Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Văn học dân gian TP-QT.. L.B.Tâm


VĂN HỌC DÂN GIAN 
TRIỆU PHONG, QUẢNG TRỊ
Lê Bá Tâm
Văn hoá là biểu tượng của mọi lề lối, phương thức sinh hoạt từ tiếng nói, tập tục, cách ứng xử, lễ hội, tín ngưỡng đến cách ăn mặc, lời ru, tiếng hát. Đấy là phong cách của cả một cộng đồng. Hiện nay chưa có một kết luận cụ thể nào xác định được thời điểm có mặt của con người trên đất Quảng Trị, chỉ biết qua bao diễn biến bởi nhiều đợt di dân trong nhiều thế kỷ. Quảng Trị là một giải đất hẹp nhưng có nhiều hệ sinh thái, nhiều khu vực nông nghiệp khác nhau. Do bản năng sinh tồn, họ chiến đấu chống lại mọi gian khó để tồn tại và phát triển. Văn học dân gian Triệu Phong mang một nét đặc thù riêng - những nhân vật có óc khôi hài, những chuyện cười, điệu hát, điệu hò trong mọi sinh hoạt nông thôn, trên đồng ruộng cũng như trên sông nước. Trong phạm vi bài viết hạn chế, tôi chỉ xin giới thiệu sơ qua những thể loại có tính đại chúng, phản ảnh bao trùm mọi sinh hoạt với loại ngôn ngữ bình dân mộc mạc nhưng thắm đượm nhân tình của con người Triêu Phong quê ta.

I– TỤC NGỮ:
1) Về thời tiết, sản xuất:
- Cò ăn ruộng sâu thì nắng
Cò ăn ruộng cạn thì mưa.
- Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn.
- Chớp bể, mưa nguồn.
- Đập đất nhỏ, luống đánh to
Xung quanh rắc đậu, rắc ngô xen vào.
- Đói thì ăn môn ăn khoai
Chớ thấy ló lổ tháng hai mà mừng.
-Chớ than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây.
2) Về đời sống xã hội:
- Liệu cơm mà gắp mắm ra
Liệu cửa liệu nhà mà gả con vô.
- Khôn ba năm không ai biết, dại một giờ bạn hay.
- Khoai lang củ bở, củ trân
Siêng ăn, nhác mần mà lựa củ to.
- Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải nhọc lo đêm ngày.
- Bỏ công múc nước đường xa,
Có trong thì múc, ngà ngà thì thôi.
- Sui gia là bà con tiên,
Ăn ở không hiền là bà con ma

II- THÀNH NGỮ:
1) Ba chữ:
- Bét chèn chẹt - Sắc lem lẻm
- Lép kẹp kẹp - Búi xờm xờm
- Đẻo dèo dẹo. - Khít rìn rịt
2) Bốn chữ:
- Ba trợn, ba dáng - Chạy đôn chạy đáo
- Ba chàng, ba nàng - Trớ trớ, trân trân.
- Ba hoa, khoác lác - Lem lem, luốc luốc
- Ba xí, ba tú - Dai như giẻ rách
- Ba que xỏ lá - Tức như bò đá,…
3) Sáu chữ:
- Khu lộn trôốc, trôốc lộn khu
- Vắt cổ mèo, treo cổ chó
- Côi không chằng, đưới không rẹn, …
4 ) Tám chữ:
- Cù lơ cũng mất, cù trất cũng không
- Mần chị thì lành, mần anh thì khó.

III- CÂU ĐỐ:
- Tròn vành vạnh như cạnh tía tô
Đi Nam, đi Bắc đi mô cũng về. (Cái nón lá)
- Cây xanh mà lá cũng xanh
Dầm mưa dải nắng theo anh võ vàng.
Một mai lửa đỏ thành than
Mây bay, khói lượn trước mặt chàng, chàng ơi! (cây thuốc lá).
- Hai người ở hai buồng
Ngó đi nhìn lại như tuồng cấm cung.
Đêm về sập cửa, thả chông
Ngày thì vòi vọi đứng trông nhau hoài. (Hai con mắt)
- Gặp nhau đây bất luận đêm ngày
Lật ra xem thử lỗ này ở đâu.
Đâm vô thì rút ra mau
Đừng để trong nớ mà đau lòng nàng.
Rút ra máu chảy tràn lan
Khi nớ duyên thiếp, nợ chàng ngái xa. (Đạp gai)

IV- CÂU ĐỐI:
- Văn Vận tuột quần Văn vận vận
Bích La đau bụng Bích La la.
Tri Lễ đau đầu Tri Lễ lễ
Cam Lộ buôn cam, Cam lộ lộ
Bích Giang không nón, Bích Giang giang,…

V- ĐỒNG DAO:
- Bập bồng bông, tay mô không, tay mô có
Bập bò bọ, tay mô có tay mô không.

