Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

Thơ ĐƯỜNG Và Niêm Luật... Họa Áo trắng NH (11)


VÀI NÉT TÓM LƯỢC VỀ 
THƠ ĐƯỜNG LUẬT THẤT NGÔN BÁT CÚ

CÙNG CÁC THÀNH VIÊN CỦA TAO ĐÀN :XƯỚNG HỌA ĐƯỜNG THI

Thơ Đường luật nổi tiếng khắt khe với niêm luật chặt chẽ và mức độ khó khi làm một bài thơ hoàn chỉnh.
Trong số các thành viên của TAO ĐÀN , có người đã thuần thục thể loại thơ này, song cũng có người tuy chưa thực sự thông thạo nhưng vì yêu mến mà đang có ý định tiếp cận.
Để giúp các bạn có cái nhìn tổng quát về Thơ Đường luật, Ban Quản trị của XƯỚNG HỌA ĐƯỜNG THI xin dẫn ra một số tư liệu, bài viết do một số tác gia sưu tầm và biên soạn, hy vọng nó sẽ hữu ích đối với những người yêu thích thể loại thơ này.
Trong bài viết, có đôi chỗ Ban Quản trị lược bớt hoặc mở rộng so với nguyên tác, sắp xếp các nội dung trùng lắp vào chung mục nhằm giúp người đọc dễ dàng hình dung hơn.

 

 I-TỔNG QUÁT
(Trích từ quyển Văn học Việt Nam của GS Dương Quảng Hàm, viết tại Hà Nội tháng 6 năm 1939).
 

Thơ Đường luật hay cận thể là thể thơ đặt ra từ đời nhà Đường (618-907) bên Trung Hoa, phải theo luật lệ nhất định.
Rất nhiều người làm thơ đã lầm lẫn gọi thơ Đường luật là thơ Đường. Thật sự thì đây là 2 ý niệm hoàn toàn khác nhau.
- Thơ Đường luật: là thơ làm theo Thi luật đặt ra từ đời nhà Đường bên Trung Hoa. Sang Việt Nam, Thi luật được gọi là thể thơ Đường luật
- Thơ Đường hay Đường thi : là những bài thơ của các thi sĩ Trung Hoa làm dưới thời nhà Đường, nổi tiếng nhất là 300 bài được gọi là Đường thi tam bách thủ. Trong số đó có một số được làm theo thể thơ Đường luật, số còn lại làm theo các thể thơ khác, phần lớn là thơ cổ phong.
TỨ TUYỆT VÀ BÁT CÚ
Theo số câu trong bài, thơ Đường luật chia ra làm hai lối: TỨ TUYỆT VÀ BÁT CÚ
- Tứ tuyệt: 7 chữ, 4 câu
- Bát cú: 7 chữ, 8 câu
Trong hai lối ấy, lối bát cú là lối chính. Mà bát cú vần bằng là phổ biến hơn cả.
1. VẦN (VẬN)
CÁCH GIEO VẦN:
Có 5 vần gieo ở cuối câu đầu và các câu chẵn, nghĩa là cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.
Suốt bài thơ chỉ gieo một vần (một từ) gọi là độc vận.
LẠC VẬN VÀ CƯỠNG ÁP:
Làm thơ phải hiệp vận cho đúng. Nếu gieo sai như CÂY đi với HOA là lạc vận (lạc: rụng). Nếu vần gieo gượng thì gọi là cưỡng áp. Hai cách này đều không được cả.
2. ĐỐI

Những câu phải đối trong một bài thơ bát cú, trừ hai câu đầu, hai câu cuối, còn bốn câu giữa cứ hai câu đối nhau: 3 với 4; 5 với 6 (sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau)
3. LUẬT
Là cách sắp đặt tiếng bằng và tiếng trắc trong các câu của bài thơ. Luật nhất định buộc người làm thơ phải theo đúng mà đặt. Luật được chia ra LUẬT BẰNG VÀ LUẬT TRẮC
LUẬT BẰNG: Câu đầu tiên của bài thơ bắt đầu bằng hai tiếng bằng
a. Luật bằng vần bằng:
Câu 1: B B T T T B B (v)
Câu 2: T T B B T T B (v)
Câu 3: T T B B B T T
Câu 4: B B T T T B B (v)
Câu 5: B B T T B B T
Câu 6: T T B B T T B (v)
Câu 7: T T B B B T T
Câu 8: B B T T T B B (v)
b. Luật bằng vần trắc
Câu 1: B B T T B B T (v)
Câu 2: T T B B B T T (v)
Câu 3: T T B B T T B
Câu 4: B B T T B B T (v)
Câu 5: B B T T T B B
Câu 6: T T B B B T T (v)
Câu 7: T T B B T T B
Câu 8: B B T T B B T (v)
LUẬT TRẮC: 

Câu đầu tiên của bài thơ bắt đầu bằng hai tiếng hai tiếng trắc
a . Luật trắc vần bằng:
Câu 1: T T B B T T B (v)
Câu 2: B B T T T B B (v)
Câu 3: B B T T B B T
Câu 4: T T B B T T B (v)
Câu 5: T T B B B T T
Câu 6: B B T T T B B (v)
Câu 7: B B T T B B T
Câu 8: T T B B T T B (v)
b. Luật trắc vần trắc
Câu 1: T T B B B T T (v)
Câu 2: B B T T B B T (v)
Câu 3: B B T T T B B
Câu 4: T T B B B T T (v)
Câu 5: T T B B T T B
Câu 6: B B T T B B T (v)
Câu 7: B B T T T B B
Câu 8: T T B B B T T (v)
(v; vần, ngoài việc tuân theo luật bằng - trắc, còn phải tuân theo vần)
4. THẤT LUẬT
Trong một câu thơ, theo "phân minh" chữ nào đáng là bằng mà đặt tiếng trắc, hoặc đáng trắc mà đặt tiếng bằng, thì gọi là thất luật (sai luật thơ), không được.
5. NIÊM
Niêm nghĩa đen là dính với nhau, là sự liên lạc âm luật của hai câu thơ trong một bài thơ Đường luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào hai chữ đầu câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Trong một bài thơ bát cú, những câu sau đây niêm với nhau.
Ví dụ: Một bài thơ luật bằng vần bằng:
Câu 1 niêm với 8:
B B T T T B B
Câu 2 niêm với 3:
T T B B T T B
T T B B B T T
Câu 4 niêm với 5:
B B T T T B B
B B T T B B T
Câu 6 niêm với 7:
T T B B T T B
T T B B B T T
Câu 8 niêm với 1:
B B TT T B B
6. THẤT NIÊM
Trong một bài thơ, nếu cả hai câu thơ đặt sai luật, như đang bắt đầu bằng bằng đặt làm trắc trắc hoặc trái lại thế, làm cho tất cả câu thơ trong bài không niêm với nhau thì gọi là thất niêm (mất sự dính liền), không được.
7. BẤT LUẬN VÀ PHÂN MINH
Để cho khỏi gò bó, dễ sử dụng từ ngữ, trong bài thơ, chữ thứ 1, 3, 5 không cần theo đúng luật bằng trắc: Nhất tam ngũ bất luận (tuy nhiên để bài thơ có âm điệu hay thì chữ thứ 5 không nên theo lệ bất luận).
Những chữ thứ 2, 4, 6 buộc phải tuân theo đúng luật bằng trắc: Nhị tứ lục phân minh.
8. KHỔ ĐỘC
Nghĩa là khó đọc, đọc lên trúc trắc không được êm tai. Tuy theo lệ "bất luận" có thể thay đổi mấy chữ trong câu thơ, nhưng đáng trắc mà đổi ra bằng thì bao giờ cũng được, chứ đáng bằng mà đổi ra trắc thì trong vài trường hợp, sự thay đổi ấy làm cho bài thơ khổ độc.
Những trường hợp ấy là: Chữ thứ 3 các câu chẵn và chữ thứ 5 các câu lẻ đáng là bằng mà đổi ra trắc là khổ độc .
9. CÁC BỘ PHẬN TRONG BÀI THƠ
Một bài thơ bát cú giống như bức tranh. Trong cái khung nhất định 8 câu 56 chữ, làm sao vẽ thành một bức tranh hoàn toàn, hình dung được ngoại cảnh của tạo vật hay nội cảnh của tâm giới. Bởi vậy phải sắp đặt các bộ phận cho khéo. Có bốn bộ phận là: Đề, Thực, Luận và Kết.
 

1- Đề thì có Phá đề (câu 1) là câu mở bài nói lung động cả ý nghĩa trong bài và Thừa đề (câu 2) là câu nối với câu phá mà nói đến đầu bài.
2- Thực, hay Trạng (câu 3-4): là giải thích đầu bài cho rõ ràng. Nếu là thơ tả cảnh thì chọn các cảnh sắc xinh đẹp đặc biệt mà mô tả ra, nếu là thơ tả tình thì đem các tình tự giãi bày ra; nếu là thơ vịnh sử thì lấy công trạng của người mình muốn vịnh mà kể ra.
3- Luận (câu 5-6): là bàn bạc. Nếu là thơ tả cảnh thì nói cảnh ấy xinh đẹp như thế nào; vịnh sử thì hoặc khen hoặc chê, hoặc so sánh người ấy, việc ấy với người khác việc khác.
4- Kết (câu 7-8) là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại cho mạnh mẽ rắn rỏi, trong đó câu số 7 là câu Thúc ,hay Chuyển và câu 8 là câu Hợp.

 

 II- PHÉP ĐỐI
Câu đối là các câu văn đi song song với nhau từng cặp.
 

Ví dụ:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh
Trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, bắt buộc phải có đối với nhau giữa các câu 3 và 4, câu 5 và 6.
Muốn câu đối chỉnh và cân, phép đối cần phải hội đủ 3 điều kiện:
- Đối thanh
- Đối ý
- Đối từ loại
1. ĐỐI THANH
-Bảng luật bằng:
B B T T B B T
T T B B T T B
-Bảng luật trắc:
T T B B B T T
B B T T T B B
Chí ít là các chữ 2,4,6,7 phải theo đúng luật bằng trắc.
2. ĐỐI Ý
Ý câu trên và ý câu dưới, hoặc chống nhau, hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau.
Ví dụ:
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
3. ĐỐI TỪ LOẠI
Danh từ >< Danh từ
Danh từ riêng >< Danh từ riêng.
Danh từ chung >< Danh từ chung
Động từ >< Động từ.
Trạng từ >< Trạng từ.
Tính từ >< Tính từ.
Tính từ có nhiều loại, nên:
Gợi hình >< Gợi hình
Màu sắc >< Màu sắc
Mùi vị >< Mùi vị
Tượng thanh >< Tượng thanh
Số lượng >< Số lượng
Mùa tiết >< Mùa tiết
Phương hướng >< Phương hướng
Từ kép >< Từ kép
Từ đơn >< Từ đơn
Thành ngữ >< Thành ngữ
Biệt ngữ >< Biệt ngữ
Hán Việt >< Hán Việt
Nôm (thuần Việt) >< Nôm (thuần Việt)...
2 cặp đối trong thơ Đường luật là tinh hoa của bài thơ. Nó là đặc điểm chính để nhận biết một bài thơ Đường luật. Hai cặp đối này còn giúp đo lường trình độ làm thơ Đường luật của tác giả.
Một bài thơ thất ngôn bát cú mà không có 2 cặp đối ở Thực và Luận thì không phải là một bài thơ Đường luật.
 

