Thứ Năm, 16 tháng 12, 2021

CHUYẾN ĐÒ CHIỀU Linh Đàn & nhiều tg. họa thơ.

 

KÍNH CHIA SẺ:
 các bạn đọc cùng như các tác giả đã góp họa cùng tác giả là 
Cố nhà thơ: LINH ĐÀN (Nguyễn Hữu Kiểm, 20/11/1939- 13/12/2020) 
Bút danh: LINH ĐÀN
Quê gốc : Gio Linh, Quảng Trị. 
Sinh sốngtại TP. Hồ Chí Minh năm 2011 với bài xướng:  
 

"CHUYẾN ĐÒ CHIỀU" , được nhiều thân thi hữu tham gia họa .
Những bài họa xướng đã tải lên trang Blog Văn Thiên Tùng- Hương Thời Gian ngày 03/11/2011, Trang mục Họa thơ Đường năm 2911. 
 
BÀI XƯỚNG:
CHUYẾN ÐÒ CHIỀU
 
Tay đưa nhè nhẹ mái chèo ngang,
Mà thấy sao thơ lộn bóng vàng.
Một góc trời mơ - mơ bát ngát,
Đôi bờ bến nhớ - nhớ mênh mang.
Mãi nghe tim réo lời lưu luyến,
Còn hỏi ai chi chuyện lỡ làng.
Thầm trách - mà thôi đừng trách nữa,
Bóng chiều vẫn đẹp tiễn em sang.
Linh Đàn.
 
BÀI HỌA:
TIỄN CHUYẾN ĐÒ CHIỀU
 
"ĐÒ CHIỀU" bất chợt ghé vừa ngang,
Chấp bút đôi câu dẫu vội vàng.
Vần tỏa êm đềm hương bát ngát,
Điệu lan ngây ngất ý mênh mang.
Sông trôi có thấy người lưu luyến?
Nước chảy hay chăng kẻ lỡ làng?
Chậm bước mong gì thêm chuyến nữa,
Lần này xin vẫy tiễn ai sang.
Nguyễn Tường.
 
ANH CÓ VỀ QUÊ
 
Anh có về quê thăm Quán Ngang,
Có qua Nhĩ Hạ ngóng trăng vàng.
Chợ Cầu ngày ấy tường xiêu xó,
Dốc Miếu thuở nào cỏ hỗn mang.
Nỗi nhớ bâng quơ chiều phố thị,
Niềm thương chan chứa lũy tre làng.
Giọng hò ai đó trên sông vắng,
Khua mái chèo khuya vắt áo sang.
Võ Văn Hoa.
 
Mấy ngày nay vùng Boston Tuyết xuống ồ ạt,
xúc mệt nhừ, mặc dầu vậy, nhà thơ Lê Ngọc Kha
vẫn không quên nghiệp chướng thơ ca và đã chia sẻ:
 
CHUYẾN ÐÒ CHIỀU
 
“Chuyến đò chiều” tạt ghé qua ngang,
Vội vã thăm em dưới nắng vàng.
Một khối ân tình - tình vẫn giữ,
Muôn ngàn nhân nghĩa - nghĩa luôn mang.
Trăng thanh gió mát trời non nước,
Lối cũ đường xưa cảnh xóm làng.
Xa cách lâu rồi giờ gặp lại,
Ngày vui còn mãi bước chân sang.
Lê Ngọc Kha.
 
CHUYẾN ĐÒ CHIỀU 

Chiều xưa xao động chuyến đò ngang,
Buông mái chèo khua ánh nắng vàng.
Lặng lẽ chờ trăng – trăng chếch chếch,
Âm thầm nhìn bóng – bóng mang mang.
Ai đi có nhớ tình sông nước?
Kẻ ở sao quên nghĩa xóm làng…
Đã mấy mùa hoa lau nở trắng,
Lửa lòng vẫn thắp đợi người sang.
Lê Ngọc Phái.
 
CHẬP CHỜN MỘNG TƯỞNG
 
Bến chiều thấp thoáng bóng đò ngang,
Chân bước bâng khuâng rộn tiếng vàng.
Mấy thưở tình ươm - ươm biếc biếc,
Bao lần hồn thả - thả mang mang.
Xuân hồng theo bướm bay đầu ngõ,
Đông xám nhìn cây đứng cuối làng.
Thương nhớ - một thời sao nhớ mãi,
Chập chờn mộng tưởng mỗi mùa sang !
Đỗ Trầm Tư
 
MẢNH ĐỜI CHIỀU 
 
Một thuở đời xanh chuyện dọc ngang,
Thoắt ngoái nhìn lui lạnh tuổi vàng.
Ly khách gieo vần buồn tửng tửng,
Hồ trường nhấc chén nhớ mang mang.
An nhiên tự tại thành ông cụ,
Tất bật bon chen cũng lão làng.
Hái đóa vô thường xin gởi bạn,
Làm quà mừng tuổi đón xuân sang.
Costa Rica, chuẩn bị đón năm mới 2011
Trần Kiêm Đoàn
 
