôi đạp xe đi học, nhưng ít khi ghé qua chợ Sãi.
Bây giờ đã bốn mươi năm xa Sãi, tôi không bao giờ quên được những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ hồn nhiên và trong sáng, chơi đùa, nghịch ngợm, phá phách. Tôi mong muốn một ngày nào đó tôi sẽ trở về thăm Quê Hương Quảng trị dấu yêu, và chợ Sãi một thời để nhớ. VÂNG TÔI SẼ TRỞ VỀ !!!.
 Thầy Liệu, Chiến và B. Liên, Cô Tĩnh,Thầy Tuấn
Savannah, May 14/2009
Dương Bích Liên

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2010

Tình bạn...V. Khang


CHS : VÕ KHANG 
Sinh năm : 1953
Trường THTP- QT.
Quê gốc : Nại Cửu - TP-QT.
Hiện ở : 31A-Út Tịch -Q. Tân Bình
TP. Hồ Chí Minh  
ĐT : 083 8114561 

Trần Khang và Văn Thiên Tùng 37 năm gặp lại 07/02/09 
tại TP.HCM
gỞI BẠN
Ngày xưa đi học cạnh kề bên
Xuôi ngược đó đây khắp mọi miền
Với tuổi học trò bao kỷ niệm
Khoảng đời riêng biệt có bạn hiền
Giờ đây gặp lại tóc bạc trắng
Lại nhớ chúng mình  tuổi hoa niên
Họp mặt trường xưa lòng luyến nhớ
Gởi về thầy bạn buổi đoàn viên
Võ Khang 4/2010

TRƯỜNG CŨ TÌNH XƯA
Thời gian đến rồi qua rất nhanh
Mái trường chở che buồn hoang lạnh
Cô Thầy bạn cũ cũng đi xa
Tạo hóa ngăn cách chi hỡi ông ?!
Bao nhiêu nổi nhớ gợi trong lòng
Dưới mái trường xưa thời thơ mộng
Xa rồi Thầy-Cô kính an mạnh
Nguyện cho bè bạn nhiều tốt lành./.
TP. HCM 3/2010
Võ Khang

Thứ Năm, 29 tháng 7, 2010

Một ngày đáng nhớ .Thầy N.V.Quang

HÀNH TRÌNH
DỰ HỌP MẶT LỚP 9/2 (Khoá 68-72) ngày 24/7/2010
Nhận được thư mời của lớp 9/2, tôi đọc qua chương trình đã thấy hấp dẫn: Sáng đi tham quan Suối Voi – Lăng Cô, chiều về biển Cửa Việt ở lại, …
Trước khi đi ngủ tôi dặn trong nhà nhớ thức dậy sớm để chuẩn bị, (dẫu biết rằng nếu có bị trễ thì thế nào các em cũng điện thoại đến nhắc!). Chỉ họp mặt một lớp nhưng phải đi 3 xe, vì không thuê được xe khách cỡ lớn. Mùa hè này người ta đi du lịch nhiều quá, xe 40, 50 chỗ ngồi đều không còn. Mà thế cũng tiện, vì mỗi xe đón một địa điểm như ban tổ chức lớp đã phân công: Ở Đông Hà, xe đón tại nhà bạn Lạc; ở Triệu Long, Giang , đón tại nhà bạn An; ở Triệu Đông, Thành, đón tại nhà bạn Bảo (Sãi); ở Triệu Tài, TX Quảng Trị, đón tại nhà bạn Tế. Chỉ qua việc sắp xếp đón Thầy, đón bạn thế này cũng đã thấy sự chu đáo của cán bộ lớp, mà chủ yếu là ba bạn Hoàng Văn Thông, Võ Có và nguyễn Bảo; họ đã bàn thảo, vạch chương trình và phối hợp tổ chức, thực hiện. Cả 3 xe gặp nhau ở điểm hẹn là quảng trường Tháp Chuông TX Quảng Trị. Về phía các thầy có: Thầy Kỳ (Chủ nhiệm lớp), Thầy Hoà, Thầy Mãi và tôi – Nguyễn Văn Quang. Thầy Hiệu trưởng Văn Phong đã hẹn lớp đến đón ở ngã ba Long Hưng, nhưng phút chót thầy đã báo lại là có việc bận, không đi được. Ngoài thành viên của lớp, còn có mấy bạn của 9/1và lớp 10 Nguyễn Hoàng từ trong Nam cùng về với Kim Quy để dự họp lớp 9/2. Khi kiểm đủ quân, chỉ huy Hoàng Văn Thông lệnh cho xe chuyển bánh, và chuyến hành trình bắt đầu tiến về Nam. Tôi xem đồng hồ thấy chỉ 8h30. Thời gian ở trên xe là dịp để thầy trò, bạn bè chuyện trò, tâm sự vui vẻ, thoải mái. Họ nói không biết bao nhiêu là chuyện; hết chuyện xưa đến chuyện nay. Nhất là các bạn học sinh, họ bắt đầu đề tài tình yêu học trò ngày ấy – nghĩa là gần 40 năm trước! Ai là người đã từng thầm yêu người đang ở bên Tây, ai vờ mượn vở bạn gái 9/3 để lén bỏ thư tình, … Những gì ngày xưa không dám nói vì sợ Thầy-Cô phạt thì nay họ kể toạc ra hết, không chút ngại ngùng!