-Bập bồng bông,
Chị lấy chồng , em ở quá
Chị ăn cá, em mút xương
Chị ăn đường, em ăn mật
Chị vật, em coi
Chị voi, em ngựa
Chị bựa, em bèn
Chị kèn, em trống
Chị bống, em khéo
Chị méo, em tròn
Hai hòn phần chị.

- Rầm rầm, rì rì
Xay lúa Đồng Nai
Cơm gạo phần ngài
Tấm cám phần tui.

- Dung dăng dụng dệng
Lửa đệng cháy nhà
Bà già tới chựa
Cháy nửa bồ thóc
Lóc cóc chạy về
Ông Đề hỏi răng
Cu nhăng cắn nhện.

- Heo chi, heo lang
Lang chi, lang cẳng
Cẳng chi, cẳng giò
Giò chi, giò móng
Móng chi, móng heo.

- Cu ở Cam Giang
Cu sang Cam Lộ
Đến mùa vại độ
Cu ẻ hạt mè
Làng đánh cu què
Cu nhảy một chin
O tê đứng lại cho nghin (gần)
Cho tui bú méng kẻo chin tui què!

VI- CA DAO:
Ca dao chiếm phần lớn trong văn học dân gian, biểu hiện một thứ tình cảm bình dị, chân chất, hiền hoà nhưng giàu tình giàu nghĩa được thể hiện trong mọi tình huống, hoàn cảnh; đặc biệt là trong tình yêu thương đôi lứa, một đề tài muôn thuở.

a) Quan hệ gia đình:
- Biết răng chừ cá gáy hoá rồng
Để đền công ơn thầy mẹ ẳm bồng ngày xưa!
-Chị em như chuối nhiều tàu
Tấm lành che tấm rách đừng nói nhau nặng lời.
-Cây kia ăn quả ai trồng
Sông kia uống nước hỏi dòng từ đâu?
Cơ đồ gầy dựng bấy lâu
Công lao tiên tổ lẽ đâu quên hoài!
Mộ phần gìn giữ hôm mai
Những ngày lễ Tết chẳng sai lệ thường.
- Có chồng rồi khác chi con ngựa có dây cương
Lôi mô chạy nấy, khổ trăm đường ai ơi!
- Còn cha gót đỏ như son,
Mốt mai cha chết, gót con đen sì.
- Mẹ già ham việc tiếc công
Cầm duyên con lại thu đông mãn rồi!
- Ra đi bỏ mẹ ở nhà
Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng?!

b) Quan hệ xã hội:
- Ai về Đông Hà, ai qua Cam lộ,
Ai về Gia Độ, ai ghé Gio linh
Ai về Triệu Phong, Quảng Trị quê mình
Cho em nhắn gởi chút tình nhớ thương.
-Bạn về không có chi đưa
Môn khoai đang dại, mít dừa đang non.
- Cây cao, bóng mát không ngồi,
Ra ngồi trửa nắng, trách trời không dim.
- Cây khô, xuống nước cũng khô
Bạn nghèo đi tới nơi mô cũng nghèo.
- Con quan lấy đứa bán than
Nắng mưa phải chịu, cơ hàn phải theo.

c) Quan hệ lứa đôi:
-Trăng lên tới đó rồi tề
Nói chi thì nói, em về kẻo khuya.

- Bướm vàng đậu đọt cau tơ,
Kiếm nơi mô nương tựa, răng cứ vất vơ rứa hoài?
-Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp là cơm nguội đỡ khi đói lòng!

- Đi mô cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lung thiếp theo.

- Cam chua, quýt ngọt, bòng the
Thấy em nho nhỏ anh ve anh để dành.

- Xa anh có bấy nhiêu ngày
Tình em như mảnh trăng gầy nửa đêm.

-Hai ta bứt cỏ một cồn
Bứt tranh một chỗ, tiếng đồn thật xa.

- Em đang vút nếp hông xôi,
Nghe anh lấy vợ, thúng trôi, nếp chìm.

- Anh đà có vợ thì thôi
Không phải mắm nêm chuối chát mà môi cho nhiều.