RÁNG CHIỀU VƯƠNG
 
Bóng chiều sợi nắng đã xiên ngang,
Thầm tiếc hoàng hôn xuống vội vàng.
Nghiêng nón ai về - ai hối hả,
Não lòng kẻ đợi - kẻ vương mang.
Mơ màng trước nhớ bờ tre xóm,
Man mác sau thương đá cổng làng.
Cứ tưởng lời nguyền xưa đẹp mãi,
Lỏng rồi tay lái - mắt trông sang.
Bạch Thược
 
CHUYẾN ĐÒ NGANG

Ô Lâu quê mẹ chuyến đò ngang,
Sao vắng người xưa thuở nắng vàng.
Một chiếc thuyền yên về gối bãi,
Đôi dòng nước chảy đến mênh mang.
Ta về tìm lại nơi thôn ấy,
Em đã ra đi vắng xóm làng.
Đâu dám trách em sao vội nỡ,
Rời quê em đến chốn cao sang!
Trương Lan Anh.

NIỀM LY CÁCH
 
Bến cũ đò chiều dạ ngỗn ngang,
Nỗi ai say đắm ngập chiều vàng.
Một dòng nước xoáy - lòng đang xoáy,
Nửa gánh tình mang - nợ phải mang.
Quên cả nghẹn ngào trong lối xóm,
Xiết bao đau khổ giữa đường làng.
Giờ đây gẫm lại niềm ly cách,
Thầm nhớ những chiều mắt ngóng sang.
Hạnh Trang.
 
CHIỀU TRÊN BẾN CŨ 
 
Bến nước tơ lòng vướng ngỗn ngang,
Sóng chao từng gợn nắng rưng vàng.
Sầu chôn đáy vực - sầu chưa lấp,
Nhớ thả lưng trời - nhớ vẫn mang.
Bóng cũ như màn sương cuối bãi,
Tình xưa tựa lớp khói sau làng.
Chim về núi thẳm chiều qua vội,
Gió lạnh từng hồi lại kéo sang.
Suối Bạc, 27-12-2010 
Nguyễn Vô Cùng
 
KHÁCH LỠ LÀNG
 
Từ chàng thi sĩ liếc nhìn ngang,
Để kẻ vời trông đến võ vàng !
Lãng mạn người khơi-khơi lối mộng,
Ngại ngùng thiếp luyến-luyến tình mang!
Những mong có được ngày sum họp,
Nào ngỡ còn đây buổi lỡ làng.
Đâu biết -lòng người đâu biết thế?
Giả vờ như vẫn đợi ai sang !!!
Tâm giao Nguyễn Văn Tương
Buồn gửi bến xưa
(nhị thủ - thuận nghịch độc)
1.
Chân bước lạc đường khuất bến ngang,
Trước thu mùa rụng lá khô vàng.
Vân hoài cảnh hoạ tình theo đến,
Mộng ủ hồn say giấc lại mang.
Ngần ngại thoáng mơ đêm vắng hạ,
Hững hờ sương trắng điểm xa làng.
Ngân hoài tiếng vọng lời ai oán,
Trần tục cõi duyên muộn chuyến sang.
2.
Thương người tiễn muộn bến đò sang,
Đến chậm đêm khuya cảnh vắng làng.
Đường lạc bước xa tình hận mãi,
Bóng mờ trăng rũ lệ sầu mang.
Vương hoài giấc mộng đầy sương trắng,
Vọng oán hồn thu đẫm lá vàng.
Gương vỡ đã xa rời ước nguyện,
Trường Giang viếng bạn nhớ đò ngang.
Đông Hòa NCH, 29.12.2010
 
BẾN XƯA

Bao năm gắn bó chuyến đò ngang,
Từng buổi trường tan nhạt nắng vàng.
Dòng nước lao xao dồn vỗ mạn,
Nhịp chèo thanh thoát gợn mang mang.
Khung trời cổ độ vầng trăng khuyết,
Cánh nhạn tịch dương trải lẹ làng.
Thừa Phủ, người ơi, bao mộng ước !
Phế hưng dồn dập vội vàng sang !
Hạ Thái.
Trần Quốc Phiệt
 
BẾN CHIỀU
 
Ai người thuở ấy vội sang ngang,
Khi ánh tà buông lướt thướt vàng.
Lóng lánh sông xanh-xanh loáng biếc,
Dật dờ sóng bạc- bạc mênh mang.
Lời yêu mãi thắm từng con chữ
Kỷ niệm hoài in nẻo bến làng.
Dõi ngóng thuyền xa lòng quặn xót,
Bấy mùa lá rụng ...bấy heo sang.
Quảng Trị 01/01/2011
 
CHUYẾN ĐÒ CHIỀU
 
Khách đợi thuyền chèo bổng chắn ngang
Bơ vơ đứng dưới nắng thu vàng
Trời riêng một mảnh đang rào cản
Trăng khuyết nữa vầng chịu vướng mang
Xé nát con tim trên bến nước
Dày vò lòng dạ dưới bìa làng
Trách sông cách trở cầu không nhịp
Anh tiễn em về lở chuyến sang !
Thanh Dàn.
 