Khi đến Thành phố Huế, thầy trò dừng ở nhà Trung Tâm Văn Hoá Huế để gặp gỡ, chuyện trò với thầy Nguyễn Văn Hoá. Thầy Hoá rất tiếc vì có cuộc hẹn với các vị khách từ trong Nam ra nên không thể đi theo đoàn. Thầy trò hàn huyên chừng 15 phút thì chia tay và chúng tôi lên xe tiếp tục cuộc hành trình. Khi xe ra khỏi thành phố Huế thì anh tài xế trẻ, xinh trai, gợi ý và giới thiệu nên dừng lại ở Truồi để thưởng thức đặc sản bánh bột lọc ngon nổi tiếng. Đến Truồi, xe dừng lại và các bạn nữ xuống mua bánh, các bạn nam cũng xuống xe nghỉ ngơi, chờ đợi. Mười lăm phút sau mọi người lên xe. Tôi nghĩ là xe sẽ đi vào hướng Lăng Cô; nhưng không, xe đã rẽ phải, đi về phía núi Bạch Mã. Tôi ngạc nhiên hỏi thì được cán bộ lớp giải thích: “Chương trình du lịch có thay đổi. Đường vô suối Voi – Lăng Cô đang thi công, hôm nay sẽ vào tham quan Thiền Viện Trúc Lâm Bạch Mã.” Nơi này tôi chưa được đi nên cũng hăm hở mong được đến xem. Xe chạy ngoằn ngoèo theo con đường bê tông hẹp chỉ vừa cho một xe đi, và mỗi lúc nâng dần độ cao. Khi đến gần mới nhìn thấy phong cảnh hữu tình: Mấy quả núi to, nhỏ, cao, thấp khác nhau bao quanh một cái hồ rất lớn, giữa hồ lại nhô lên mấy quả núi đẹp mà chúng tôi gọi đùa là sơn đảo.Chính tại một trong các sơn đảo ấy là hệ thống nhà chùa, trên một sơn đảo kia là tượng Phật đồ sộ, tư thế ngồi hướng về tây phương cực lạc. Du khách muốn đến Thiền viện phải qua một chuyến đò máy, mỗi lần chở được 30 người. Thế là chúng tôi phải đi thành hai chuyến. Tập trung dưới chân dốc của thiền viện, thầy trò đã cảm thấy mệt lắm, vì lúc này đã hơn 11hOO mà trời thì nắng gắt. Nhất là khi đối diện lối đi lên thẳng đứng với hơn hai trăm nấc, ai cũng thấy ngợp, tưởng chừng phải bỏ cuộc! Các bạn nữ hơi thoái chí, 4 thầy cũng ngập ngừng, kiểm tra đôi chân xem có chịu bước cho không!… Nhưng khi nhắc lại câu thơ Hồ Xuân Hương: Mỏi gối, chồn chân cũng muốn trèo, thì mọi người vui cười và thấy như có thêm sức mạnh. Thế rồi chúng tôi cùng nắm tay nhau: Một, hai, ba – trèo! Lên được khoảng 50 nấc, các bạn nữ van mệt và mỏi chân quá! Thầy Hoàng Mãi bày kinh nghiệm khắc phục bằng cách: nấc nào thấy mỏi thì đi qua phải hoặc qua trái của nấc ấy vài mươi giây để nghỉ chân rồi leo tiếp nấc trên. Theo cách ấy, các bạn đã thấy dễ thở và có thể tiếp tục được. Lên chừng 100 nấc, tôi thấy có một du khách nước ngoài ngồi tựa vào lan can của lối đi, trông rất mệt