 III- PHÉP HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT
CÁC THỂ THỨC HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Có 2 thể thức họa thơ Đường luật là: HỌA HẠN VẬN và HỌA PHÓNG VẬN
 

1. HỌA HẠN VẬN
Họa hạn vận là phải theo sự hạn định trước. Người ta ra đề và cho vần nào thì mình phải dùng vần ấy. Thể Họa hạn vận này khác với thể Họa phóng Vận, vì họa hạn vận không có bài xướng để dựa theo mà họa, hơn thế nữa, ta phải:
- Diễn tả ý thơ theo đầu đề đã ra sẵn
- Dùng đúng 5 vần hạn định (trong 8 câu) và phải hạ vần đúng theo thứ tự đã hạn định
 

Ví dụ: Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức như sau:
Ðầu đề (nội dung) là:
Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không ai dám dở mùng chun vô
5 vần hạn định theo thứ tự là: xô - cô - vô - ô - rô.
Bài thơ sát với đầu đề, hạ đúng 5 vần hạn định, được giải nhất mà tác giả lại là một thiền sư chân tu! Bài thơ như sau:
Nào phải là ai dám giục xô
Thuận tình trước hết tự nơi cô
Có cho mới dám trao dùi đánh
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
Ham vui quên hết chuyện dâm ô
Thói hư thuần thước xưa còn lạc
Đừng học làm chi gióng nhảy rô
Còn có một lối hoạ hạn vận rất khó. Hoàng Thứ Lang kể lại một câu chuyện như sau:
Mùa Hè năm 1926, trong dịp thi sĩ Đào Sĩ Nhã đến thăm gia đình họ Phan ở Hưng Yên. Ông khách Đào Sĩ Nhã thách lão thi sĩ Phan Mạnh Danh làm một bài thơ Nôm Đường luật với các điều kiện sau:

- Đầu đề: Xuân Khuê.
- Hạn 5 vần: chờ - hờ - thưa - tơ - thơ.
- Phải dùng 19 chữ: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, trăm, ngàn, vạn, đôi, cặp, nửa, trượng, thước, tấc.
Sau đây là bài thơ Nôm hoạ hạn vận của lão thi sĩ Phan Mạnh Danh:
 

XUÂN KHUÊ
Một mong hai đợi bốn ba chờ
Mười hẹn đêm trăng tám hững hờ
Nửa gối năm canh gà gáy giục
Tấc mây sáu cánh nhạn tin thưa
Trăm lần cặp mắt đôi hàng lệ
Chín khúc bên lòng vạn mối tơ
Ngàn trượng thành sầu đo thước khó
Biếng đem bảy vẻ dệt nên thơ
(Phan Mạnh Danh)
 

2. HỌA PHÓNG VẬN
Họa phóng vận là phỏng theo vần của bài xướng để họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa thì hoặc phụ theo cho rộng thêm, hoặc trái hẳn lại (phản đề).
Họa phóng vận còn chia ra 4 hình thức là: Họa nguyên vận, Họa đảo vận, Họa hoán vận và Hoạ tá vận.
a. HỌA NGUYÊN VẬN:
Là họa đúng 5 vần của bài xướng và hạ vần cũng đúng y theo thứ tự như cách hạ vần của bài xướng. Trong cách họa nguyên vận thường thì có bao hàm họa ý (hoặc đối ý) và đối luật với bài xướng. Nếu không đối luật được thì cũng có thể họa luật.
b. HỌA ĐẢO VẬN:
Là họa ngược thứ tự của 5 vần từ dưới lên trên, thay vì họa nguyên vận là họa từ trên xuống còn họa đảo vận là họa từ dưới lên.
c. HỌA HOÁN VẬN:
Là thay đổi thứ tự vị trí các vần của bài xướng tùy theo ý người họa, sắp xếp lại sao cho vần điệu nghe êm tai hơn cách sắp xếp của bài xướng.
d. HỌA TÁ VẬN:
Tá vận là mượn vần. Họa tá vận là bài họa chỉ mượn 5 vần của bài xướng để làm một bài khác mà nội dung hoàn toàn không liên quan gì đến bài xướng cả. Cách họa này ngày nay hầu hết được người ta làm rất nhiều vì dễ làm.
 

NHỮNG CHÚ Ý QUAN TRỌNG
Trong thể thức Họa phóng vận, không được dùng trùng từ thứ 6 trong các câu có vần của bài xướng. Tức là không được dùng lại từ đứng trước của 5 vần trong bài xướng. Nói dễ hiểu là không được dùng lại chữ thứ 6 ở các câu 1, 2, 4, 6, 8 của bài xướng.
Càng tránh dùng trùng từ trong toàn bài của bài xướng càng tốt, ngoại trừ những từ đặc biệt không thể tránh được.
- Hoạ nguyên vận, hoán vận, đảo vận: dùng vần đồng âm đồng nghĩa (và cùng từ loại).
- Hoạ tá vận: dùng vần đồng âm dị nghĩa (và không cùng từ loại).
 

PHẦN QUAN TRỌNG TRONG HỌA THƠ
Họa thơ theo thể thức phóng vận (sau đây gọi tắt là họa thơ) bao gồm 3 phần chính quan trọng sau đây:
Đã có một bài thơ sẵn trước gọi là Bài Xướng.
Bài xướng có thể chọn một bài đã có sẵn từ xưa, hoặc một bài do một người làm trước "thách đố" cho người khác đáp lại. Người đáp lại thì bài đó gọi là Bài Họa. Bài họa phải có ít nhất 3 yếu tố quan trọng sau đây:
1. Họa vần:
5 vần tức là 5 tiếng (chữ) cuối của các câu 1, 2, 4, 6, 8 mà người xướng đã ra như thế nào thì người họa phải theo đúng y chang 5 vần đó, không được vì bí hay kẹt mà sửa đổi.
Chỉ cần sai 1 trong 5 vần kể trên thì bài họa coi như bị hỏng, và như vậy gọi là bị Xuất Vận nghĩa là bị ra khỏi vần đã hạn định cho mình, dĩ nhiên bài họa đó bị lỗi.
2. Bài xướng nói lên ý gì thì bài họa cũng phải nói lên ý đó hoặc tán rộng nghĩa ra thêm.
3. Bài xướng gieo luật gì thì bài họa phải đối lại luật đó (trong xướng họa có hàm nghĩa đ
ối đáp). Ví dụ bài xướng luật trắc thì bài họa phải luật bằng và ngược lại.

Ngoài ra bài họa có thể đối ý lại bài xướng, thí dụ bài xướng khen một vấn đề gì thì bài họa có thể chê vấn đề đó (gọi là phản đề, nhưng không bắt buộc).
Tóm lại, 3 yếu tố trên là cần thiết cho 1 bài họa xuất sắc.
Sau đây là một ví dụ về xướng họa điển hình để làm mẫu. Hai bài này nổi tiếng trong văn học Việt Nam.
 

Bài xướng:
TÔN PHU NHÂN QUY THỤC
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh được bụng chồng
(Tôn Thọ Tường)
 

Bài họa:
TÔN PHU NHÂN QUY THỤC
Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông
Ngút tỏa trời Ngô ùn sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng
(Phan Văn Trị)
 

CHÚ Ý KHI HỌA THƠ
Họa phóng vận là sáng tác một bài thơ (gọi là bài họa), dựa trên hệ thống vần của một bài thơ có trước (gọi là bài xướng).
Sau khi có bài xướng, người làm thơ họa sáng tác một bài khác, dùng lại đúng 5 chữ vần của bài thơ xướng
Bài họa phải diễn đạt lại ý chính (nội dung) của bài xướng, không được lạc đề.
Thường là bài họa phải đối luật với bài xướng, nếu bài xướng luật bằng thì bài họa phải luật trắc và ngược lại. Kẹt lắm mới làm bài họa đồng luật với bài xướng.
Không được dùng lại chữ thứ 6 (chữ kế cuối) trong các câu cước vận (câu 1, 2, 4, 6, 8) của bài xướng và tất cả những bài đã hoạ trước. Nếu dùng lại chữ kế cuối là phạm nguyên tắc "khắc lục", là lỗi cấm kỵ trong họa vần thơ Đường luật.
5 chữ vần của bài hoạ không được khác nghĩa với 5 chữ vần của bài xướng.
Coi như bài hoạ là bản copy những nét căn bản về ý và vần của bài xướng, vì vậy bài họa phải cùng một tựa đề với bài xướng.
Hoạ thơ Đường luật không đến nổi quá khó nhưng không phải dễ dàng như nhiều người đã lầm tưởng!
Hoạ sai một vần gọi là xuất vận: không được.
Hoạ sai nghĩa một vần gọi là xuất ý: không được.
Ví dụ:
 

Bài xướng:
VƯỜN RAU CẨM TÚ
 

Thầy cho xới lại mảnh vườn hoang
Cẩm Tú đem phân ủ mấy hàng
Củ cải gieo gần dây mướp đắng
Su hào tỉa cạnh gốc khoai lang
Thì là diếp cá lên muôn lối
Húng đổi cần tây mọc khắp đàng
Tứ phía rau xanh nhìn mát mắt
Tha hồ cải thiện bữa ăn... sang
(Cẩm Tú)
 

Bài hoạ:
VƯỜN RAU CẨM TÚ
Cẩm Tú gieo trồng mảnh đất hoang
Rau xanh thẳng tắp rất ngay hàng
Ngò om óng mượt bên giàn mướp
Húng quế thơm lừng kế luống lang
Bí rợ tần ô lên bít lối
Dưa leo ớt hiểm mọc đầy đàng
Chiều chiều đứng ngắm lòng thanh thản
Cuộc sống quê nghèo ngẫm lại... sang
(Hoàng Thứ Lang)
 

HÀM Ý TRONG XƯỚNG HỌA
Xướng hoạ thơ Đường luật là có hàm ý đối hoạ ở trong đó.
Người ta xướng ra mình phải đối đáp lại, vì vậy nếu chỉ một bài xướng và một bài hoạ thì bài hoạ bắt buộc phải đối luật với bài xướng.