ĐÒ CHIỀU

Trời chiều khách đợi chuyến đò ngang
Mặt nước trông như dát lụa vàng
Cảnh cũ còn đây lòng vướng bận
Người tình vẫn đó dạ vương mang
Niềm thương gửi gắm đầu con phố
Nỗi nhớ xôn xao dưới gốc làng
Trách phận duyên đời ta bạc bẽo
Bùi ngùi bến đợi tiễn người sang
Lê Phượng Thắm
 
 


 

Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2021

HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ & HỘI THƠ HÃN MAI Linh Đàn.


NHÀ THƠ LINH ĐÀN

Nhà thơ Linh Đàn ( Nguyễn Hữu Kiểm) Quảng Trị đã cởi hạc về trời
sau hơn 82 năm ở chốn hồng trần trải nghiệm kiếp nhân sinh. Ông để lại cho hậu thế nhiều sáng tác thơ văn đặc sắc.


 Một nhà Cổ học Quảng Trị, Nhà thơ Linh Đàn Nguyễn Hữu Kiểm. Sinh năm Kỷ Mão, 1939 tại: Làng Lan Đình, Gio Linh, Quảng Trị vừa quy tiên lúc 13h05 ngày 13.12.2020, (nhằm ngày 29.10 Canh Tý). Hưởng thọ: 82 tuổi
Năm 2018, nhân dịp dự ngày họp mặt đồng hương Gio Linh tại ks Continental,
Anh Tri gặp ông và chúc Tết. Ông cho biết rất mến mộ thầy trò trường TH Nguyễn Hoàng và thích đọc đặc san Hương Quê Nhà của Ái hữu CHS Nguyễn Hoàng, tuy báo nội bộ mà nhiều thể loại với nội dung phong phú, giá trị.
Năm 2020, ông gởi bài cho HQN và nay bài viết đó trở thành kỷ niệm với người đã khuất.
Xin giới thiệu cùng những người yêu thơ văn bài viết của cố nhà thơ Linh Đàn mà tôi sưu tấm trong trang của nhà thơ Võ Quê, trong đó có nhắc đến kỷ niệm văn chương của ông với Hội cổ học Quảng Trị nơi tụ hội nhiều giáo sư Nguyễn Hoàng, thân phụ của các anh chị NH, và đặc biệt là với anh Dương Văn Tường. Mời xem: 
 

HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ & HỘI THƠ HÃN MAI
Linh Đàn.
 