nhọc. Không biết anh ta có lên tiếp được để chiêm ngưỡng dung nhan vị Tổ Thiền Sư hay không! Khi lên đến khoảng nấc thứ 150, chúng tôi lại gặp mấy du khách đi xuống, trông họ có vẻ tươi khoẻ hơn. Tôi dừng lại hỏi vui: “Chuyến đi xuống khoẻ hơn đi lên, phải không?” Họ đáp: “Phải”. Tôi lại pha trò với họ: “Có lẽ các bạn đã đạt nguyện vọng rồi nên lòng phấn chấn làm cho đôi chân bớt mỏi!” Họ cười, đáp “vâng” và chào tạm biệt chúng tôi. Họ toại nguyện, còn chúng tôi đang cầu nguyện: Cầu lên được nấc cuối cùng để ngắm cảnh đẹp tuyệt vời của thiền viện! Khi tất cả đã lên đến đỉnh dốc, lớp trưởng Hoàng Văn Thông tập họp lớp tại cổng chùa và dặn: “Xin quý thầy và các bạn vào tham quan và nghỉ ngơi độ nửa giờ. Đúng 12 giờ mời tập hợp tại đây để về Huế ăn trưa.” Các bạn đồng thanh đáp lớn: “Rõ!” Rồi mọi người vui vẻ toả ra nhiều hướng, đi thăm chùa, ngắm cảnh. Các máy ảnh đã bắt đầu hoạt động. Nhiều pô ảnh đẹp về người, về cảnh đã được sang ra tại chỗ để tặng nhau, rất nhiều pô hẹn sẽ chuyển qua Internet. Nhìn cảnh chùa, nhà chuông, nhà trống, nhà tăng được bố trí rất hài hoà theo địa thế của núi non hùng vĩ, chúng tôi thầm cảm phục các nhà kiến trúc. Ở đây, ngoài cảnh núi cao, hồ rộng, cái gì trông cũng lớn: Tượng Phật lớn, Tượng đức Tổ thiền sư lớn, chuông mõ lớn, cột nhà chùa lớn … khiến chúng tôi thấy mình như bé lại nhiều lần! Tôi lại nghĩ đến kinh phí xây dựng ngôi Thiền viện này: Không biết mất đến bao nhiêu tỷ đồng?! Riêng việc vận chuyển vật liệu từ xa đến, có lối đi nào khác không hay phải chuyển qua phà mới tập hợp được ở sơn đảo này để thi công các công trình, cũng đủ thấy sự vất vả và tốn kém phải bỏ ra. Ý chí của con người ghê thật; khi người ta muốn thì việc gì cũng có thể làm được! Ở dốc lên phía bên trái của chùa có một công trình kiến trúc khác, nhưng chúng tôi không lên được vì công nhân đang làm đường, tiếc thật! Công trình của quần thể Thiền viện chưa xây dựng xong mà đã đẹp như thế, lúc hoàn chỉnh chắc còn đẹp hơn nhiều! Sự tĩnh lặng của cảnh thiên nhiên hữu tình ở đây quả thực là lý tưởng cho các thiền sư tu luyện. Nhưng tôi chợt thấy băn khoăn: Mỗi ngày càng có nhiều du khách đến tham quan thì có còn giữ được sự yên tĩnh, thanh khiết cho các thiền sư tu luyện không, hay sẽ mang nhiều điều phàm tục đến làm vẩn đục, khuấy động cảnh thần tiên?! 
Đã đến giờ hẹn của lớp trưởng. Chúng tôi cùng trở về phía cổng của Thiền viện.