 

Ví dụ bài Tôn Phu Nhân Quy Thục xướng của Tôn Thọ Tường, hoạ của Phan Văn Trị.
Trường hợp bất khả kháng không thể đối luật được thì có thể châm chế hoạ đồng luật, nhưng bài hoạ đồng luật sẽ bị giảm giá trị vì không đáp ứng đúng thể thức xướng hoạ đúng cách.
Bắt đầu những bài hoạ sau đó (nếu có) thì có thể dùng luật gì cũng được.
Hoạ thơ là "vẽ lại" hình ảnh của bài xướng cho nên phải trung thực với bài xướng về ý cũng như vần.
Hoạ sai ý bài xướng là không đạt.
Hoạ sai bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất vận: không đạt. Xuất vận là đi ra khỏi sự hạn định về vần của bài xướng.
Hoạ sai nghĩa bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất ý: không đạt. Xuất ý là đi ra khỏi ý nghĩa chữ vần của bài xướng.
Hoạ thơ Đường luật đúng cách rất khó.
Khi bạn bè (thi hữu) chung vui xướng họa với nhau, có thể dùng thể thức Họa tá vận (tức là mượn vần) để hoạ những vần tử vận và tử ý. Cách này không đạt nhưng cốt là để cùng nhau vui vẻ mà thôi. Nhưng cũng không nên đi xa thi đề (nội dung của bài xướng).
Lấy ví dụ tử vận xót xa không thể nào họa nguyên vận theo chính họa được. Chúng ta có thể họa tá vận (mượn vần) theo bàng họa là xa xa, từ xa, đàng xa v.v... chẳng hạn. Dĩ nhiên là sai nghĩa của chữ xót xa rồi (bởi vậy mới bị xuất ý: không đạt), nhưng cốt để cùng nhau vui vẻ mà thôi.
Thông vận, bàng đối và bàng hoạ... không xuất sắc.
Làm thơ, nếu dùng thông vận thì nên dùng cận vận mà không nên dùng viễn vận. Viễn vận và cưỡng vận không hay, hạn chế dùng.
(Hoàng Thứ Lang sưu tầm và biên soạn).
 

 IV- LUẬT VỀ ĐIỆU THƠ
Điệu thơ là cách xếp đặt các tiếng trong câu thơ sao cho êm tai, dễ đọc, để bài thơ có âm hưởng du dương trầm bổng như nhạc điệu.
Điệu thơ gồm có 3 phần chính:

1. Nhịp điệu:
Thơ Đường luật nhịp chẵn, ngắt nhịp 2 hoặc 4 tiếng trọn nghĩa (2-2-3 hoặc 4-3), nhưng đôi khi cũng có thể làm nhịp 3-4 theo dụng ý tác giả
2. Âm điệu:
Nên làm theo chính luật để bài thơ có âm điệu êm tai trầm bổng.
3. Vần điệu:
Nên gieo vần ở cuối các câu 1-2-4-6-8 xen kẽ tiếng không có dấu với tiếng có dấu huyền để bài thơ khi đọc lên nghe du dương trầm bổng như điệu nhạc.
(Hoàng Thứ Lang sưu tầm và biên soạn).
 

 V- ĐỐI NGẪU TRONG THƠ ĐƯỜNG
ĐỐI NGẪU - VẺ ĐẸP ĐẶC SẮC, MỘT TRONG NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Người sáng tác thơ luật Đường khi bắt gặp một cảnh huống thơ, hồn thơ đang dào dạt, bao nhiêu ý tứ cứ trào ra, vội phô diễn nó lên giấy mực. Chưa xong. người sáng tác thơ còn phải cô đúc, dồn nén, sao cho số câu, số chữ phải đúng theo luật; số chữ trong bài có thanh trắc phải xấp xỉ số thanh bằng. Nếu ta gọi chữ có thanh bằng là số (+), chữ có thanh trắc là số (-), thì luật âm dương này thăng giáng bù trừ sát sao đến từng liên thơ, đến cả bài thơ. Đó chính là điều hé mở khái niệm về sự cân bằng, có ý nghĩa triết học cổ phương Đông nằm trong hình thức thơ Đường luật.
- Ý nghĩa triết học nêu trên còn thể hiện rõ ở phép đối ngẫu.
Trong một liên thơ (hai câu) được gọi là có đối, thì câu trước, nó như tung, câu sau nó như hứng, nó nương vào nhau làm cho ý thơ thêm mạch lạc.
Vậy nên, người xưa đã đưa đối ngẫu vào thể thơ này như một điều bắt buộc.
Từ đầu thế kỷ trước, đối mặt với sự thắng thế của phong trào thơ mới, Vũ Hoàng Chương, một nhà thơ thành danh, không nỡ bỏ hẳn thơ Đường luật, ông đã sáng tác nhiều bài thơ không đối, chỉ giữ lại có luật hạn câu, hạn chữ, hạn vận, hạn bằng trắc. Vũ Hoàng Chương xem những bài thơ đó chỉ là một thực nghiệm. Sau đó, song song với việc sáng tác thơ mới, ông còn sáng tác nhiều bài thơ luật nghiêm chỉnh khác (như bài đa thủ “Giấc mơ tái tạo”).
Chúng ta nay một khi đã gửi hồn cho thể thơ Đường luật thì đừng có bao giờ bực bội giữa khi đang có hồn thơ lai láng, lại bị nghẽn bởi hai cặp đối ở hai cặp câu thực, luận và nóng vội cho rằng: làm gì mà phải đối chặt chẽ vậy.
- Đối ngẫu trong thơ đường luật bát cú, thất ngôn, ngũ ngôn nói tổng quát là có 2 phép: phép chỉnh đối và phép khoan đối.
Dưới đây chúng tôi xin được trao đổi về 2 phép đối này. Các ví dụ được nêu ra để phân tích, chúng tôi lấy từ một số bài thơ đã in trong “Thơ Đường quê lụa” tập 5, NXB Văn hóa Dân tộc, 2008.
 

PHÉP CHỈNH ĐỐI
Nguyễn Thu Hà, người trẻ tuổi nhất của CLB, trong bài “Duyên quê”, cặp thực, đối như sau:

 
Anh nắm bàn tay thon ấm áp,
Em cười đôi mắt sáng long lanh.
 

Thật là chỉnh, thật là chính danh: anh với em, bàn tay với đôi mắt (Danh từ đối với Danh từ), Thon với sáng (Tính từ đối với nhau), ấm áp với long lanh (Trạng từ láy đối nhau). Hai câu thơ tình đằm thắm đến thế mà lại không thấy lả lơi. Thu Hà đã huy động phép đối rất nghiêm để đạt hiệu quả.
Hạnh Anh (Đỗ Biện), trong bài “Đêm thu” cặp luận đối như sau:
Hoa cúc bâng khuâng ly rượu ngát
Hoa nhài thao thức chút hương phôi.
Cặp đối chính danh này rất nghiêm về thể thức, nhưng lại rất hào hoa.
Cụ Tạ Đăng Viên, ngoại 80, có bài “Tự thọ” rất hóm hỉnh, cụ có cặp luận:
Kính mắt gà đeo tròng chấp chới
Gậy càng cua chống bước lon ton.
Bằng hai câu đối chặt chẽ, như vẽ nên, như trông thấy một cụ đại thọ nhanh nhảu hồn nhiên trước mắt ta.
 

PHÉP KHOAN ĐỐI
Để cho một chùm thơ, một tập thơ không bị đơn điệu về hình thức đối ngẫu, người xưa đã đưa ra nhiều phép đối ngẫu linh hoạt hơn.
 

1. Phép Lưu thủy đối:
Ví dụ:
Còn chăng lời hẹn bên trang sách,
Hay đã tàn theo ánh lửa đèn.
Theo quy tắc chiếu chữ thì hai câu này là bất đối. Nhưng lại xét: Hai câu thơ có cấu trúc ngữ pháp giống nhau; mạch ý câu trên trôi chảy như nước, được tràn sang câu dưới làm lọn nghĩa cho câu trên. Đó là phép Lưu thủy đối.
Tất cả các liên thơ mà câu trên bắt đầu bằng mấy chữ tương tự như: còn chăng…, đã sinh…, bỗng dưng…, ứng với đầu câu dưới là các chữ tương tự như: hay đã…, phải có…, để mà…, v.v. thì liên thơ đó đã theo phép đối nói trên.
 

2. Phép Tá tự đối:  
Ví dụ:
Nghèo sạch, thanh danh nên gắng giữ
Giầu sang, khó tính chớ nên chơi.
Câu trên, “thanh danh” là danh từ, câu dưới “khó tính” là tính từ, xét thế thì quả là bất đối. Nhưng nếu theo tiếng (không theo nghĩa thật), thì chữ “khó”, chữ “thanh” lại là tính từ; Chữ “danh” và chữ “tính” lại là danh từ. Xét theo cách này thì chúng lại đối chặt chẽ với nhau. Phép đối này người ta lợi dụng sự đồng âm dị nghĩa để Tá tự đối (như: hai mái trống tung đành chịu dột/ tám giờ chuông điểm phải nằm co – của Tú xương).
 

3. Phép Số tự đối gắn với Tá tự đối.
Ví dụ:
Học bẩy nghề còn lo thất nghiệp
Làm ba vụ vẫn đói tư mùa.


Hơi tiếc, ở câu dưới viết: ba vụ đối với tư mùa, tuy là đúng có nội đối ở trong câu, nhưng không hay bằng câu trên: bẩy cái nghề và thất (mất) cái nghiệp. Câu dưới, nếu không vì luật bằng trắc, mà viết là: “Làm tư vụ vẫn đói tứ mùa”, thì câu đối này được xếp vào hạng tuyệt diệu. Phép đối này được xem như là phép số tự đối có kèm theo lối chơi chữ (có thể liên hệ đến: nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc - của bà Huyện Thanh Quan).
 

4. Phép cú trung đối:
Ví dụ:
Màn trời chiếu đất con người khổ
Nước vật thuyền xơ cá biển nghèo
Nếu câu trên, câu dưới cứ chiếu từng chữ lên nhau, thì hai câu này cũng bất đối. Nhưng xét nội bộ từng câu, thì lại thấy: màn trời đối với chiếu đất; nước vật đối với thuyền xơ; đuôi câu trên (con người khổ) đối rất chặt với đuôi câu dưới (cá biển nghèo). Lấy câu có nội đối để đối nhau thì lại rất cân bằng. Đây là cú trung đối.
Tuy nhiên còn một số phép đối khác chúng ta ít vận dụng, xin được dẫn ra đây để cùng tham khảo.
Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ?
Xương gà da cóc, có đau không?
(Nguyễn Khuyến)
 

Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày
(Hồ Xuân Hương)
Công đức tu hành, sư có lọng
Xu hào rủng rỉnh, mán ngồi xe.
(Tú Xương)
Chúng ta để ý: Cụ Nguyễn Khuyến cũng như nữ sỹ Xuân Hương đã tổ chức từ ngữ ở từng câu, để câu nào cũng có tiểu đối, nhưng ta không xếp hai liên đối nêu trên vào phép Cú trung đối, vì ngoài phần có tiểu đối, trong từng câu còn có phần bất đối. Do đó hai liên thơ trên chúng ta quy vào phép Tựu cú đối.
Trong câu của Tú Xương, ông Tú đã đem cả hai cụm từ như hai thành ngữ để chọi nhau: công đức tu hành chọi với xu hào rủng rỉnh. Mặt khác đuôi của từng câu lại đối rất chặt với nhau: sư có lọng đối với mán ngồi xe. Phân tích đặc điểm này để kết luận: đây cũng là phép Tựu cú đối như a và b. Cú trung đối và Tựu cú đối, có dạng thức ngữ pháp của câu văn na ná như nhau, nên còn có tên chung là Đương đối.