-Anh về đừng có ngó lui
Để em ngó dọi, bùi gùi thêm thương.
VII - HÒ
Hò là loại dân ca phong phú, đa dạng, có tính quần chúng và mang nét đặc thù địa phương. Hò Triệu Phong, Quảng Trị thể hiện rõ nét qua sinh hoạt đồng áng. Cách hò tuỳ theo nơi chốn, không gian và thời gian, công việc lao động khác nhau.
Quét vôi thì hò hụi; giả gạo thì hò khoan, hò hô; chèo đò thì hò mái nhì, mái đẩy; hò rủ rơm; hò đánh bài thai, bài chòi; hò kéo gỗ; hò ru con; hò đối đáp ân tình hoặc đâm bắt.
Tôi xin giới thiệu mấy điệu hò tiêu biểu sau:
1) Hò ru con:
Chúng ta đều lớn lên từ bốn tao nôi và lời ru của Mẹ. Làn điệu ngọt ngào sâu lắng đã thấm vào máu thịt, xương tuỷ, và lớn lên theo dòng đời năm tháng. Cứ mỗi lần nghe điệu hò ru con, ai nấy đều bồi hồi nhớ quê hương, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ anh chị em, nhớ mái đình, cây đa, bến nước, bến đò xưa.
- Khi con thức mẹ cho con bú,
Khi con lú mẹ lại ru hời.
Nuôi con cực lắm ai ơi
Chỉ mong cho con lưng dài vai rộng để lấp biển vá trời như ai.

- Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái Tử
Vợ trông chồng lên đứng núi Vọng phu.
Một mai tê bóng xế trăng lu
Con ve kêu mùa hạ, biết mấy thu mà đợi chờ!

- Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Người xa người tội lắm người ơi!
Chẳng thà không biết thì thôi
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn!

- Cầu mô cao bằng cầu danh vọng
Nghĩa mô trọng bằng nghĩa thầy mẹ sinh con.
Ví dù nước chảy, đá mòn
Xa nhau ngàn dặm, lòng còn nhớ thương!
2) Hò đối đáp:
Là một thể loại văn nghệ độc đáo được phổ biến ở làng quê. Vào những đêm trăng sáng, đâu đâu cũng trỔi lên những giọng hò tưng bừng, vui vẻ theo tiếng chày giả gạo nhịp nhàng. Hò đối đáp được tổ chức ở một không gian rộng, đông khán - thính giả tham dự. Hò giữa làng A và làng B, giữa xóm A và xóm B, giữa trai thanh và gái lịch.
Đặc biệt ở đây, người tham gia hò đối đáp là những người thông minh, lanh lợi. những o, những eng có tài ứng biến mau lẹ, có khi câu đối câu, chữ đối chữ. Hò đối đáp được chia làm hai loại: Hò ân tình và hò đâm bắt.
a) Hò ân tình.
Có thể lấy từ câu đố, một cốt chuyện đã có sẵn, hoặc đối đáp chuyện trên trăng dưới nước vô thưởng, vô phạt.
Bên nam lên tiếng:
- Đêm nay trời túi thui thui
Ơi o do dỏ ra nghe tui hò.

- Thò tay ngứt một ngọn ngò,
Ơi o do dỏ ra hò với tui!
Các cô gái đợi sẵn:

-Ai đứng ngoài đường cho muỗi cắn, chó kêu,
Vô đây phân giải đôi điều cho vui.
Các chàng trai chỉ đợi có thế:

- Chào Lê, chào Lựu, chào Đào
Ai xa chào trước, ai gần chào sau.
- Chào bên nam mất lòng bên nữ,
Chào người quân tử sợ bỏ bụng thuyền quyên.
Cho anh chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào.

- Ai có chồng thì khuyên chồng đừng sợ,
Ai có vợ thì xin vợ đừng ghen,
Ra đây ta hò hát cho quen
Rạng ngày ai về nhà nấy, há dễ ngọn đèn hai tim!
Đó mới là màn dạo đầu, cuộc hò được tiếp tục:

Nữ: Đố anh chi sắc hơn dao,
Chi sâu hơn biển, chi cao hơn trời?

Nam: Con mắt em sắc hơn dao
Lòng sâu hơn biển, trán cao hơn trời.

Nữ: Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít,
Trầu cả chợ răng lại gọi trầu không?
Ai mà đối đặng, làm chồng nữ nhi.