Đáng lẽ phải xuống thuyền để ra xe, nhưng thấy anh chị em đều mệt vì nắng và đói nên lớp trưởng thông cảm, thông báo: “Mời quý thầy và các bạn lót lòng với bánh bột lọc, đặc sản của Truồi, trước khi về Huế. Nhưng nhớ chỉ ăn chứ không được nói, vì đây là phạm vi chùa, mà bánh lọc thì có bọc tôm! Ăn xong phải gói lá đem bỏ thùng rác theo nếp sống văn minh, không được làm bẩn cảnh quan của nhà chùa!” Anh em đã hiểu ý lớp trưởng nên nhận chỉ thị rồi bắt đầu ăn bánh lọc và cười thầm với nhau. Ăn xong, mọi người thấy tươi tỉnh hơn, cùng chuẩn bị xuống thuyền.
Trước lúc hạ sơn, chúng tôi đã một lần nữa ngắm kỹ cảnh núi xanh, hồ biếc, những mái ngói đỏ tươi và tượng Phật ngồi như đang nhập thiền ở hòn núi bên kia để về Huế. Chúng tôi phải chụp kỹ cảnh thiên nhiên xen lẫn cảnh nhân tạo tuyệt vời này để khi về còn san sẻ cho người ở nhà thưởng thức. Tôi chưa đến hồ Núi Cốc, hồ Ba Bể, nhưng tôi nghĩ cái hồ lớn lượn quanh Thiền viện Bạch Mã này cũng đã quá đẹp rồi! Về đến thành phố, tài xế cho xe rẽ phải. Tôi ngạc nhiên hỏi lý do mới biết là lớp sẽ ăn và nghỉ trưa ở nhà vườn Duyên Quê tại thôn Thế Lại, thuộc huyện Phú Vang. Đến nơi, vừa xuống xe thì đã nghe ban tổ chức thông báo: “Chúng ta sẽ được đón một vị khách quý từ Thành phố Huế về”. Ai nấy hồi hộp chờ đợi. Quả thực 5 phút sau, cô Trịnh Thị Loan đã đến! Thầy và trò đều đứng lên và đi nhanh về phía cô, tiếp đón niềm nở và trang trọng hơn cả một thượng khách. Rất nhiều cái bắt tay, các bạn nữ đến ôm choàng cô và rơm rớm nước mắt: Cô ơi, 38 năm rồi còn gì! Cô khoẻ không cô? Cô vui không cô? Có gì mới không cô? Và vv. Các bạn bạo miệng còn ghép tôi với cô Loan làm đôi tình nhân như thời còn son trẻ. Tôi chối ngoay ngoảy và trả lời họ: Các bạn nhầm rồi, ngày xưa cô Loan là người yêu lý tưởng của thầy Đặng Lữ đó. Đến lượt cô Loan thoái thác: Không có mô, không có mô; các em đừng nghe thầy Quang bịa chuyện! Rồi những tràng cười vui, xí xoá việc ghép đùa ấy và chuyển qua đề tài khác.
Khoảng 2h30 chiều, chúng tôi từ giã quán nhà vườn Duyên Quê và lên xe để trở lại quê nhà. Ra đến thị xã Quảng Trị thì anh tài xế có sáng kiến chạy về hướng Bồ Bản, xuôi Cửa Việt, qua cầu mới để ra bãi tắm Gio Hải, thay vì ra ngã tư Sòng để rẽ về Bắc Cửa Việt. Ý kiến ấy được hoan nghênh vì vừa rút ngắn quãng đường mà còn được đi qua chiếc cầu mới khánh thành của quê hương Triệu Phong. Xe qua khỏi cầu, chạy thêm chừng hơn cây số nữa là đến bãi tắm Bắc Cửa Việt- còn gọi là bãi tắm Gio Hải (vì nó thuộc xã Gio Hải, Gio Linh).