 

5. Phép giao cổ đối:
Cụ Trần Tuấn Ngọc, trong bài “Tự nhủ” có câu luận:
Chân bước vững, đường chiều khấp khểnh
Rừng cây rậm rạp, trúc vươn cao.
Đây chính là phép Giao cổ đối: chân bước vững đối chéo xuống với trúc vươn cao, và rừng cây rậm rạp đối chéo lên với đường chiều khấp khểnh.
 

6. Phép bất đối chi đối:
Trong buổi lễ tế “Trận vong tướng sỹ” thế kỷ 19, quan tổng trấn Nguyễn Văn Thành có sai trưng câu đối chữ Hán (nay dịch nghĩa) như sau:


Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Câu trên lấy từ thơ Thôi Hiệu, bài Hoàng Hạc Lâu. Câu dưới lấy từ thơ Vương Hàn, bài Lương Châu Từ.
 

Cái hay của đôi câu đối này là: 
Ghép hai câu thơ khác nhau của hai tác giả mà câu đối vẫn hiệp chung một tình ý. 
- Câu 1 có đại ý là cảm thán tình cảnh, câu hai có đại ý là an ủi vong linh. Thật là quá hợp với nội dung Tế Trận Vong Tướng Sỹ. Đây là phép bất đối chi đối, lấy cái không đối để đối, không lệ thuộc vào mặt chữ mà chỉ chú trọng đến ý. Ý phải đối nhau, cấu trúc ngữ pháp phải song song đồng dạng với nhau.
Những bậc cao niên khuyên rằng, nếu một khi ta chưa thật thạo về các phép đối, thì chỉ nên sử dụng các phép chỉnh đối, lưu thủy đối, cú trung đối. Còn các phép đối khác, chúng ta hãy chỉ làm quen, giúp chúng ta nhận biết được các dạng thức đối khác nhau.


Vẫn phải thưa thêm: 

các phép đối thơ, dù ở dạng thức nào đều phải hội đủ 3 đặc điểm:
- Đối ý. ý câu trên và câu dưới, hoặc chống nhau, hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau.
- Đối thanh âm, chí ít là các chữ nằm ở vị trí 2, 4, 6, 7 (Thơ thất ngôn) và 2, 4, 5 ( Thơ ngũ ngôn) nhất thiết phải tuân theo luật bằng trắc.
- Đối từ loại,phải nắm được các phép biến đổi từ loại ở các ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên, cũng có phép đối không yêu cầu đối từ loại như theo phép chiếu chữ, mà ở đó lại có sự xoay chiều để đối chéo cho nhau.
Trong một bài thơ, những cặp đối ở các câu thực, luận chính là vẻ đẹp đặc sắc, và là một trong những điều kiện cần và đủ để nhận ra đó là một bài thơ Luật đường. Đọc thơ Đường luật mà không có đối thì chẳng khác gì “Ăn bánh nướng trung thu mà không có nhân thập cẩm” thật là nhạt nhẽo và vô vị.
Trong bài này, việc đặt vấn đề của tôi là chắc chắn đúng nhưng việc lấy ví dụ để phân tích thì có thể có chỗ còn nông cạn, thậm trí có chỗ còn thiếu sót. Để góp một chút lửa thắp sáng cho thơ Đường đất Việt, rất mong bạn đọc rộng lượng và cùng đồng hành.

(Nguyễn Văn Thụ - Chủ nhiệm CLB Thơ Đường Hà Nội).
 


VI- CÁC THI BỆNH TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
 

1. Thất luật:
Những từ đáng bằng mà làm ra trắc hoặc đáng trắc mà làm ra bằng thì gọi là thất luật
2. Thất niêm:
Muốn xét một bài thơ có thất niêm hay không thì nhìn chữ thứ 2:
- Chữ thứ 2 câu 2 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 3
- Chữ thứ 2 câu 4 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 5
- Chữ thứ 2 câu 6 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 7
- Chữ thứ 2 câu 8 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 1
Nếu không tuân thủ đúng như trên thì gọi là thất niêm.
3. Lạc vận/Cưỡng vận:
- Trong 5 vần mà có một vần khác xen vào.
- Vần là yếu tố quan trọng để tạo nhạc cho thơ, do đó cần phải tránh gieo vần cưỡng ép hay lạc vận.
4. Thất đối:
Đối chiếm địa vị quan trọng trong thơ Đường luật. Bỏ đối đi thì không còn được gọi là thơ Đường luật nữa.
5. Khổ độc:
- Trong một bài thất ngôn, chữ thứ 3 các câu vần, và chữ thứ 5 các câu không vần đáng là từ bằng mà đổi ra trắc thì gọi là khổ độc.
- Trong một bài ngũ ngôn, chữ thứ nhất các câu vần và chữ thứ ba các câu không vần đáng là bằng mà đổi ra trắc thì gọi là khổ độc.
6. Trùng vận:
Thơ Đường luật chỉ dùng đơn vận (mỗi chữ vần chỉ sử dụng 1 lần), nếu cùng một chữ vần được dùng lặp lại ở hai câu khác nhau thì gọi là trùng vận, bài thơ sẽ hỏng.
Theo thi luật chính thức, nếu chỉ là tiếng đồng âm mà khác nghĩa thì được coi là 2 chữ vần khác nhau và không phạm lỗi. Tuy nhiên, để tránh nghe đọc trùng lặp âm vận không hay, trong bài thơ không nên để hai vần đồng âm gần nhau.
7. Trùng từ:
Cùng một chữ được dùng nhiều lần ở trong bài thơ, ngoại trừ trường hợp cố ý, thì gọi là lỗi trùng từ hay điệp từ.
8. Trùng ý (Hiệp chưởng):
Trong bài thơ Đường luật nếu có câu chữ nào lặp lại ý của các câu chữ đã dùng mặc dù dùng từ khác đi thì cũng bị lỗi trùng ý. Nếu lỗi trùng ý nằm trong hai câu thực, hoặc hai câu luận thì gọi là hiệp chưởng (câu trên câu dưới đối nhau mà ý nghĩa giống nhau như hai bàn tay úp lại).
9. Phạm đề/Mạ đề:
Trong hai cặp thực và luận không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của đề lọt vào thì bị lỗi phạm đề hay mạ đề.
10. Điệp điệu:
Điệp điệu là khi nhiều câu liên tiếp ngắt nhịp cùng một cách. Lỗi này thường hay xảy ra ở các câu giữa của bài thơ.
11. Bình đầu:
Bài thơ mà có nhiều câu liên tiếp bắt đầu bằng những tiếng cùng một từ loại, cùng một cấu trúc câu thì phạm lỗi bình đầu, ngoại trừ trường hợp cố tình làm có mục đích rõ rệt.
12. Thượng vỹ:
Trong bài thơ Đường luật nếu chữ thứ 5, 6, 7 của nhiều câu liên tiếp (nhiều hơn 3) cùng từ loại và cấu trúc thì bài thơ phạm lỗi thượng vỹ.
13. Điệp thanh:
Trong thơ thất ngôn, một câu có 4 tiếng bằng và 3 tiếng trắc hoặc bốn tiếng trắc và ba tiếng bằng. Những tiếng bằng hay trắc đó phải có thanh độ khác nhau thì câu thơ mới giàu âm điệu.
14. Điệp âm:
Điệp âm là những chữ có cùng âm đứng gần nhau trong một câu hoặc cùng vị trí trong hai câu.
15. Đại vận:
Bài thơ Đường luật chỉ gieo vần ở các chữ cuối câu. Nếu chữ thứ 4 trong câu cũng vần với chữ cuối câu thì phạm lỗi đại vận.
16. Tiểu vận:
Nếu chữ thứ 2 trong câu vần với chữ thứ 6 hoặc thứ 7 thì phạm lỗi tiểu vận.
17. Phong yêu:
Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 2 trong cùng câu thì gọi là lỗi phong yêu.
18. Hạc tất:
Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 4 trong cùng câu thì gọi là lỗi hạc tất.
19. Chánh nữu:
Khi câu có từ 3 chữ trở lên có cùng phụ âm đầu phạm lỗi chánh nữu. (Ngoại trừ từ láy, từ ghép, từ phiên âm quốc tế… thì được tính giảm đi 1 lần)
20. Bàng nữu:
Trong một liên có từ 4 chữ trở lên có cùng phụ âm đầu thì phạm lỗi bàng nữu. (Ngoại trừ từ láy, từ ghép, từ phiên âm quốc tế… thì được tính giảm đi 1 lần).
 
NHỮNG DẠNG THƠ ĐẶC BIỆT
 

1. Họa vận:
Một người làm một bài xướng lên,một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng,còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng,hoặc trái hẳn lại (phản đề) , ví dụ:
 

HỎI Ả BÁN CHIẾU
 

Xướng:
Ả ở đâu nay bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi
Ðã có chồng chưa được mấy con
(Nguyễn Trãi)
 

Họa:
Tôi ở Tây hồ bán chiế u gon
Nỗi chi ông hỏi hết hay còn
Xuân thu tuổi mới trăng còn lẻ
Chồng còn chưa có, có chi con
(Nguyễn Thị Lộ)
 

2.Thủ nhất thanh (nhất đồng):
Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhau, ví dụ:

T

ÁM MỪNG
 

Mừng đón xuân về, muôn sắc hoa
Mừng xuân,xuân mới, mới thêm ra
Mừng nghe nhựa sống, như còn trẻ
Mừng thấy đời tươi, chửa muốn già
Mừng khỏe đôi chân, đi đứng vững
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa.
Mừng nhau tuổi thọ tăng tăng mãi
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa
(Lạc Nam)
 

3.Song điệp:
Tất cả 8 câu đều có 2 điệp từ: , ví dụ:

 

CHUYỆN ĐỜI
 

Vất vất vơ vơ cũng nực cười
Căm căm cúi cúi có hơn ai
Nay còn chị chị anh anh đó
Mai đã ông ông mụ mụ rồi
Có có không không,l o hết kiếp
Khôn khôn dại dại, chết xong đời
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy
Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi
(Nguyễn Thượng Hiền)
 

4.Song điệp độc vận:
Tất cả 8 câu đều có 1 từ và chỉ có 1 vần, ví dụ:
 

XUÂN VÀ THƠ
 

Xuân tự ngàn xưa, bạn với Thơ
Tình Xuân là cả vạn lời Thơ
Ðẹp duyên hoa bút, Xuân ngời sắc
Rộn khúc Xuân thiều, nhạc ánh Thơ
Xuân vắng, oanh hờn, dầu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời Thơ
Xuân nương, thi sĩ, đôi người ngọc
Dệt mộng ngày Xuân, lộng ý Thơ
(Lạc Nam)
 