Nam: Chuối không đi Tây răng gọi là chuối sứ,
Cây không đi học răng lại gọi cây thông?
Anh đà đối đặng, em theo chồng về mau!

Nữ: Nghe anh học hết kinh Thi
Con cá nằm dưới cỏ là cá chi anh hè?

Nam: Anh đây học hết kinh Thi
Con cá nằm dưới cỏ anh nghi là con cá tràu.

Nữ: Em như bông sen trong hồ
Anh như bèo, như bọt, nhìn chi đặng cơ đồ nơi em!

Nam: Nước lên cho sóng cuốn theo,
Cho sen chìm xuống, bèo trèo lên trên.

Nữ: Em đây như con rồng vàng,
Chín tầng mây phủ nằm ngang giữa trời.

Nam: Anh đây có phép thần thông,
Vén mây, cởi gió bắt rồng coi chơi.

Nữ: Em đây như chiếc chuông vàng,
Treo trong thành nội có hàng ngàn quân canh.

Nam: Quân canh dù mấy chục ngàn,
Dùi chiêng anh mang sẵn, anh nện chuông vàng đứt đôi.
Một số câu hò đối đáp có khi trên đồng lúa, có khi ở sân đạp lúa hay bên cối chày giả gạo vào những đêm trăng thanh gió mát, có khi chuyền cả một khúc sông dài trên mặt nước lung linh.

Nam: Hỡi o khăn trắng đàng tê
Mau cởi khăn áo theo về cùng anh!

Nữ: Anh mau về làm một con heo quay, một mâm xôi cho ráo,
Rồi theo em ra phần mộ cáo với chồng xưa.
Chồng xưa em thác, để lại cái phần thừa cho anh.

Nam: Đó duyên thừa, đây cũng duyên ôi,
Có ưng chắc thì lấy chớ có xôi mô mà đòi.
Họ cứ tiếp tục xoi móc, chọc tức nhau như thế.

Nữ: Ai về nhắn ông xạ mau mau
Trai anh hùng đang tử vận giữa bàu thuyền quyên!

Nam:Em nhắn ông xạ làng ni hay ông xạ làng mô?
Rõ ràng thầy mẹ thiếp thác đó răng cứ đổ hô là chàng?
Càng khuya càng đấu đá quyết liệt:

Nữ: Thương thay mấy cụ chự bò
Cái lưng môốc thếc, cái giò đen thui!

Nam: Em về giở sách ra dò,
Cha em lúc trước cũng chự bò như anh.
b)Hò đâm bắt:
Đây là những điệu hò giữa trai và gái, thuộc loại văn chương truyền khẩu; thông minh, ứng xử mau lẹ là hai yếu tố chính. Đối thủ luôn tạo bất ngờ, người ra chiêu luôn dồn đối thủ vào thế bí. Ngôn ngữ có khi thuộc loại dân gian dung tục nghe móc họng, phạm thượng, họ không né tránh dùng từ ngữ, miễn đạt được mục đích. Đôi khi họ sử dụng cách nói lái rất tài tình.
Vào những năm 1930, 1940 tại một đêm hò ở làng Linh Yên (xã triệu Trạch):

-Nữ: Anh ra chi mỗi tháng mỗi ra,
Cực lòng em lắm, mạ cha hỏi hoài!
Mới nghe, cứ ngỡ là lời trách móc trữ tình, thực ra chị này muốn đem việc riêng của mình ra trêu. Bên Nam tức giận:
- Anh ra, cha em cũng ra,
Anh đây còn sống, cha em thác xuống ngả ba mất rồi!
Ở làng Bích La có hai đám hò nổi tiếng. Họ dùng lời lẽ để chơi nhau rất tài tình:

Nữ: Chê anh thợ đan đồ tre:
- Liệu bề đát được thì đan,
Đan rồi bỏ đó thế gian chê cười.

Nam: Không chịu thua, lại còn dùng lời đáp để nói qua một ý xiên xẹo khác.
Anh đây đan cũng giỏi, đát cũng tài,
Lận thì đè côi đè xuống, còn nức thì xỏ ngoài xỏ vô.

Nữ: Ghẹo anh thợ mộc:
Anh làm thợ mộc đã ra chi khéo,
Đóng bức đố xéo đã ra chi tài.
Răng không đưa cái lại (lưỡi) chàng ra chắn mộng, để thòi lòi mộng ra?