Hồi tôi mới lớn, tôi thường thấy quý cụ gọi nhau đi dự hội Cổ Học, mỗi lần đi dự hội, quý cụ chuẫn bị mấy ngày trước khăn đóng áo dài cho vào gói đeo vai sẵn sàng, đến ngày đi từ mờ sáng quý cụ quảy gói lên đường rồi đến 3 -4… ngày sau mới về lại nhà, từ làng tôi vào thị xã Quảng Trị tính theo đường QL1 là 24km, sau ngày chia đôi đất nước 1954, việc lưu thông, từ Gio Linh, hoặc Trung Lương vào Quảng Trị phải đi bộ đến Đông Hà, cũng mất gần một buổi sáng, đến chợ Đông Hà mới có xe khách đi Quảng Trị, xe nào xe nấy chật như nêm, phần nhiều là khách đứng, nếu đi đường sông thì phải đi trước 3 ngày, thế nhưng năm nào quý cụ cũng tham gia đông đủ. (cuối năm 1958 mới có xe đò chạy từ Đông Hà ra Gio Linh, Trung Lương và ngược lại)
Đến năm 1962 tôi được đề cử vào ranh giới Trị Thiên, để đón phái đoàn Cổ Học Trung Ương từ Huế ra, tôi là người trẻ nhất của phân hội Cổ Học Gio Linh, rồi từ đó tôi được ghi danh vào Hội Cổ Học Quảng Trị. Sau nầy tôi vào Hội mới biết tôn chỉ của hội Cổ Học và ngày tế Đức Khổng Tử. tuy tôi được nhập hội nhưng chỉ được nghe ngóng và chấp hành, vì còn quá trẻ, và phải còn “giữ lễ”
Nói về tôn chỉ là phải biết về quan điểm của hội Cổ Học, biết về phần học thuyết NHÂN SINH QUAN, theo quan niệm luân lý Á Đông, và sự suy tôn VẠN THẾ SƯ BIỂU, cùng hiểu qua tiểu sử của Đức Khổng Phu Tử. và các môn đệ tiêu biểu của Ngài, như Thầy Nhan Hồi, Thầy Tử Cống, Thầy Mạnh Tử chẳng hạn…….
Còn phần tế lễ thì cứ đến giờ Dần ngày 27 tháng 8 âm lịch hằng năm là cử hành tại Khổng Miếu, trên chính điện là di ảnh đức Khổng Tử, phía ngoài là lư trầm bát nhang, kế đến là 3 ly nước trong, hai bình bông vàng, và cặp đèn bạch lạp, (không có lễ tế sát sanh) vị chủ tế đội mũ văn, áo rộng xanh, và thầy cúng đọc bài văn tế bằng chữ Hán, không có chiêng trống kèn nhạc, phần nghi thức hết sức long trọng, nhưng chỉ diễn ra trước lúc mặt trời mọc là xong, sau đó là lễ cúng ngoài trời. khoảng 8 giờ sáng (7giờ sáng hiện nay) vị tỉnh trưởng, nhân viên tỉnh tòa, và các ty sở ban ngành trong tỉnh cùng mặc quốc phục long trọng đến Khổng Miếu niệm hương, dâng hương, đến năm 1963 bắt đầu có mấy vị nữ tham dự, không phân biệt người theo tôn giáo nào, trong Nam thì không biết sao, còn riêng Quảng Trị, chỉ có Phật Giáo, Công Giáo và người thờ Ông Bà gọi là Lương, nên việc tế Đức Khổng Tử diễn ra năm nào cũng có các thầy tu, các linh mục và các cụ đến chiêm bái hết sức long trọng, có một điều không thể nào quên, là cứ đến ngày 27 tháng 8 hằng năm đoạn đường Trần Hưng Đạo - Quảng Trị từ phía sau tòa tỉnh, qua ty tiểu học vụ đến cổng Khổng Miếu là toàn bộ khăn đóng áo dài, không thấy bóng dáng một bộ âu phục nào đi qua đó, giống như một quốc gia dưới thời vua chúa xa xưa
Nói về sinh hoạt của Hội Cổ Học Quảng Trị, tôi thấy sự cung kính chào thưa ngày thường thật sự là nề nếp nho phong, đúng là phép tắc của cổ học, người xưa trọng chữ tín và tuân thủ lễ nghĩa, trọng phẩm cách nhưng không ươn hèn mà họ gọi là “đạo quân tử”, Đạo Quân Tử lấy sự “lập ngôn” (lời nói phải cách) làm đầu gọi là “lễ”, chữ lễ chia ra nhiều cách, như “lễ phép” = phép tắc xưng hô, “lễ nghi” = nghi thức ứng lễ, và “lễ nghĩa” = sự cư xử ở đời cho phải đạo ; thứ 2 là “lập đức” = “đạo đức trong việc ứng xử”, “đạo hạnh trong việc cư xử”, “đạo lý trong việc luân lý”; thứ 3 là “lập chí” = “kiên định lập trường, quyết đoán chính chắn trong việc làm”, và cuối cùng là “lập thân” = “làm tròn 3 nhiệm vụ trên”, đó là “tiêu chí của mỗi hội viên Hội Cổ Học Quảng Trị” ngày xưa. Tôi cũng xin nhắc lại ở đây “Hội Cổ Học” được danh xưng là Đạo Quân Tử nhưng không phải là một tôn giáo.
Song song với Hội Cổ Học là Hội Thơ Hãn Mai còn gọi là Hãn Mai Thi Xã, song hành nhưng rất khiêm tốn với Hội Hương Bình Thi Xã ở Huế. xướng họa thơ Đường Luật, và sáng tác thơ Song Thất Lục Bát, thơ Lục Bát, thơ Phá Thể, Văn Ai, Văn Tế, Phú, Hoành Phi và Câu Đối.
Thường thường Hội Trưởng Cổ Học kiêm luôn chức hội trưởng hội thơ Hãn Mai, hồi tôi mới vào hội, hội trưởng là cụ Tú Hiệt (Nguyễn Hữu Hiệt) bút danh là Thạch Lữ, quê làng Đại Hòa, cụ là một nhà thơ nổi tiếng của Quảng Trị, không những thơ Nôm mà còn thơ Chữ Hán, trên các tạp chí của Đài Bắc hay Hồng Kông cũng in thơ Cụ, cụ còn làm thơ thời cuộc, đại để như bài thơ tết năm Đinh Mùi 1967 dưới đây :
 
KHAI BÚT NĂM ĐINH MÙI
 
Nhảy vọt sa trường “ngựa” đã ê
Xuống thang mong tới đoạn đường “dê”
Mừng tin gió mới cành hoa nở
Nhớ hẹn trăng xưa chiếc én về
Bức vẽ văn minh nhiều cảnh lạ
Bàn cờ thế cuộc có cơ huề
Đua nhau đốt pháo chào xuân mới
Chẳng nỡ trêu người giữa “giấc mê”
Thạch Lữ.
 