5. Dĩ đề vi thủ:
Lấy 8 từ đầu để mở đầu cho 8 câu thơ, ví dụ:

 

GỬI BẠN
 

Nhất sinh tôi bác biết nhau rồi
Ðịnh đoạt hơn thua phó mặc trời
Chúng mải công danh, ky cóp chạy
Ta nhìn mây nước nhẹ nhàng trôi
Theo quan, ngán bấy câu chè lá
Về xã, buồn thay cảnh thịt xôi
Lê gậy theo trăng vào quán trọ
Ninh trà,nạp thuốc, chuốc nhau chơi
6. Dĩ đề vi vận:
Lấy đầu đề làm vần, ví dụ: Không - Chồng - Trông - Bông - Lông

 

Xướng:
Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chưng một tấm chồng
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ
Bên trời cá nước ngẩn ngơ trông
Mua vui lắm lúc cười cười gượng
Giả dại nhiều khi nói nói bông
Mới biết có chồng như có cánh
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông
(Nguyễn Khuyến)
 

Họa Vận:
Phật rằng sắc sắc không không
Sắc sắc không không khó chất chồng
Ân oán, nhiều người còn có ngóng
Trải oan, lắm kẻ vẫn chờ trông
Thế gian, nhân quả nhanh như bóng
Cõi Phật, nhân duyên nhẹ tựa bông
Xuân đến hoa xuân tươi đẹp mãi
Luân hồi ra khỏi, hết bông lông
(Cổ Lai Hy)
 

7. Toán thi:
Cả bài câu nào cũng có từ chỉ con số, ví dụ:
 

BÓI SỐ
 

Ruột rối bòng bong, một lá thuyền
Ngổn ngang trăm mối vẫn y nguyên
Người đi nghìn dặm còn thêm nhớ
Kẻ ở muôn năm vẫn lẻ duyên
Mớ hoảng, có kêu thời cũng hão
Ức thầm, dẫu khóc chỉ thêm huyền
Vạn người, ai kẻ chung tâm sự
Hãy triệu giùm tôi chú đỗ quyên
(Bùi Tiến)
 

8. Liên hoàn:
Thể thơ có nhiều đoạn, câu cuối của đoạn trên được chuyển thành câu đầu của đoạn dưới, ví dụ:

 

THI LẤY ĐƯỢC
 

Anh Phán nhà ta biết cóc gì
Kỳ thi Tham biện cũng ra thi
Nhất thì anh đỗ,nhì anh trượt
Chẳng đậu khoa này, khoa khác đi
Chẳng đậu khoa này, khoa khác đi
Nam nhi chi chí, há lo gì
Một, hai, ba, bốn, năm năm trượt
Nhẵn mặt quan trường, chẳng thẹn chi
Nhẵn mặt quan trường,chẳng thẹn chi
Trượt thi, thi trượt,vẫn gan lì
. . . .
(Tú Mỡ)
 

LÍNH TẬP VINH QUY
 

Chú đội qua Tây thắng trận về
Cả nhà đón rước thật mừng ghê
Ông già,bà lão gồm hai cụ
Vợ giảnh,con ngoan đủ mọi bề (1)
Nảy ngực mề đay tiền bạc chói
Rạng mình khố đỏ áo vàng xuê.
Giang sơn mày mặt càng tươi tốt
Bộ cất tay lên, ngó cũng nghề (2)
Bộ cất tay lên ngó cũng nghề
Miệng cười tróm trém, húi râu dê (3)
Xông pha trăm trận từng hăm hở
Gánh vác hai vai ghẹo nặng nề (4)
Mở mặt Tiên Rồng dòng Ðại Việt
Nổi danh hùng hổ cõi Âu tê (5)
Trong tình cảnh nọ dầu không vẻ,
Văng vẳng dường nghe tiếng ắc-đê (6)
( N.V.H)
Chú thích
1- Vợ đẹp (tiếng Nghệ)
2- Có vẻ tay nghề
3- Bộ râu xén như râu dê
4- Dù công việc có nặng đến đâu cũng không sợ (tiếng Nghệ)
5- Âu Tây.chữ tây, âm Hán có khi đọc là tê
6- Phiên âm chữ Pháp: un,deux.Tiếng hô đi đều của lính tập
9. Liên hoàn thuận nghịch vận:
Thể thơ như trên, nhưng bài thứ 2 sắp xếp ngược vần lại với bài thứ nhất, ví dụ:
 

XEM NÚI NON BỘ
 

Non nhân,nước trí, điểu muông hiền
Núi giả mà in dáng tự nhiên
Một vũng xinh xinh ,vươn một ngọn
Hai cầu nho nhỏ, vắt hai triền
Thuyền ngư lướt suối dong miền tục
Cánh hạc trườn mây bổng cõi tiên
Ðối cảnh tâm tư dường nhẹ nhõm
Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền
Lâng lâng chẳng bợn chút ưu phiền
Bàn đá say cờ đôi lão tiên
Lã vọng buông câu vờn sóng nước
Phật đài mở lối lượn ven triền
Sỏn thanh thủy tú, hồn u nhã
Sắc lộng hương nùng, khí hạo nhiên
Phong cảnh tạo hình như giới thiệu
Chủ nhân đây cũng bậc nhân hiền
(Lạc Nam)
 

10. Ô thước kiều:
Thể thơ liên hoàn như trên,nhưng lấy 2 từ cuối,hoặc nhắc lại 2,3 từ nào đó ở câu cuối của bài trên để mở đầu cho câu 1 của bài dưới, ví dụ:

 

CHỐNG TÔN THỌ TƯỜNG
 

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ
Người trí mang lo danh chẳng chói
Ðứa ngu luống sợ tuổi không chờ
Bài hòa đã sẵn in tay thợ
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ
Chưa trả thù nhà,đền nợ nước
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ
Tai ngơ sao đặng lúc tan tành
Luống biết trách người, chẳng trách mình
Ðến thế còn khoe đàng đạo nghĩa
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành
Thân có,ắt danh tua phải có
Khuyên người ái trọng cái thân danh
Thân danh chẳng kể, thật thằng hoang
Ðốt sáp nên tro lụy chẳng màng
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa
Một nhà danh giá xóa tan hoang
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc
Người khó xăng xăng mới gặp vàng
Thương kẻ đòng văn nên phải nhắc
Dễ đâu ta dám tiếng khoe khoang
(Phan Văn Trị)
 

11. Tập danh
a. Mỗi câu có danh từ gắn với đề tài, ví dụ:
 

MỪNG ÔNG LÃO HÀNG THỊT THƯỢNG THỌ
 

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi,
Cổ hy (1) chưa dễ mấy lăm người.
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt
Ðầu bạc nhưng mà chửa tắc tai
Bè bạn bày vai kèo (2) chén Lý (3)
Cháu con dưới gối múa sân Lai (4)
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thực
chữ đức giả xương máu để đời
(Nguyễn Khuyến)
 

Chú thích
1- Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " ,ngưòi ta sinh ra sống được 70 tuổi, xưa nay rất hiếm có
2- Rót rượu mời người khác uống
3- Chén rượu của Lý Bạch ,nhà thơ uống rượu nổi tiếng
4- Lão Lai,người nước Sở đời Xuân Thu, tuổi đã ngoài 70 còn
cha mẹ, giả cách khóc như trẻ con để làm cho cha mẹ vui
b. Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người, ví dụ:

 

HỌC TRÒ
 

Dài lưng tốn vải lại ăn no
Nghĩ ngán cho thân phận học trò
Thù nước,thù vua, ngay mặt chịu
Công sưu, công ích, cắm đầu lo
Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng
Còn ngậm lông mèo (1) chả sợ ho
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc
Rung đùi, chỉ nghĩ "tám đùi" (2) to
(Nhì Mỹ)
Chú thích
1- Ngậm lông mèo: ngậm bút chữ nho
2- Tám đùi: văn xưa gọi là "bát cổ" dịch là tám vế, vế đồng nghĩa với đùi.
12.Tính danh:
Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh Giống như Ðiển Thi, câu nào cũng dẫn 1 điển ở bên Tàu. Xưa kia các cụ đồ nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học, rộng kiến thức, ví dụ:

 

LỖI THỀ
 

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Ðường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành (2) rở nhớ thương.
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương (4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương.
(Toại Khang)
Chú thích
1- Kiều trầm mình ở sông Tiền Ðường
2- Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành
3- Ðường Minh Hoàng -Dương Quý Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau "sống làm vợ chồng chết là chim liền cánh cây liền cành"
4- Bạch Cư Dị, văn hào đời Ðường, đêm đậu thuyền ở sông Tầm
làm bài Tỳ Bà Hành cho ca nữ hát
5- Chung Tử Kỳ - Bá Nha là 2 bạn tri âm.Bá Nha gảy đàn, Tử Kỳ biết Bá Nha nghĩ gì.Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn đi, không gảy nữa.
6- Trương Quân Thụy-Thôi Oanh Oanh tình tự dưới mái Tây hiên
7- Chiêu Quân nhà Hán sang cống Hồ
8- Ngưu Lang - Chức nữ đứng 2 bên sông Ngân Hà nhớ nhau khóc
thành mưa ngâu trong tháng 7 Âm lịch

 

13. Sắc thái:
Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc, ví dụ:
 

CHIỀU NỔI MÀU THU
 

Trời thu bóng ác rực mầu vang
Trườn trượt vào lưng dặng núi vàng
Cánh nhạn chiều tà sương lót trắng
Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía
Vườn vắng còn đây nở đóa vàng
Nếu chẳng vương tìm hoa súng tím
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam
(Toại Khang)
 

14. Thủ vĩ ngâm
Câu đầu và câu cuối giống nhau, ví dụ:
 

KHOE LƯỜI
 

Anh em chớ bảo ta lười
Làm việc cho hay phải thức thời
Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí
Hạ mà cất nhắc tất nhoài hơi
Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh
Ðông lại hầm chăn tạm nghỉ ngơi
Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu
Anh em chớ bảo ta lười
(Tú Mỡ)
 

15. Triệt hạ
Từ cuối của mỗi câu thơ để bỏ lửng làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa,khiến người đọc phải nghĩ ra, ví dụ:
 

GÁI HỒNG NHAN
 

Thấy gái hồng nhan bỗng chốc mà . . .
Hõi thăm cô ấy chửa hay đà . . .
Hình dung yểu điệu in như thể . . .
Diện mạo phương phi ngó tưởng là . . .
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn . . .
Nói năng phải lẽ giống con nhà . . .
Ước gì ta được mà ta để . . .
Ta để đem về để nữa ta . . .
( Nguyễn Quý Tân)
 

16-Yết hậu
Các câu trên đủ từ cả, riêng câu cuối cùng chỉ có 1 từ, ví dụ:
 

CHA CON ĐÁNH CỜ
 

Ánh nắng vừa nghiêng ngọn trúc già
Cha con vui vẻ bày cờ ra
Đồng xanh gió mát trà thơm ngát
Ha!
Không - Một! Xưa nay ai chả lầm
Ván này...Thôi! Hết! Chốt xuyên tâm
Lâng lâng quý tử ngâm thơ luật
R...ầ...m!
Trước ngõ chỏng chơ tướng sĩ bồ
Ngoài sân cao thủ khóc nhi nhô
- Nín ngay! sắp lại cho tao gỡ!
- Dzô!
Nắng đã khuất dần phía núi xa
Cơm canh lên khói đợi trong nhà
Dưới thềm xe ngựa còn rầm rộ
- Chà!
(Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
 

17. Áp cú
Từ cuối của câu trước trở thành từ đầu của câu sau, ví dụ:
 

CHỪA RƯỢU
Những lúc say sưa, cũng muốn chừa
Muốn chừa, nhưng tỉnh lại hay ưa
Hay ưa nên nỗi không chừa được
Chừa được, nhưng mà cũng chẳng chừa
(Nguyễn Khuyến)
Trên đây là một số kiến thức cơ bản về Thơ Đường luật, Ban Quản trị sưu tầm và chia sẻ cùng các bạn.
Chúc các bạn sáng tác được nhiều bài thơ hay!