Nam: Anh đã đưa cái lại chàng ra chắn mộng,
nhưng thầy mẹ bên nhà khoát khoát xin đừng,
Để khi đi về móc áo, dở chừng treo khăn.
Càng lúc càng quyết liệt:

Nữ: Em mua cho anh cái dù tám cóng, dưới có móc đồng,
Răng anh không đội lại để đầu không rứa hè?

Nam: Cái dù tám cóng dưới có móc đồng
Em đem về cho cha em đội, cho nội em che,
Phận anh con rể đội nón tre quen rồi.
Một đêm hò ở làng Bích Khê, Triệu Long: Ở đây bên Nam gây chiến trước:
Tiếng đồn em lấy phải chồng tra,
Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng?

Nữ: Tre già thì dẽo hơn măng,
Ớt cà tra có hột hơn thằng ớt non.

Nam: Cảnh bên em chơi mần răng thì anh không biết,
Chứ cảnh bên anh thì thượng cầm, hạ thú, xướng hát đờn ca
Đêm nằm nệm gấm thêu hoa,
Thấy hồ vàng bên nớ, muốn qua thả con cá chình.

Nữ: Cảnh bên mấy anh chơi rứa không mấy thú,
Chứ cảnh bên mấy chị Mai, Lan, Cúc, Trúc, Tùng mộc chậu sành,
Trên thì lưỡng long triều nguyệt, dưới gốc dành dành có cá thia lia.

Nam: Cá thia lia núp bụi cỏ thia lia,
Con cá tràu của anh ăn đã quá khuya,
Thiếp ơi hỡi thiếp, mở cửa đìa cho cá anh vô.

Nữ: Cửa đìa đầy dẫy phân trâu,
Cá kia có muốn thì chui đầu vô ăn.
Nhưng cuối cùng thì bên nữ thường xuống giọng vuốt ve:
Mai chừ hò qua đối lại, tiếng dại lời khôn,
Đêm dài khắc khoải nghe trong dạ bồn chồn chàng ơi!

Những câu hò ân tình, đối đáp hay hò đâm bắt là món ăn tinh thần, văn hoá rất quý của quê hương còn lưu truyền trong dân gian tại vùng đất Triệu Phong, Quảng Trị. Tôi chỉ ghi ra đây một số câu tiêu biểu mà lớp trẻ bây giờ chắc là không còn biết nữa. Trong hai cuốn Văn học dân gian Triệu Hải và Văn học dân gian Quảng Trị, các tác giả đã sưu tầm, nghiên cứu khá công phu loại văn chương truyền khẩu này, nhưng không biết bao nhiêu là đủ. Tôi mong công việc ấy vẫn tiếp tục để có thể lưu truyền cho hậu thế hiểu biết và thưởng thức những tác phẩm văn học dân dã mà tuyệt vời, được sáng tác từ cửa miệng của những người bình dân qua sinh hoạt lao động và vui chơi giải trí của quê miềng./.
Lê Bá Tâm
Tải Blog 02.05.2010


Tập thơ TÂM TÌNH HOA AN- Lê Hữu Khư



Blog Hương Thời gian kính giới thiệu tập thơ của Hoa An  là thân sinh của thầy Lê Hữu Thăng CGC trường Trung học Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị gửi tặng 
Cố thi sĩ: HOA AN - LÊ HỮU KHƯ 
Sinh năm Nhâm Dần (1902), tại Giáp Đông- làng Bích La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, đã tham gia xây dựng một số công trình thủy lợi - giao thông ở các tỉnh Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình. Mất ngày 22  tháng 6 năm Ất Sửu (08/8/1985). 
BÚT TÍCH CHỮ VIỆT và NÔM  CỦA  CỐ THI SĨ HOA AN
LỜI BẠT

Với ý nguyện tưởng nhớ công ơn sinh thành của Song Thân, chúng tôi sưu tập thơ “TÂM TÌNH HOA AN” mang nổi niềm hy vọng:

“ Thác là thể phách, còn là tinh anh”

Chút “ tinh anh” đó là lẽ sống, “Sống sao khỏi thẹn với thân này”. Cái thân suốt một đời tận tụy với nghề xây dựng giao thông- thủy lợi; lặn lội suốt sáu tỉnh miền Trung nước Việt; cho dù có lúc phải ngược lên nơi núi ngàn heo hút với ngựa thồ, người gánh vất vã trong hơn bốn mươi năm ròng rã với công việc.