Tôi không nhớ năm nào cụ Lê Hữu Nguyện (anh ruột Đúc Cha Lê Hữu Từ) lên thay cụ Tú Hiệt, sau đó là cụ Hoàng Trọng Thuần còn gọi là Thầy Thoàn hay cụ Tú Thoàn lên nhậm chức, cũng kiêm luôn 2 chức vụ Hội Trưởng, cụ Thoàn là người năng động, muốn mở rộng hội viên cho lớp trẻ, để không trầm tĩnh như hồi trước, nên các giáo viên các trường tham dự hội khá đông, và phân viện Hán Học Đại Học Huế thường giao du, có linh mục Nguyễn Hy Thích, thầy Giản Chi, thầy Phan Văn Dật, nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, vv… thường tới lui ngâm vịnh, Hội Hãn Mai còn có các nhà thơ lão thành như : cụ cử nhân Trần Doãn Trai (cựu Thị Lang Bộ Hộ) cụ Nghè Ba, Cụ Học Thược, Cụ Mộng Xuân Đoàn Lỗ Bửu, thầy Thái Tăng Liên đều rất uyên Nho, và đặc biệt dung hòa giữa tân học và cổ học như các thầy Lê Đình Ngân, thầy Trợ Khởi, thầy Trợ Triễn, thầy Thông Thạnh, thầy Trợ Bân, thầy Ấm Đức, thầy Giáo Đích, thầy Trợ Thể, thầy Trợ Đăng, thầy Trợ Ngoạn, cụ Cửu Dương, cụ Xạ Dương, cụ Khóa Dương, thầy Trợ Mễ, cụ Tổng Vận, nghị viên Lê Thọ Dương, cụ Khóa Đào, cụ Khóa Ấm, cụ Phó Đào, cụ Khóa Huyên, cụ Hai Phố, cụ Hoàng Trọng Hưởng, cụ Tổng Quỳnh,… và một số giáo viên ty tiểu học vụ Quảng Trị, đa số giáo sư Trường Trung Học Nguyễn Hoàng, và một số thầy ở phân ban Nha Học Chánh Trung Nguyên Trung Phần sốt sắng tham gia.
Năm 1969, có cụ Kỉnh Chỉ Phan Văn Hy (quê Nhan Biều là bác sĩ đầu tiên của Miền Trung VN) là hội viên hội Cổ Học QT xưa, ở Saigon về thăm quê hơn một tháng, một cuộc xướng họa thỏa thích.
Lại nói về một bài thơ của cụ Kỉnh Chỉ hồi còn ở làng Cổ Đạm (Nghệ An) khoảng năm 1930 có quen cô Tuyết Ngọc, lý do xa nhau thì không nghe Cụ kể lại, nhưng với một bài thơ thật ấn tượng sau năm 1954.
 
NHỚ TUYẾT-NGỌC
 
Tuyết-Ngọc bây giờ em ở đâu ?
Trông về Cổ-Đạm chạnh lòng sầu
Chỉn* e yếu-đuối thân bồ-liễu
Phải chịu dày-vò cuộc bể-dâu
Gần-gũi đôi khi nhờ giấc mộng
Xa-xôi ngàn dặm ứa dòng châu
Trùng-phùng ví được ngày nào nữa
Kẻ tóc hoa-râm, kẻ bạc đầu
Kỉnh Chỉ
Chỉn* e = từ cổ là sợ e
Chỉn e quê khách một mình
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày
Kiều
-------------------------
Bài thơ nầy hồi đó Dương Văn Tường (Hà Thượng) còn học lớp đệ nhị (11) trường TH Nguyễn Hoàng QT họa, được hội thơ Hãn Mai chọn là bài họa hay nhất (vì ngoài 5 vần ra, còn họa luôn 3 vần trắc cuối câu 3, 5, và 7)
 
NHỚ MỐI TÌNH ĐẦU
 
Nhớ thương giờ cũng chẳng còn đâu
Vương vấn làm chi để chuốc sầu
Vò võ chờ ai bên gốc liễu
Mõi mòn nhớ bạn cuối nương dâu
Thử xem cuộc thế thực hay mộng
Gẫm lại chuyện tình ngọc lẫn châu
Tóc bạc mong chi ngày gặp nữa
Dở dang chi thế mối duyên đầu
Phụng họa
Dương Văn Tường.
 
Những dòng thơ ngày ấy bây giờ thấy còn nóng hỗi chiến tranh khi trở lại làng :
Mãi ở trong Nam mới trở về
Viếng thăm làng xóm dạ buồn ghê
Nương vườn bỏ trống dân sưa sết
Đồn bót vây quanh Mỹ bộn bề
Đưa đón đò còn nguyên bến củ
Lại qua người cũng khác năm tê
Căm hờn muốn vạch trời mà hỏi
Dâu bể gây chi cuộc ấy tề !
Kỉnh Chỉ.
 