Pham Hong Thai

 TÓM TẮT :
      I.  NIÊM :  Niêm , từ Hán Việt có nghĩa là dính ( niêm phong ,  con niêm ) , trong phép làm thơ Đường luật thì các câu niêm với nhau phải có cùng loại thanh ( cùng mang thanh trắc hết , hoặc cùng mang thanh bằng hết  )   .Ta có :
       Câu 1 niêm với câu 8 .  Câu  2 niêm với câu 3 .  Câu  4 niêm với câu 5 .  Câu  6 niêm với câu 7  .Để  bớt sự gò bó khắt khe ,  có quy định : “ Nhất , tam , ngũ   bất  luận  . Nhị  , tứ  , lục  phân minh ” có nghĩa là : các tiếng lẽ trong câu như các tiếng thứ 1 , 3 ,  5   không  nhất thiết  phải răm rắp  thật đúng thanh bằng trắc ; nhưng các tiếng chẵn như các tiếng thứ  2, 4 , 6  dứt khoát phải triệt để đúng loại thanh ( bằng , trắc )
      II.  LUẬT :  Nếu  tiếng thứ 2  của câu thứ 1 (và câu thứ 8) có thanh bằng thì bài thơ theo luật bằng . Nếu tiếng thứ 2 của câu thứ 1 có thanh trắc thì bài thơ theo luật trắc .                   
Bài thơ theo luật bằng có quy định như sau :
-Tiếng thứ 2 và tiếng thứ 6 của câu thứ 1 và câu thứ 8  đều có thanh bằng , tiếng thứ 4 có thanh trắc (B-T-B )
-Tiếng thứ 2 và tiếng thứ 6 của câu  thứ 2 và câu thứ 3 ngựơc lại có thanh trắc, tiếng thứ 4 có thanh bằng (T-B-T )
-Tiếng thứ 2 và tiếng thứ 6  của câu  thứ 4 và câu thứ 5 trở lại như câu thứ 1 và câu thứ 8 ( có thanh bằng  ) , tiếng thứ 4 cũng vậy  ( có thanh trắc )(B-T-B )
-Tiếng thứ 2 và tiếng thứ 6 của câu  thứ 6 và câu thứ 7  cùng có thanh  trắc , tiếng thứ 4 có thanh bằng  ( như các câu  thứ 2 và câu thứ 3 )( T-B-T )
Bài thơ theo luật trắc :  
 Thực hiện trái ngược với thơ làm theo luật bằng
-Các tiếng thứ 2 và thứ 6 của câu thứ nhất  và câu thứ 8 có thanh trắc , tiếng thứ 4 có thanh bằng (T-B-T )
-Câu thứ 2 và câu thứ 3 thực hiện ngược lại ( B-T-B )
-Câu thứ 4 và câu thứ 5 thực hiện như câu thứ 1 và câu thứ 8 (T-B-T )
-Câu thứ 6 và câu thứ 7 thực hiện như câu thứ 2 và câu thứ 3 ( B-T –B )
      Nói tóm lại :
-Các câu thứ 1 , 4 , 5 , 8 có thanh trong các tiếng chẵn giống nhau
-Các câu thứ  2 , 3, 6 , 7 có thanh trong các tiếng chẵn giống nhau
-Các tiếng thứ 2 và thứ 6 có thanh giống nhau , tiếng thứ 4 nằm ở giữa có thanh ngược lại (   theo quy định :   B-T-B    hoặc    T-B-T  )
III. VẦN :
       Thơ Đường luật THẤT NGÔN BÁT CÚ có 8 câu 5 vần . Vần vào tiếng cuối  ( tiếng thứ 7 ) của các câu thứ 1 ,2, 4 ,6 ,8 . Có chính vận và thông vận .  Chính vận là các tiếng bắt vần với nhau phải cùng vần  .Thông vận là các tiêng bắt vần với nhau có thể có vần gần gống nhau  như : an , ăn , ân , ang ….;  oi ,ôi, ơi ..; ui , ưi…vv..
              IV. ĐỐI
          Khó nhất trong thể thơ Đường luật là phải đối cho thật chỉnh .Đối theo từng cặp từ chan chát  ,trái nghĩa với nhau và phải cùng từ loại (danh từ đối với danh từ , động từ đối với động từ ,….) từ thuần Việt đối với từ thuần Việt , từ Hán Việt đối với từ Hán Việt…..
Sau này thoáng hơn người ta chấp nhận đối theo cụm từ hoặc có thể đối ý ; có thể  tá đối  không nhất thiết phải chỉnh đối. Do phạm vi bài viết  là chỉ tóm lược những nét cơ bản  của thơ Đường luật nên tôi  chỉ nói lướt qua thôi .  Khi đối   thì 2 câu thực ( câu thứ 3 thứ 4 ) đối với nhau  ; 2 câu luận  ( câu thứ 5 , thứ 6 ) đối với nhau .
   V. PHÂN ĐOẠN
         Trong thơ Đường luật  , chia ra 4 cặp câu  : đề , thực , luận , kết :
          Đề  (Câu thứ 1 và câu thứ 2) :   Mở bài  , giới thiệu sự việc ….
          Thực ( Câu thứ 3 và câu thứ 4 ) : Tả thực sư việc , nêu cảnh thực …..
          Luận ( Câu thứ 5 và thứ 6 ) : Bàn luận , lý giải , trần tình ,  phân bua ….
          Kết ( Câu thứ 7 và câu thứ 8 ) : Kết luận , nêu cảm xúc ….
        Thơ Đường luật là thể thơ bác học, cầu kỳ và rất gò bó .Để hiểu và vận dụng làm thơ Đường luật không dễ dàng ,đòi hỏi ngườ làm thơ phải tốn hao khá nhiều thời giờ để lập ý ,cấu tứ  vắt óc tìm từ và  đúng luật hài thanh để có tính nhạc trong thơ. Tuy nhiên nếu đã quen thuộc thì làm thơ Đường là  một thú chơi tao nhã , quyến rũ như chơi cây kiểng , non bộ….vv , có thể di dưỡng tinh thần và rèn tính kiên nhẫn  , thận trọng và nhiều đức tính khác .Theo đề nghị của anh Văn Thiên Tùng , tôi viết vội bài này , giới thiệu đến  quý bạn  một thể thơ cũ đang được phục hồi. Bài viết chắc còn nhiều thiếu sót mong quý bạn bỏ qua cho.
LA THUỴ( 24/10/2009 )

 Các lỗi thông thường trong bài thơ Đường luật


Quý anh chị có thể xem thêm  các lỗi khác . Click chuột vào dòng chữ màu xanh CLICK TO VIEW

Các lỗi thông thường trong bài thơ Đường luật
1. Thất luật (Click to View)
2. Thất niêm (Click to View)
3. Lạc vận/Cưỡng vận (Click to View)
4. Thất đối (Click to View)
5. Khổ độc (Click to View)
6. Trùng vận (Click to View)
7. Trùng từ (Click to View)
8. Trùng ý (Click to View)
9. Phạm đề/Mạ đề (Click to View)
11. Bình đầu (Click to View)
12. Thượng vỹ (Click to View)
13. Điệp thanh (Click to View)
14. Điệp âm (Click to View)
15. Đại vận (Click to View)
16. Tiểu vận (Click to View)
17. Phong yêu (Click to View)
18. Hạc tất (Click to View)
19. Chánh nữu (Click to View)
20. Bàng nữu (Click to View)
Ái Hoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Dương Quảng hàm - Văn Học Việt Nam
Quách Tấn - Thi Pháp Thơ Đường

Mạ đề và điệp  từ 
 là  hai lỗi thường gặp nhất trong Sáng Tác Thơ Đường luật hiện nay: .

Luật lệ Đường thi rất nghiêm nhặt. Ngoài những qui định cơ bản về số lượng  câu trong bài thơ và âm tiết (chữ, tiếng) trong câu, thanh (luật bằng trắc), niêm, vần, kết cấu (bố cục), tiết tầu (nhịp),đối ngẫu..., luật lệ Đường thi còn chỉ rõ  20 bệnh, lỗi thường gặp mà người sáng tác thơ Đường cần phải tránh mắc phải:
       Tám bệnh  của Đường thi ( thể thất ngôn) là:
1. Bệnh Bình Đầu
2. Bệnh Thượng Vỹ
3. Bệnh Phong Yêu
4. Bệnh Hạc Tất
5. Bệnh Bàng Nữu
6. Bệnh Chánh Nữu
7. Bệnh Đại Vận
8. Bệnh Tiểu Vận
Và 12 lỗi  của Đường thi là:
1. Lạc vận
2. Lạc đề
3. Thất niêm, thất luật
4. Thất đối
5. Khổ độc
6. Điệp thanh
7. Điệp điệu
8. Điệp âm
9. Trùng vận
10. Trùng từ/điệp từ
11. Trùng ý /Hiệp Chưởng
12. Phạm đề/Mạ đề
   