Lương vốn ít, nhưng lương tâm nghề nghiệp lại nhiều, tính tình lại cương trực, không ham lợi, hết lòng với bà con, họ mạc; đùm bọc nhau tha hương kiếm sống. Một cuộc sống tuy đạm bạc, nhưng hạnh phúc vô cùng là đã góp phần làm nên nhiều công trình dân sinh. Qua thời gian   chiến tranh tàn phá với bao nổi phủ phàng đến vơi thân phận; cái còn, cái hỏng. Chút “ tinh anh” đó là tấm lòng tha thiết với quê hương, dòng họ. Dù ở đâu tâm hồn vẫn luôn hướng về nơi mảnh đất có “ Nương, vườn, miếu, mộ”. Đó là tình người mang hơi ấm nồng nàn đối với gia đình thân thuộc, tâm huyết với bạn bè, đậm đà cùng thi hữu.

Cuộc đời “ HOA AN” cũng đã gặp những hoàn cảnh éo le, cay đắng, đã ngậm ngùi câu “Sầu ngâm” buồn tủi; nấc lên lời “Tự trào” tê tái; viết nên “Bức tâm thư” ứa lệ… cũng đã trãi qua bao thăng trầm, mất mát trong cuộc sống. Nhưng vốn là người nhân hậu, biết đạo lý và thời cuộc, gia đình lại thuận hòa, nề nếp nên Hoa An đã có một tuổi già thanh thản để rồi nhẹ bước ra đi, lưu lại cho con cháu những nét đẹp của tâm hồn qua những dòng bút tích của mình.

Ước mong sao chút “tinh anh” đó của HOA AN sẽ được đâm chồi, nẩy lộc trong gia tộc như con suối nhỏ sẽ trở thành con sông lớn.

Và sẽ may mắn biết bao khi tập thơ và những bài thơ như trải hết tâm hồn của Người; xem đây là kỷ vật chan chứa tình thương để các lớp hậu duệ của các thi hữu đã nêu danh trong thi tập có dịp liên lạc được với nhau, nối tiếp mối nhân duyên một cách thân tình của thế hệ tiền bối đã gieo tạo.

Quảng Trị, ngày giỗ năm thứ 10 (1995) 
Các con của HOA AN - LÊ HỮU KHƯ


TỰ TRÀO



Mẹ già cũng bỏ, nước có loạn ngồi yên, mầy râu như thế !!!

Vợ không dễ mà xa, con không từ mà biệt, gan ruột nhường nào!!!

1947
SẦU NGÂM
…Lên vùng tạm chiếm núp nằm buồn quá, có mấy câu “sầu ngâm”

VỊ QUỐC VONG GIA
MẠC NẠI NHI SI TÙY ĐẠI NGHĨA

SỰ THÂN KHÓA TỬ
KHAM LÂN NỘI TƯỚNG ĐÃI NGÔ LAO
1947
Dịch:
Vì nước quên nhà
Vẫn biết nam nhi thì nghĩa vụ
Thờ trên dạy trẻ

Xót thương bồ liễu gánh giang sơn
 

72 TUỔI TỰ THỌ

Tinh thần minh mẫn sức còn dai
Ăn ngủ không hơn chẳng kém ai
Tuổi thọ trời cho, Ờ! Nhớ lại
Năm mươi năm trước mới hăm hai
                                       1974

73 TUỔI TỰ THỌ

Tính lại xuân thu đã bảy ba
Ăn ăn ngủ ngủ nói ba hoa
Giang hồ dong duổi chân còn cứng
Chỉ kém Trần Quân đại tiểu khoa*

Bảy chục xuân thu lại lẻ ba
Thi thơ ăn nói cũng văn hoa
Nếu sinh gặp lúc e không dám
Cùng với Trần quân thử một khoa
1975
* Chú thích: Đại đăng khoa: Thi đậu
- Tiểu đăng khoa : Cưới vợ, sinh con.
Ông Trần Tu 73 tuổi đậu Trạng nguyên vua gả công chúa cho
 
79  TUỔI TỰ THỌ

Sang năm Thượng thọ sướng hung hè!
Mắt rỏ răng nguyên chỉ kém nghe
Ăn uống ngon lành không chuộng vị
Đứng đi khỏe khoắn chẳng cần xe
Thi thơ ngâm vịnh vui ngày tháng
Trà rượu tiêu diêu với bạn bè
Thế sự thăng trầm không chút bợn
Nhàn lai vô sự khỏe khòe khoe
              Canh Thìn 1980