Những bài xướng họa thuở ấy được thầy Châu Văn Trần Văn Bân ở ty Tiểu Học Vụ cho đánh máy cẩn thận, nhưng tôi đã làm thất lạc hồi bị giải tỏa nhà quá gấp ở Bà Rịa năm 2003 thật là quá uổng, không biết còn ai giữ được những trang thơ quý hóa nầy hay không.
Rồi cuộc tiễn đưa cụ Kỉnh Chỉ cũng không ít những bài thơ đầy ắp ân tình, vào mùa xuân năm 1970 cụ qua đời, cũng có những bài thơ rơi lệ.
 
KÍNH ĐIẾU CỤ KỈNH CHỈ
 
Ba sinh duyên nợ mãn lời nguyền
Nhường chán cõi trần – chọn chỗ yên
Giấc mộng tương tư vàng nhớ tuổi
Thanh bia trường hận đá nhìn tên
Thi mơ tuyệt tác tiên dừng bút
Đàn vắng tri âm khách cặm thuyền
Đâu nữa Hãn Mai ngày hạnh ngộ
Hồn thơ lai láng bể Tây Thiên
Thạch Lữ.
 
KÍNH ĐIẾU Bs PHAN VĂN HY
 
Cảnh Tiên Ông đã lên rồi
Nơi đây cảnh tục Ông ngồi mà chi !
Tìm đâu cho thấy bậc cao thâm
Thuốc thánh* thơ thần dội tiếng tăm
Nước Hãn đầy vơi lời ứa nghẹn
Non Mai trầm bỗng bóng xa xăm
Làng thơ còn đợi thi hào xướng
Người bệnh đang chờ bác sĩ thăm
Vòi vọi càng trông càng vắng vẻ
Ai ngờ Ông đã bước trăm năm
Phụng bút
Linh Đàn
----------------------
Thuốc thánh* = bác sĩ Phan Văn Hy chữa bệnh cả thuốc Tây lẫn thuốc Bắc cực kỳ giỏi
----------------------
Rồi cuối năm 1970 tôi lên Dalat tìm kế sinh nhai, không ở Quảng Trị nữa, hơn nữa hồi đó sự liên lạc với nhau không có phương tiện hiện đại như ngày nay, nên không còn biết gì về hội Cổ Học cũng như Hội thơ Hãn Mai nữa. vì vậy sau đó tôi viết bốn chữ hoành phi “MAI HÃN TINH THẦN” treo trên nhà ở Dalat để làm kỷ niệm “một ẩn số riêng”, khách nhà nho tới chơi lắc đầu mà phải chịu nính thinh mới tội nghiệp làm sao cho họ.
Không ngờ lên Dalat lại gặp Dương Văn Tường là Sinh Viên Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat trong những ngày chủ nhật, mà thật có duyên, nay lai gặp rất nhiều lần ở Saigon, là cựu hội viên hội thơ Hãn Mai trẻ nhất còn sót lại.
Rồi chiến cuộc năm 1972, Quảng Trị lại một lần tan nát, dân chúng hốt hoảng ra đi trong cơn lửa loạn, tình cờ tôi gặp nhà thơ Phan Văn Chiêu (là cháu gọi cụ Kỉnh Chỉ bằng bác ruột) chạy lên Dalat, sau một thời gian hoàn hồn, anh cũng nhắc lại bài thơ tặng cụ Kỉnh Chỉ hồi năm 1969 tại quê nhà.
 
MỪNG BÁC KỈNH CHỈ VỀ THĂM
 
Mười mấy năm hơn bác mới về
Quê nhà gặp bác thật mừng ghê
Bà con đón hỏi lòng sung sướng
Quan khách hàn huyên dạ hả hê
Hội ngộ câu thơ ngâm sảng khoái
Tương phùng chén rượu rót tràn trề
Biết bao thế hệ thay màu tóc
Nhìn thấy quê hương vẫn não nề
Phan Văn Chiêu.
 
Bài thơ nầy có 3 vần rất khó họa, hôm ấy tại Nhuận Ký Tửu Gia cụ Kỉnh Chỉ treo giải một con gà luộc, một rá tôm hùm và 2 chai sâmbanh nếu ai họa được vần “hả hê”, “tràn trề”, Linh Đàn hồi đó còn tấp tững nhưng cũng cố trổ tài, chỉ một giờ sau là có bài họa (thay lời Kỉnh Chỉ).
 