    
    Trong 20 lỗi, bệnh trên, có những lỗi như lạc vận, thất niêm, thất luật,.. người làm thể thơ Đường luật ít phạm phải, vì đã có qui định về niêm, luật, vần... trong luật lệ cơ bản,  có những lỗi như  điệp thanh, điệp điệu, điệp âm, thất đối..., người viết vẫn biết mà phải phạm do hạn chế về năng lực sử dụng ngôn ngữ. Điều đáng nói là trong sáng tác, giao lưu và trên các diễn đàn thơ Đường luật hiện nay, có 2 lỗi thường thấy nhất mà người làm thơ Đường luật và ban biên tập các trang thơ Đường luật  thường bỏ qua (nhất là trên các diễn đàn ở phía Bắc và của người Việt ở nước ngoài) là mạ đề và điệp  từ. Hiện trạng nầy xảy ra do 3 nguyên nhân: Thứ nhất là do cả người sáng tác lẫn người  phụ trách, biên tập các trang thơ Đường luật đó "không hề biết trên đời nầy" có 2 lỗi nầy; thứ hai là do tưởng rằng phạm vào 2 lỗi này cũng không hoặc ít ảnh hưởng đến nội dung bài thơ; thứ ba là do quan niệm của những người sáng tác và biên tập. Đây là điều đáng bàn. Nhiều thi hữu  khi thơ được biên tập để sửa lại 2 lỗi nầy đã rất thực lòng khi nói: "Tôi chỉ mượn luật Đường thi để viết thơ thuần Việt(!), bất chấp và không cần biết những qui định khác!". Họ quên rằng những bệnh, lỗi phải tránh khi viết thơ Đường luật cũng không nằm ngoài luật lệ Đường thi! Người tiếp thụ (độc giả) thơ Đường luật thì được, chỉ cần biết luật lệ cơ bản như đã nói ở trên là đủ để cảm hiểu , nhưng giới sáng tạo ( nhà thơ, người viết ...)
thơ Đường luật phải biết rành rẽ về phép tắc  Đường thi thì mới  sáng tác được bài thơ gọi là thơ luật Đường được (chưa nói đến chuyện thơ hay)!  Có người cũng rất thực lòng khi thơ được biên tập để sửa lại 2 lỗi nầy (cùng những lỗi, bệnh khác): "Tôi muốn vượt ra ngoài khuôn khổ gò bó, luật lệ nghiêm khắc!". Thế thì cứ làm thơ tự do, như phong trào thơ mới đã  làm cách mạng trong thơ ca và ngày nay thơ hiện đại VN đang thừa kế, phát triển. Còn muốn nói đến ý muốn cách tân, đổi mới thơ luật thì trước hết phải  am hiểu sâu sắc về luật thi đă thì mới  nói  đến chuyện cách tân được! Không biết đối tượng là ai, là thế nào, ở đâu, mặt mủi ra làm sao, nguồn gốc, con cái nhà ai ..., thì  làm sao sửa đổi đối tượng được! Hơn nữa, chủ nghĩa cổ điển trong văn học dù ràng buộc sáng tạo với những luật lệ nghiêm nhặt , nhưng lại có cái hay là xác định những chuẩn mực để bình ổn văn hóa và tạo điều kiện  cho sự sáng tạo trong khuôn khổ.  Chẳng hạn,  qui định về kết cấu của thơ Đường luật, nhất là thể  bát cú, với  bố cục chặt chẽ: đề, thực, luận, kết đã là cấu tứ  của bài thơ, cái TỨ có sẵn tặng người làm thơ. Người viết, ngoài TÌNH thật , TỪ hay , nếu Ý thơ  tuân thủ được kết cấu trên thì tứ thơ đã tự nhiên hình thành và bài bát cú đó là thơ, vì  đã có sẵn TỨ THƠ ( cái phải có để phân biệt thơ với vè, văn vần, khẩu hiệu...) do kết cấu chặt chẽ  tạo nên, không phải vè, văn vần, khẩu hiệu... rồi (dĩ nhiên giá trị của bài thơ còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác). Ngay trong 2 lỗi đang bàn đến: mạ đề và điệp từ, hai qui định nầy tạo điễu kiện cho người viết nâng cao  giá trị bài thơ. Qui định  về lỗi điệp từ ( vì nghèo từ vựng, vì không nghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật...)  giúp tác giả có sự chọn lọc những từ ngữ "đắt" nhấi,làm đẹp câu chữ, làm tăng giá trị nghệ thuật của bài thơ và  qui định về lỗi mạ đề  giúp cho tựa đề bài thơ thực hiện được trạng thái "phi giao tiếp" (Lời kị thẳng, Mạch kị lộ(*)_ Lê Quí Đôn),  làm tăng  giá trị thẩm mỹ của bài thơ. Trong luật thơ Đường và thi pháp thơ Đường, có những yếu tố mà thơ Đường luật VN đương đại cách tân thành công. Chẳng hạn về tiết tấu, thay vì nhịp 4/3 như qui định, thơ Đường VN đương đại dùng các nhịp phá cách như:  3/4, 2/5, 5/2, 2/3/2... trong nhiều bài thơ giá trị, hoặc về ngôn ngữ, thay cho từ ngữ ước lệ, tượng trưng, điển cố... trong thơ Đường luật truyền thống bằng ngôn  ngữ đời thường cụ thể, sinh động, hình ảnh, gợi cảm... trong nhiều bài thơ Đường luật được yêu thích. Nhưng có những yếu tố cơ bản của Đường luật không thể thay đổi được, vì nếu thay đổi sẽ biến dạng thành quái dị hoặc thành một loại thơ khác, chứ không còn là thơ Đường luật nữa!     
      Xin nói kỹ hơn về  2 lỗi thường gặp  nhất mà người làm thơ Đường luật và ban biên tập các trang thơ Đường luật hiện nay thường bỏ qua là mạ đề và điệp  từ.

1. Phạm đề/Mạ đề:
     Trong hai cặp thực và luận không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của đề lọt vào thì bị lỗi phạm đề hay mạ đề. Nói ngược lại và ngắn gọn, là đề không được dùng chữ trong 4 câu giữa  của bài thơ.    
     Người viết  ngày nay thường "lách luật", tránh lỗi mạ đề bằng cách đưa tựa đề mà mình thích nhưng phạm mạ đề thành tựa phụ đặt sau tựa đề chính và  trong dấu ngặc đơn
2.Trùng từ/ điệp từ:

      Cùng một  chữ được dùng nhiều lần ở trong bài thơ, thì gọi là lỗi trùng từ hay điệp từ, ngoại trừ trường hợp cố ý.
      Đó là cách giải thích thống nhất xưa nay như là một định nghĩa trong các sách vở, tài liệu, trên mạng...  viết về phép tắc, luật lệ Đường thi  đối với lỗi nầy. Theo nhận thức của chúng tôi,  trong 3 trường hợp cụ thể sau thì cùng một âm tiết được dùng nhiều lần ở trong bài thơ  vẫn  không bị qui vào  phạm lỗi điệp từ:
    1) Dùng hai từ, ngữ, âm tiết hay  từ tố (viết ra gọi là chữ, đọc lên gọi là tiếng) đồng âm nhưng nghĩa gốc khác nhau (từ đồng âm dị nghĩa) như "cánh" trong "cánh chim" và 'cánh" trong "canh cánh" thì không phạm điệp từ. Cần phân biệt với  trường hợp dùng nhiều lần các từ tố của một từ đa nghĩa (cùng nghĩa gốc) thì phạm lỗi điệp từ, chẳng hạn: dùng nhiều lần từ tố  "cánh" trong các từ: cánh chim, cánh quân, cánh quạt, cánh đồng,  cánh quạt, phe cánh, sát cánh, cánh gà (sân khấu), cánh cửa là phạm lỗi điệp từ, vì chúng dùng một hay nhiều nét nghĩa của một nghĩa  gốc ( có một trục, điểm tựa; dựa vào, di động, mở ra...  quanh trục,
điểm tựa đó)  của một từ đa nghĩa.
    2) Dùng nhiều lần một từ, ngữ, từ tố, câu, kiểu câu với dụng ý nghệ thuật thì là sử dụng biện pháp tu từ (xưa gọi là mỹ từ pháp) điệp ngữ thì  không phạm lỗi điệp từ
    3) "Lách luật" bằng cách dùng từ biến âm, phương ngữ... đồng nghĩa hoàn toàn của từ đã dùng trong bài thơ, để không phạm điệp từ, chẵng hạn  2 từ  tố " nghĩa" và "ngãi "  trong các từ ghép sau: "nhân ngãi" và "tình nghĩa".
Minh Thu
(*) Nguyên văn:
 Lời kị thẳng
Ý kị nông
Mạch kị lộ
Thi vị kị ngắn
(Lê Quí Đôn)
 Mời quí thi hữu nhắp chuột đọc thêm về luật lệ, thể thức, thi pháp Đường thi và thực trạng thơ Đường hiện nay:
VỀ THỂ THỨC HỌA THƠ LUẬT ĐƯỜNG .

 ÁO TRẮNG NGUYỄN HOÀNG 

Dong ruổi miền quê một sớm mai
Phất phơ áo trắng giữa vườn ai
Đôi tà trinh bạch màu như mới
Hai chữ Nguyễn Hoàng nét chửa phai
Trường cũ đã xa từ dạo ấy
Áo dài còn giữ đến hôm nay
Xốn xang hồi ức thời thơ mộng
Thơ thẩn đường về mắt thoáng cay.
Thầy  Thái Mộng Hùng
                    
PHỤNG HOẠ

               HOÀI CẢM

Xao xuyến thu về trong nắng mai
Mây Tần bàng bạc chạnh lòng ai
Sông xưa Thạch Hãn bờ còn biếc ?
Áo trắng Nguyễn Hoàng sắc có phai ?
Thầy bạn : thẩn thờ mơ bóng cũ !
Xóm làng : đau đáu dệt tình nay !
Ngàn trùng dõi mắt , hồn ươm mộng
Quê mẹ mờ xa lệ xót cay
                           La Thuỵ

ÁO TRẮNG NGUYỄN HOÀNG


(1) Mơ hồ trong gió sớm ban mai
Áo trắng Nguyễn Hoàng vẫy gọi ai!
Trước ngực tên trường còn đậm nét
Trong tim tình bạn chẳng hề phai
Mộng vàng ấp ủ từ xưa ấy
Dáng ngọc chờn vờn mãi tận nay,
Màu áo trinh nguyên dày kỷ niệm
Mỗi lần tưởng nhớ, mắt nồng cay

(2) Xuân về bướm lượn khắp rừng Mai
Chợt thấy lòng mình thương nhớ ai
Áo trắng năm nay còn trinh bạch?
Má hồng thuở nọ hẳn tàn phai?
Nghĩa tình vun đắp bao ngày tháng
Duyên nợ đèo bòng bấy đến nay!
Bóng dáng Nguyễn Hoàng dường khúât nẻo
Trông vời chốn cũ, lệ cay cay!
NGUYỄN VĂN QUANG

GỞI ÁO TRẮNG BÀ RỊA

Lặng ngắm Xuân về bên khóm Mai
 Nhớ người Bà Rịa, nhắn dùm ai
Áo dài thuở nọ còn trinh trắng?
Mái tóc bây giờ hẳn bạc phai?
Sách vở trả về năm tháng cũ
Nghĩa tình gửi tới bạn bè nay.
Thương nhau, xin trọn niềm chung thủy
Bao quản thăng trầm, nỗi đắng cay!
NGUYỄN VĂN QUANG
  