XUÂN TÂN DẬU 80 TUỔI

Thượng thọ người thường những ước mơ
Tớ nay tám chục chẳng ai ngờ
Mày râu lốm đốm dầu chưa bạc
Da thịt hồng hào dáng vẫn tơ
Nghe ngóng chuyện đời tai đã chán
Nhìn xem cuộc thế mắt không mờ
Hay hay dỡ dỡ chi chi mặc
Tết đến vui đề mấy vần thơ

Sống trên tám chục sướng trời ơi!
Nhất phẩm triều đình cũng thế thôi
Chúc thọ cháu con nhà chật ních
Niệm tình bạn hữu thiệp đưa rồi
Sẵn heo xách cổ  làm đôi chú
Lấy nếp đem hông đại ít nồi
Hương Lý tìm hoài không thấy bóng
Ai ăn mà hết thịt và xôi
* Bài này nói khoác loác chơi cho vui “ Tước xì ngang nhau” “ Triều đình mac trọng ư tước” “ Hương đăng  mạc trọng ư xì”

Sống trên tám chục sướng chi bằng
Danh vọng lâng lâng giữa xóm làng
Thường tình phải có chi ra mắt

Không lẽ làm thinh rứa mãi răng ?
Bò heo đắt đỏ không làm nổi
Gà vịt thô sơ đủ gọi rằng
Con cháu xa xôi về một số
Quây quần múa hát dưới đèn trăng

XUÂN QUÝ HỢI 82 TUỔI

Chúc thọ lắm người chúc đủ trăm
Mà mình chỉ mới tám hai năm
Đường còn xa lắc không lùi bước
Ta hãy làm ngơ giữ vững tâm
Ngủ ngủ ăn ăn thường tịnh dưỡng
Thi thi phú phú mãi nhàn ngâm
Ai mà thấy sổ Thiên Tào rứa
Vui vẻ cho mình thử hỏi thăm
                                           1983

XUÂN GIÁP TÝ 1984

Tiệc thọ chung vui để gọi là
Mừng tôi sống đến tám mươi ba
Tùy gia phong kiệm không bò lợn
Khỏi tiếng xa hoa chỉ vịt gà
Bàn cổ thô sơ tình mật thiết
Thơ văn chúc tụng nghĩa sâu xa
Dâu con cháu chắt dù chưa đủ
Hớn hở đua nhau nhộn hát ca

Trời cho tám chục lẻ thêm ba
Sức khỏe còn y lúc tuổi già
Tuổi thọ mừng vui nâng chén nhắp
Tình nồng man mác nhớ người xa
Tiếc không đây đó ngồi chung chiếu
Để thấy dâu con đứng chật nhà
Ông Cậu trông hoài không đến dự
Xe tàu gay cấn khó bề ra

Xuân này nữa mới tám mươi ba
Thanh vắng canh khuya ta với ta
Chăn gối lỡ làng dù phải vậy
Cháu con đông đúc đủ vui mà
Trong Nam ngoài Bắc đi thăm khắp
Xe điện tàu bay chẳng ngại xa
Hưởng phước an nhàn cho đến lúc
Cùng nhau thiên cổ hội chung  nhà

Tám mươi ba tuổi sống dài lâu
Tiệc thọ thô sơ thết một chầu
Nội ngoại hai bên mừng khánh hỷ
Con dâu phân nửa trể xe tàu
Bạn bè thứ lỗi không tin trước
Thơ rượu xin hầu sẽ gặp sau
Yến tiệc sao bằng tình hữu ái
Những câu vàng ngọc đậm đà sâu

XUÂN ẤT SỬU 1984
  
Xuân này tuổi tớ tám mươi tư
Rằng phải thêm hơn tớ cũng ừ
Chín chục mon men đang thấy thiếu
Mười mươi đầy đủ cũng không dư
Giàu sang đất nứt không hề thiết
Phúc thọ trời ban chẳng dám từ
Ai bảo sống dai ăn uổng gạo
Bắc thang mà hỏi thử “ Răng chừ”
 
Vào đời gió bụi tám tư xuân
Sướng cực buồn vui đã mấy lần tỏ mở tinh bốn mắt

Đường đời dư sức siu vững ba chân
Từng quen lao động
Đâu chịu an nhàn đợi bữa ăn
Rèn luyện đấu tranh gây phản xạ
Đẩy lùi lão hóa của thời gian
1985
                                         
XUÂN NHÂM TUẤT 1982

Tết đến đồi mai hớn hở cười
Nhí nha nhí nhảnh áo vàng tươi
Chúa xuân mơn trớn tô thêm nhụy
Trước gió đưa hương nhảy múa chơi