TRỞ LẠI QUÊ HƯƠNG
 
Lâu lâu mới có một lần về
Ngắm cảnh quê nhà nhớ nhớ ghê
Cụ lão ngày nào ngồi chững chạc
Thầy chùa thuở nọ tụng ha hê
Lần theo tường nát đau chân lội
Đứng giữa nhà hoang chép miệng trề
Chiến trận hết rồi - về sửa lại
Dù bao gian khổ vẫn không nề
Linh Đàn (họa)
 
Thế là bữa tiệc hôm đó tăng thêm “phần treo giải” thật là tuyệt diệu
Ôi ! Những bước đường lưu lạc xứ người, những hình ảnh quê hương sâu nặng bao đời có còn chăng trên gối ! người đời sau ai còn biết những sinh hoạt đầy ắp tính nhân văn mà Quảng Trị ta một thời tô đậm. Nhớ cùng đêm nhớ
Saigon mùa Xuân năm Canh Dần 2010.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

THƠ XƯỚNG -HỌA - CẢM TÁC CÙNG QUÝ THI HỮU ... 12/2021(P1).

 

Văn Thiên Tùng họa, cảm tác thơ cùng quý thân thi hữu tháng 12/2021: Hồ Nguyễn, Hồ Mỹ Đức,Thái Huy, Songquang, Lý Đức Huỳnh, Sông Thu, Lý Viễn Giao, cảm tác thơ Hàn Mặc Tử...
 

THỨC GIẤC

Bài xướng:
Giựt mình thức giấc giữa canh thâu
Gió thổi ngoài hiên nặng tiếng sầu
Bàn giấy ngọn đèn hiu hắt bóng
Giường tre mền gối cuộn buồn đau
Thẩn thờ thơ ý vươn môi kéo
Trằn trọc cung văn ưỡn ngực cầu
Bến đợi chia tay ai có nhớ
Xin dành đôi phút kết bên nhau.
Hồ Nguyễn, 28-11-2021.

TRẰN TRỌC

Bài họa:
Dẫu cố ru nồng ngủ giấc thâu
Tàn canh trằn trọc nhấm cung sầu
Trách duyên dậm ấm sao dần nhạt
Giận số đang nồng lại chuốc đau
Nghĩ xót thân đời neo trắc trở
Thầm thương mệnh kiếp niệm kinh cầu
Ông Tơ bà Nguyệt soi xe xe gán
Mảnh ghép ân tình chẳng lệch nhau…

Quảng Trị, 06/12/21.
Văn Thiên Tùng.

MÙA THU THÁC BẢN GIỐC

Bài xướng:
Bản Giốc chiều thu nắng nhuộm vàng
Rừng cây tô điểm nét phong quang
Núi vươn thẳng tắp cùng năm tháng
Thác đổ âm vang với gió ngàn
Cảnh sắc quê hương hình đẹp đẽ
Nỗi niềm nghệ thuật bước lang thang
Nơi đây lưu luyến dừng chân lại
Ngắm cảnh thần tiên chốn địa đàng.
Hồ Mỹ Đức, 1/30/17.

THÁC BẢN GIỐC CUỐI ĐÔNG

Bài họa:
Tàn đông Bản Giốc thắm hoa vàng
Khí tiết giao hòa cảnh tạnh quang
Khói tỏa lan man lèn gió núi
Sương bay loáng thoáng quyện mây ngàn
Liên triền điệp sắc tam giác mạch
Bọt nước tung ngời cột nấc thang
Đệ nhất danh lừng kỳ vỹ thác
Người thăm kẻ viếng ví thiên đàng…
Quảng Trị, 05/12/21.
Văn Thiên Tùng.

ÁNG CHIỀU

Bài xướng:
Lững lờ nào khác áng chiều rơi
Ta cũng lang thang giữa phận người
Mình khép tình nhà trong buốt xót
Thân mang cảnh nước giữa chơi vơi
Thấu lòng ai chứ-nào tay đón
Hay nỗi này không-tất miệng mời
Chớ để thời gian trôi mất hút
Lững lờ nào khác áng chiều rơi.
Thái Huy,11/12/21.

SÂN ĐỜI

Bài họa: (nương vận)
Loáng thoáng sân đời tựa lá rơi
Vòng xoay chuyển hóa phận con người
Lưng chiều bóng ngã dần chìm khuất
Nẻo tối vô hình chẳng khoảng vơi
Dẫu biết trần ai luôn vướng buộc
Hay chăng ải nợ vốn rao mời
Hừng dương lóe ửng đêm tàn úa
Loáng thoáng sân đời tựa lá rơi…
Quảng Trị, 04/12/21.
Văn Thiên Tùng.

NỖI ĐAU TÌNH LỠ

Bài xướng:
Cuộc tình đã lỡ lắm thương đau
Thổn thức con tim rướm nỗi sầu
Trăm đắng bẽ bàng người dứt bước
Ngàn cay tan nát chuyện xa nhau
Kẻ buồn lặng lẽ rời đêm hẹn
Ta xót bàng hoàng ứa lệ châu
Ngã rẽ đôi đường đà lạc hướng
Cung đàn lỗi nhịp tự ban đầu
Songquang.