Sau 30 tháng thi công. Cầu đã thông xe ngày 17/7/2010  
Với chi phí  278 tỷ VNđ (Ảnh VTT)
Cầu Cửa Việt dài  802,4m, 12 nhịp, rộng 12m ( 2 làn xe 7m) là chiếc cầu dài nhất tỉnh Quảng Trị, nối liền bờ Bắc Gio linh với bờ Nam xã Triệu An, huyện Triệu Phong; đây là nhịp cầu nối những niềm vui cho vùng kinh tế biển cảng Cửa Việt Triệu Phong - Gio Linh. từ nay có thể đì từ Nam Cửa Tùng - Mỹ Thủy - cảng biển Thuận An Thừa Thiên-Huế . Một ước mơ từ lâu nay; Người dân Quảng Trị cũng như  dân cư ven biển đi lại dễ dàng theo con đường hành lang biển phía đông này của tỉnh nhà...
Anh Thông hướng dẫn cho 3 xe tiến vào bên trong cổng của một ngôi nhà lớn 3 tầng mà tôi chưa biết là cơ sở gì. Khi xuống xe, tôi thắc mắc hỏi thì được giải thích: Đây là Trung tâm tập huấn thanh-thiếu niên của tỉnh, công trình chưa hoàn chỉnh nên tạm thời dùng làm nhà nghỉ cho khách tham quan-du lịch. Bỗng dưng tôi thấy mình tệ quá: có nhiều địa điểm, công trình ngay tại trên quê hương của huyện nhà, tỉnh nhà mà mình vẫn không biết, quả là mình lạc hậu lắm rồi! Tôi tự nhũ: Từ nay mình phải cố gắng đi:
Đi cho biết đó, biết đây,
Ở nhà với ...biết ngày nào khôn?!
Cầu nay nối nhịp- Đôi bờ thông nhau- Ta đến các bãi tắm - nghĩ mát tại đây" GIO HẢI"...
Lại có thông báo của ban tổ chức: “Quý thầy và các bạn nghỉ ngơi, đi tắm biển thoải mái. Đúng 7h00 xin mời về nhà hội trường để ăn tối và sinh hoạt văn nghệ.”
Mọi người đóng cửa phòng trọ, ra bãi tắm. Nguyễn Văn Lộc thấy vị chỉ huy đang cầm tay các bạn nữ đùa giỡn với những con sóng lùa vào bờ thì mở nhanh máy ảnh, chụp liền mấy pô. Tắm xong, mọi người lên bờ chuẩn bị vào nhà nghỉ. Tôi đến gặp anh Thông và rỉ tai nói vui:
- Có người chụp lén cảnh chỉ huy nắm tay bạn gái ngoài biển đấy!
Thông cười:
-Dạ, chỉ huy có lúc chứ. Lúc nghỉ thì phải vui chơi giải trí với bạn bè. Em làm thì làm hết sức, nhưng khi chơi cũng chơi hết mình.
Tôi thật sự cảm phục tài tổ chức của Thông và ứng khẩu đọc tặng 2 câu lục bát:
Hoàng Thông chưa nói đã cười,
Nhưng làm lãnh đạo là người rất nghiêm!
Thông lại cười, đáp:
- Dạ, có lúc phải nghiêm. Không nghiêm thì không chỉ huy được!