Đón xuân

Tuổi già cùng trẻ đón xuân sang
Vui nhộn đua nhau hát nhịp nhàng
Tóc bạc đầu xanh còn lắm lúc
Trái tim hòa hợp ấm tình thương

Mừng mến tặng
hai cháu gái nhỏ

Tết đến vui mừng được tiếng khen
Đứng đầu toàn diện phải đâu hèn
Tường-  Minh nay rỏ thông minh thật
Cố gắng trau dồi vững tiến lên
LẼ SỐNG

Cuộc sống riêng ai chẳng phải vay
Sống sao khỏi thẹn với thân này
Quần sờn díp lại sao cho sạch
Cơm thiếu thêm canh cũng thất đầy
Bửa củi xong rồi ra cuốc đất
Khêu đèn lật sách ngẫm thơ hay
Diêm vương nếu có lên nhà hỏi
Dạ bẩm: “Thưa ông có tớ đây!”.

TƯỢNG ÔNG PHỔNG ĐÁ

Cái anh phổng đá có ra chi
Tháng lụn ngày qua cứ đứng lì
Lắm kẻ đói nghèo đâu có biết
Mặc ai xua đuổi chẳng thèm đi
Tuy cao danh vọng mà ba láp
Nói đến tài năng có mốc xì
Hòn đất nắn nên rồi cũng đất
Tượng kia vẫn đá, chúng khinh khi.

CỦA TRỜI

Của trời đây đó chẳng riêng ai
Mặc sức cho ta cứ việc xài
Mát mẽ rừng thông nằm thẳng cẳng
Cợt đùa sóng biển ngập ngang vai
Ráng mây vọng cảnh thâu vào mắt
Kinh kệ huyển không rỏ tận tai
Sức khỏe đang còn, còn lắm lúc
Du sơn du thủy hưởng chung vui

QUÊ TÔI

Quê tôi Quảng Trị xác xơ nghèo
Sánh với Thừa Thiên đặng chút cheo
Triệu Hải đôi nơi hai vụ cấy
Gio Cam lắm trũng một mùa gieo
Ba lòng đất đỏ thừa ngô sắn
Hương Hóa rừng xanh lắm cọp beo
Vườn ruộng hoa màu dù kém cỏi
Nhân tài thì khỏi phải cheo leo
                                         1972

ĐỊNH CƯ

Định cư ta bảo chúng ta ơi
Oan ức kêu vang đến tận  trời
Là kẻ mất nhà lo chạy bữa
Dân phường xơi nước cứ ngồi chơi
Tham lam quen thói ăn phân bón
Liếm láp luôn người thiếu nón tơi
Chi phiếu lấy rồi ngâm lấy lợi
Chầu chục cả tháng mấy trăm người

CAO LƯƠNG CẢM TÁC

Cao lương tên đẹp biết bao người

Ăn lắm vào nghe ruột khó tiêu

Thiếu gạo đành cam đun ghế lộn

Lưng bầu khó chịu cứ xơi liều

Đêm nằm ậm ịch sôi trong bụng

Sáng dậy lon bon chạy xuống cầu

Khắc khổ đề ra tuân rắp rắp

Đâu đâu dân chúng vẫn kêu rêu
CẢM TÁC
KHI GẶP LẠI ÔNG BẠN THÂN NGƯỜI QUẢNG NGÃI
Nhân ông và chú em tôi, tôi và chú em ông mới là người chí thân, nên gặp nhau không sao quên được hai chú em ấy nay kẻ chết người đi xa.

Ba chục năm hơn lại gặp nhau

Dung nhan không khác, khác hàm râu

Trời cho mạnh khỏe âu là quý

Tiền đủ tiêu pha lọ phải giàu

Thi phú ngâm nga ngồi nảy gối

Ngựa xe lên xuống đứng khom đầu

Mừng mừng tủi tủi tôi cùng bác

Mấy chú em mình đâu… ở đâu?



Mấy chú em mình đâu… ở đâu?

Trách cho con tạo khéo cơ cầu

Non sông gấm vóc bơ phờ mặt





Cây cỏ xanh tươi ủ rủ mầu

Bạn hữu xưa nay lâu lại gặp

Anh em máu mủ cũng xa nhau

Sa trường dư hạ bao nhiêu nhỉ  
Cảnh ấy ai gây tội lút đầu.

 
 Ảnh chụpcủa Hoa An tại Nha Trang  tháng 6/1985