THÔI ĐỪNG TRÁCH CỨ …

Bài họa:
Dẫu cố chôn vùi chuyện khổ đau
Mà sao chẳng hóa giải u sầu
Nghe chừng nổi nhớ lèn ly biệt
Tưởng dễ nguôi buồn chạnh lánh nhau
Kỷ vật còn kia duyên mới chớm
Nụ hôn thuở nọ nợ trao đầu
Thôi đừng trách cứ hờn chi nữa
Nối nhịp cung đàn nén giọt châu…
Quảng Trị, 04/12/21.
Văn Thiên Tùng.
LẶNG LẼ PHƯƠNG NGÀN

(Thơ Họa)
Lặng lẽ phương ngàn anh lại đi,
Gió khuya an ủi lá thầm thì.
Cô đơn bản thể niềm xưa trú,
Quạnh quẽ muôn trùng khách viễn ly.
Bởi cuộc vô thường thay sắc thắm,
Nên lòng bất định níu tình si.
Đêm đen vẫn hẹn ngày mai sáng,
Xót cảnh duyên mờ ảo thịnh suy…
Lý Đức Quỳnh,30/10/2021.

ĐÂU NGỜ
Bài họa:
Đông tàn dạo ấy tiễn người đi
Dáng ngọc ngà đang thuở xuân thì
Vẫn nhớ nhung khi đà cách mặt
Hay buồn những lúc phải chia ly
Thư đi - thư lại lời trìu mến
Câu đợi - câu chờ dạ đắm si
Ước hẹn duyên nồng tình mãi thắm
Ngờ đâu mộng dỡ ái đành suy!!!
Quảng Trị, 02/12/21.
Văn Thiên Tùng.

CHIỀU BUÔNG LẶNG LẼ

Bài xướng:
Tần ngần, tôi đứng mãi nơi đây
Trong ánh chiều vương khóm trúc gầy
Bến nước quạnh hiu, bờ vắng lặng
Con đò đơn độc, bóng im ngây
Lao xao gió chuyển trong vòm lá
Rầu rĩ chim gù giữa đám cây
Màn tối dần buông, đành trở gót
Đêm nay nỗi nhớ lại dâng đầy.
Sông Thu,30/11/2021.
THẦM TRÁCH CHIỀU ĐÔNG

Bài họa:
Cứ mỗi chiều buồn lại viếng đây
Nhìn lau nuột trắng tắm heo gầy
Đàn chim soãi cánh nghe trầm mặc
Bầy cuốc giao lời nhã điệu ngây
Ráng ửng chân trời lòe đỉnh núi
Sương là mé suối bủa triền cây
Ai đem đông tới gieo ngần nhớ
Để biển tình ta sóng ngất đầy…
Quảng Trị, 02/12/21.
Văn Thiên Tùng

ĐỘNG THIÊN CUNG

Bài xướng:
Cảnh trời rộng mở giữa lòng hang
Viễn khách chân đưa dạ ngỡ ngàng
Ngọc nhũ nhô nhô phô thắm biếc
Huyền điêu lớp lớp ngợp xanh vàng
Hương non phảng phất trong yên lặng
Hồn biển dạt dào giữa xốn xang
Ngơ ngẩn đường mây tiên giáng thế
Lòng trần mê mẩn luống đa mang
Lý Viễn Giao.

LẠC BƯỚC ĐỘNG TIÊN

Bài họa:
Nhớ đợt ta cùng viếng thạch hang
Thiên nhiên cảnh tác tựa cung vàng
Nhìn lên sắc lóa pha huyền ảo
Ngó xuống âm lèn vọng xệng xang
Cửa uốn vân viền tinh khó tả
Trần cong nhủ thết đẹp ngơ ngàng
Tưởng chừng lạc bước bồng lai cõi
Quay gót lui về dạ đắm mang…
Quảng Trị, 02/12/21.
Văn Thiên Tùng.

ĐÊM KHUYA Ở NHÀ QUÊ

Bài xướng:
Lều tranh lạnh lẽo mấy canh thâu,
Lạnh cỏ cây trời lạnh đến đâu...
Hé cửa nhìn trăng, trăng tái mặt,
Gài then thắp nến, nến rơi châu.
Chiêm bao bóng lẩn Dao Trì động,
Mường tượng hồn chơi thệ thủy cầm.
Năm ngón đường tơ ngồi dậy bấm,
Gió quên than thở dế quên sầu.
Hàn Mặc Tử.

CÔ PHÒNG QUẠNH QUẺ

Bài họa:
Cô phòng quạnh quẻ - quạnh đêm thâu
Quạnh vắng buồn dâng - quạnh hóa sầu
Xót phận nào suôn dầm giọt đắng
Thương đời nỏ thuận nén dòng châu
Vần thơ níu vướng duyên tri kỷ*
Nghiệp dĩ đà vương nợ Mộng Cầm
Mệnh đoản trời ban đâu cưỡng số
Khi lìa cõi tạm chả còn đâu!?
Quảng Trị, 01/12/21.
Văn Thiên Tùng.
* Mai Thanh.