Bữa cơm tối được nhà hàng chuẩn bị chu đáo. Trên sân khấu tôi thấy có ghi mấy dòng chữ:
GẶP MẶT
CỰU HỌC SINH TH TRIỆU PHONG
Niên khoá 1968 – 1972

*Cửa Việt, ngày 24/7/2010
Bữa cơm tối xen lẫn chương trình văn nghệ. Bây giờ đến lượt anh Nguyễn Hữu Lịch trổ tài MC và tài ca nhạc. Lịch đi như con thoi đến bàn này bàn kia lấy tên các ca sĩ đăng ký bài hát. Hết lượt, Lịch lại đi lần 2, rồi lần 3,…. Ai lên hát đều được tặng hoa, chụp ảnh lưu niệm. Các máy ảnh chụp lia lịa. Những ca sĩ được bầu danh hiệu ưu tú có Nguyễn Hữu Lịch và Hoàng Bá Diệp. Diệp hát hay với những bài tình ca mượt mà, truyền cảm; còn Lịch thì trội hơn về giọng cháy bỏng của Y Moan và Xiu Blek. Về nữ thì bầu danh hiệu ưu tú cho ca sĩ Kim Quy với hai bài hát về tuổi học trò và ngày xưa thân ái. Đặc biệt có cháu gái (không nhớ tên) con của Võ Thị Lai lên hát tặng các ông, các cậu, các dì bài Bụi phấn rất hay. Tiếc một điều là ngày nay bụi phấn không còn rơi rơi trên tóc thầy nữa mà tóc thầy, (và cả tóc trò) đều mỗi ngày mỗi bạc nhanh! Ôi, thời gian qua mau thật!Lúc này bầu không khí thân mật như ba, bốn thế hệ cùng sống chung trong một đại gia đình. Nói là 4 thế hệ là vì bạn Trần Việt Hùng đưa cả cháu ngoại 5 tuổi cùng đi sinh hoạt lớp của ông ngoại! Kể thêm cả thế hệ thầy của ông ngoại nữa vị chi là 4 đời. Anh em bảo: Nếu hôm nay Cao Quyện có đi thì sẽ mang cả con theo. Quyện là người lấy vợ muộn nhất (do lớp đứng ra tổ chức đám cưới), và rất cưng con. Những lần sinh hoạt lớp trước đây quyện đều cho con đi theo, và con đòi chi cũng chiều!( Bạn Quyện ơi, nói nhỏ điều này: Đừng nuông chiều quá mà hư con nhé!).
Canh chừng đến 10h00 tối, lớp trưởng Thông cho ngưng chương trình văn nghệ để thông báo kế hoạch tiếp theo: “Chúng ta có thể thức sáng đêm để vui chơi, ca hát, nhưng một số bạn ta ở Nam ra, nhất là bạn Kim Quy còn phải bay về Mỹ, nên đề nghị tạm ngưng chương trình văn nghệ ở đây để các bạn về nghỉ; về phòng riêng mọi người có thể trò chuyện tiếp. Nhưng nhớ không thức quá khuya, và sáng mai đúng 7h00 tập trung tại sân nhà nghỉ để sinh hoạt.”
Mọi người lại chấp hành nghiêm chỉnh.
Chúng tôi- ba thầy (Kỳ, Hoà và Quang) ngủ chung phòng và sáng dậy sớm, ra biển tắm, rồi chuẩn bị sẵn sàng để tập họp ở sân đúng giờ hẹn. Ba xe chờ sẵn ở đó. Sau mấy lời chào tạm biệt, anh Hoàng Văn Thông phải chia tay chúng tôi để tiếp đoàn du lịch Hoài Niệm và dẫn họ lên Nghĩa trang Trường Sơn. Thay vì ăn điểm tâm ở Cửa Việt, Ban tổ chức dẫn đoàn về quán nhà bạn Mai Thị Lạc ở đường 9, Đông Hà. Cán bộ lớp giải thích: Về nhà Lạc ăn điểm tâm cho tình cảm hơn và để các bạn ở xa chia tay bạn Lạc luôn. Cả đoàn đến bất ngờ khiến bà chủ Lạc lúng túng. Khách đang ăn sáng cũng ăn vội để nhường chỗ cho đoàn CHS.TP. Bây giờ Lạc không trở tay kịp, đành gọi lớn: Lai ơi, Lộc ơi, Quy ơi… vào phụ một tay. Mau lên!
Thế là không phân biệt chủ - khách nữa, mọi người vào phụ nhau bỏ bún vào tô, đổ nước xáo vào, bưng dọn ra bàn theo kiểu self service (tự phục vụ).
Rồi cũng đến giờ chia tay! Các bạn xa quê nói lời tạm biệt với những cặp mắt đỏ cay, mọng nước. Các bạn nữ ôm chặt nhau, không muốn buông ra, như sợ sẽ mất nhau. Nước mắt đã chảy dài xuống từng đôi má thoang thoáng nếp nhăn. Các bạn nam cũng không giữ kẽ nữa. Họ ùa đến ôm chặt các bạn nữ để thể hiện tình lưu luyến lúc chia xa; bù lại ngày xưa chỉ dám nói phét, không dám cầm tay!
-Tạm biệt, tạm biệt nhé! Hẹn gặp nhau vào 2015, Kim Quy nhé, Lai Cà Mau nhé, Tuyến Cần Thơ nhé! Đức, Lộc, Nghĩa Miền Nam nhé!
- Tạm biệt! 2015 lâu quá! 2013 được không? 5 năm sau biết thế nào!
- Năm năm sau có ai bỏ cuộc không? Hy vọng còn được 3,4 kế hoạch 5 năm như thế này!
- U 60 rồi, họp mặt lần 4 không ai cõng lên xe, không ai cầm gậy cho mà chống! E về họp dưới kia khoẻ hơn!
- ……………
Họ cùng nắm tay nhau như thế cho đến khi các bạn lên xe, tài xế đề nghị đóng cửa lại, những bàn tay bịn rịn mới bùi ngùi buông nhau ra! Ôi tuyệt vời tình bạn!
Kim Quy, một thành viên xa nửa vòng trái đất đã chuẩn bị cho một chuyến về họp mặt thật công phu. Nghe tin CHS Triệu phong sẽ họp mặt vào 24/7/2010, Quy đã quyết định về và mua vé sớm. Tôi nghe Quy báo thế cũng lo, vì không biết có tổ chức họp mặt toàn trường đúng ngày ấy không, nên đã bảo Quy đợi có thông báo chắc chắn rồi mua vé. Quy đáp kiên quyết là dù thế nào thì Quy cũng bay về. Do điều kiện khách quan, Ban LL đành hoãn tổ chức họp mặt CHS toàn trường, nên tôi đã gọi điện cho bạn Thông và trao đổi ý kiến: “Đề nghị 9/2 nên tổ chức họp lớp vào thời điểm đó để Quy khỏi lãng phí công sức và tiền bạc cho một chuyến về.” Thông nhận lời và quyết định lấy đúng ngày 24/7 làm ngày hội lớp! Tôi thấy nhẹ người vì khỏi mắc tội với các bạn xa quê, như ở nước ngoài và các tỉnh miền Nam. Nghe kể: Quy về Việt nam, đến thăm các bạn ở Cần thơ, TP. HCM, Phan Thiết… và cùng ra quê Quảng Trị dự họp mặt lớp. Lại càng cảm động khi nghe Nguyễn Hữu Nghĩa ở Biên Hoà- Đồng Nai, do không sắp xếp công việc để về sớm được nên đêm 23 phải bay đêm để sáng 24/7 kịp đoàn tụ với Thầy Cô và bạn bè. Truyền thống của 9/2 là mỗi năm hội lớp một lần dành cho anh chị em ở tỉnh nhà, và 5 năm có hội lớn cho bạn bè cả nước và nước ngoài cùng về tham dự.
Chúng tôi, 4 thầy được dự ngày họp mặt của lớp, xin có lời cảm ơn lớp đã mời dự và thưởng thức một cuộc hành trình đầy ngạc nhiên và thú vị! Các thầy cũng xin chân tình bày tỏ sự cảm phục về tình cảm tốt đẹp, thắm thiết, đoàn kết, thân ái của lớp dành cho thầy cô và bạn bè. Qua 15 lần tổ chức họp mặt, lớp 9/2 đã thực sự là hình mẫu để các lớp khác, và ngay cả Ban LLCHS của trường rút kinh nghiệm để tổ chức họp lớp, họp trường thành công như mong muốn. Chúc mọi người vui, khoẻ; chúc tình thầy, nghĩa bạn mãi mãi bền chặt, thắm thiết, và cùng hướng về những lần họp mặt sắp tới! Trong đêm sinh hoạt văn nghệ, Thầy chủ nhiệm Trần Văn Kỳ đã phát biểu: Thầy luôn luôn ở bên các em! Và lớp trưởng Hoàng Văn Thông đã đáp từ bằng cách đề nghị lớp đồng thanh hô lớn ba lần: Chúng em luôn luôn ở bên quý thầy! Tiếp theo là những tràng vỗ tay vang lên như pháo Tết ngày xưa!
Thế thì, Chín Hai ơi, dù đời còn nhiều dâu bể, Thầy – Trò chúng ta vẫn luôn luôn ở bên nhau, các em nhé!
TXQT, 26/7/ 2010
Nguyễn Văn Quang