ÂM VANG NGUYỄN HOÀNG

Tất bật lo toan suốt tối mai
Nâng niu kỷ niệm có còn ai!
Trắng ngà, chiếc áo màu chưa chuyển
Xanh thẳm, tên trường nét chẳng phai
Cuộc sống đổi thay từ độ ấy
Tấm lòng lưu luyến đến  ngày nay
Nguyễn Hoàng, hai tiếng âm vang mãi
Cho dẫu đường đời lắm đắng cay
                                     Trần Hào

                       VIẾNG MỘ THẦY

          Mây nhuốm thu buồn, lạnh gió mai
             Đoàn người đứng lặng, cảnh bi ai!
             Niềm thương dồn nén, tình thêm đậm
             Nỗi nhớ đong đầy, nghĩa khó phai.
             Đau xót tiễn linh hồn dạo ấy
             Nghẹn ngào trông nấm mộ hôm nay!
             Lối về bịn rịn khôn dời bước
             Cúi mặt bên đường, lệ xót cay!
                              Nguyễn Văn Quang

XUÂN ĐẠO LÝ


Chẳng rượu chẳng cờ, cũng chẳng hoa
Xuân về ta có thú riêng ta.
Dăm ba pho sách, dăm ba bạn
Một ít vần vần thơ, một ít trà.
Người kiếm mai vàng mừng tết đến
Ta trồng cỏ biếc dưỡng tâm già(1)
Gió xuân có biết mà thăm hỏi,
Đã có chim vườn cất tiếng ca.
                      Tâm Hướng ( Cố GS Lê Đình Ngân)

(1) Chu Đôn Di ( 1017-1013) Hiệu Liêm Khê, nhà đạo học đời tống
để cỏ mọc xanh tốt trước cửa sổ chỗ nhà học.  có người hỏi ông nói” Dự tử gia ý tứ nhất ban”

        TÂN NIÊN KHAI BÚT

Một trời hương sắc xoắn quanh ta
Nhắp chén xuân nồng vẩy bút hoa
Chấm phá dăm câu, khai huệ trí
Dọc ngang đôi nét , tỏa hồn xa
Nghinh xuân, một nhánh lộc non dại
Đón tết vài chung, phúc tuổi già
Dẫu biết thêm xuân đời vắn lại 
Mà lòng vẫn tấu khúc hoan ca.
                             Trần Quang Thắng

MỪNG XUÂN
Nâng chén hoà vui ấm giọng ca
Ý tình thao thiết bút thêu hoa
Mai e ấp nụ ươm vàng nắng
Sen khẽ khàng hương ủ đượm trà
Bấc lạnh nỗi niềm , Đông tận nhỉ!
Rượu nồng hương sắc , Xuân khai a!
Lâng lâng thi tứ tươm trào giọt
Cánh mộng dường bay vào thẳm xa
LA THUỴ
 
CHÚC TẾT

Chuyển tiết ngàn chim riú rít ca
Hòa nên tuyệt cảnh, với muôn hoa
Chào Xuân mời Bạn nâng chung rượu
Đón Tết cùng Ông nhấp ngụm trà
Khai bút đầu năm gìa xướng họa
Mừng vui tiền mới trẻ ê a
Tân niên Hạnh phúc- An bình đến
Như ý mọi điều cũng chẳng xa.
Thanh-Huyền
Tải Blog 23.5.2009 



THỂ THỨC HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT
  
Có 2 thể thức họa thơ Đường luật là: Họa Hạn Vận và Họa Phóng Vận

1. HỌA HẠN VẬN:
Họa hạn vận là phải theo sự hạn định trước. Người ta ra đề và cho vần nào thì mình phải dùng vần ấy. Thể Họa Hạn Vận nầy khác với thể Họa Phóng Vận, vì họa hạn vận không có bài xướng để dựa theo mà họa, hơn thế nữa, ta phải:
- Diễn tả ý thơ theo đầu đề đã ra sẵn.
- Dùng đúng 5 vần hạn định (trong 8 câu) và phải hạ vần đúng theo thứ tự đã hạn định.
Thí dụ: Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức như sau:
a. Ðầu đề (nội dung) là:
Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không ai dám dở mùng chun vô
b. Năm vần hạn định theo thứ tự là:  xô - cô - vô - ô - rô.
Bài thơ sát với đầu đề, hạ đúng 5 vần hạn định, được giải nhất mà tác giả lại là một thiền sư chân tu !!! ... như sau đây:
Nào phải là ai dám giục xô
Thuận tình trước hết tự nơi cô
Có cho mới dám trao dùi đánh
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
Ham vui quên hết chuyện dâm ô
Thói hư thuần thước xưa còn lạc
Đừng học làm chi gióng nhảy rô
        Còn có một lối hoạ hạn vận rất khó., xin kể lại một câu chuyện như sau: Mùa Hè năm 1926, trong dịp thi sĩ Đão Sĩ Nhã đến thăm gia đình họ Phan ở Hưng Yên. Ông khách Đào Sĩ Nhã thách lão thi sĩ Phan Mạnh Danh làm một bài thơ Nôm Đường luật với các điều kiện sau:
- Đầu đề: Xuân Khuê
- Hạn 5 vần: chờ - hờ - thưa - tơ - thơ
- Phải dùng 19 chữ: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, trăm, ngàn, vạn, đôi, cặp, nửa, trượng, thước, tấc.
           Sau đây là bài thơ Nôm hoạ hạn vận của lão thi sĩ Phan Mạnh Danh:
Xuân Khuê
Một mong hai đợi bốn ba chờ
Mười hẹn đêm trăng tám hững hờ
Nửa gối năm canh gà gáy giục
Tấc mây sáu cánh nhạn tin thưa
Trăm lần cặp mắt đôi hàng lệ
Chín khúc bên lòng vạn mối tơ
Ngàn trượng thành sầu đo thước khó
Biếng đem bảy vẻ dệt nên thơ .
                               Phan Mạnh Danh
2. HỌA PHÓNG VẬN
       Họa Phóng Vận là phỏng theo vần của bài xướng để họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa thì hoặc phụ theo cho rộng thêm, hoặc trái hẳn lại (phản đề).
         Họa phóng vận còn chia ra 4 hình thức là: Họa Nguyên Vận, Họa Đảo Vận, Họa Hoán Vận và Hoạ Tá Vận.
  a. Họa Nguyên Vận: là họa đúng 5 vần của bài xướng và hạ vần cũng đúng y theo thứ tự như cách hạ vần của bài xướng. Trong cách họa nguyên vận thường thì có bao hàm họa ý (hoặc đối ý) và đối luật với bài xướng. Nếu không đối luật được thì cũng có thể họa luật.
   b. Họa Đảo Vận: là họa ngược thứ tự của 5 vần từ dưới lên trên, thay vì họa nguyên vận là họa từ trên xuống còn họa đảo vận là họa từ dưới lên.
    c. Họa Hoán Vận: là thay đổi thứ tự vị trí các vần của bài xướng tùy theo ý người họa, sắp xếp lại sao cho vần điệu nghe êm tai hơn cách sắp xếp của bài xướng.
  d. Họa Tá Vận: Tá vận là mượn vần. Họa tá vận là bài họa chỉ mượn 5 vần của bài xướng để làm một bài khác mà nội dung hoàn toàn không liên quan gì đến bài xướng cả. Cách họa này ngày nay hầu hết được  người ta làm rất nhiều vì dễ làm .

CHÚ Ý QUAN TRỌNG:   Trong thể thức Họa Vận, không được dùng trùng từ thứ 6 trong các câu có vần của bài xướng. Tức là không được dùng lại từ đứng trước của 5 vần bài xướng. Nói dễ hiểu là không được dùng lại chữ thứ 6 ở các câu 1-2-4-6-8 của bài xướng. Càng tránh dùng trùng từ trong toàn bài của bài xướng càng tốt, ngoại trừ những từ đặc biệt không thể tránh được ( Chắc phải xữ dụng câu mở đường này)

             Hoạ Thơ bao gồm 2 phần chính quan trọng sau đây:

      Đã có một bài thơ sẵn trước gọi là Bài Xướng. Bài xướng có thể chọn 1 bài đã có sẵn từ xưa, từ trước, hoặc 1 bài do 1 người khác làm trước "thách đố" cho người khác đáp lại. Người đáp lại thì bài reply đó gọi là Bài Họa. Bài họa phải có ít nhất 3 yếu tố quan trọng sau đây:
      1. Họa vần: 5 vần tức là 5 tiếng (từ) cuối của các câu 1-2-4-6-8 mà người xướng đã ra như thế nào thì người họa phải theo đúng y chang 5 vần đó, không được vì bí hay kẹt mà sửa đổi. Chỉ cần sai 1 trong vần kể trên thì bài họa coi như bị hỏng, và như vậy gọi là bị Xuất Vận nghĩa là bị ra khỏi vần đã hạn định cho mình, dĩ nhiên bài họa đó bị Fail.
     2. Bài xướng nói lên ý (main idea) gì thì bài họa cũng phải nói lên ý đó hoặc tán rộng nghĩa ra thêm.
     3. Bài xướng gieo luật gì thì bài họa phải đối lại luật đó (trong xướng họa có hàm nghĩa đối đáp). Thí dụ bài xướng luật trắc thì bài họa phải luật bằng và ngược lại.
     4. Ngoài ra bài họa có thể đối ý lại bài xướng, thí dụ bài xướng khen 1 vấn đề gì thì bài họa có thể chê vấn đề đó (gọi là phản đề, nhưng không bắt buộc).
          Tóm lại 3 yếu tố 1-2-3 là cần thiết cho 1 bài họa xuất sắc.
Sau đây là một thí dụ về xướng họa điển hình để làm mẫu. Hai bài này nổi tiếng trong văn học Việt Nam

                 Bài Xướng:
TÔN PHU NHÂN QUI THỤC
               (của Tôn Thọ Tường)
Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh được bụng chồng
          Bài Họa:
TÔN PHU NHÂN QUI THỤC
        (của Phan Văn Trị)

Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông
Ngút tỏa trời Ngô ùn sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng .

   

Một số thí dụ  HỌA PHÓNG VẬN:
Thí dụ 1:
a. Họa nguyên vận:
Bài xướng:
       TƯƠNG TƯ
Tương giang hai đứa ở hai nơi
Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
Nét chữ run run ý cạn lời
Định số an bài mang khổ hận
Đêm trường thổn thức máu tim rơi .

                                     H. T.L
 Bài họa nguyên đề  

TƯƠNG TƯ
Mỏi gót phiêu bồng khắp mọi nơi
Về đâu trên vạn nẻo đường đời
Mưa buồn đổ mãi mưa buồn hỡi
Tuyết trắng rơi hoài tuyết trắng ơi
Muốn nhắn đôi câu mà nghẹn ý
Mong trao mấy tiếng lại ngăn lời
Dòng sông ly biệt nào chia lối
Ngắm dải Ngân Hà đếm lệ rơi .
                                      H T L

b. Họa đảo vận:
Bài xướng:
           TƯƠNG TƯ
Tương giang hai đứa ở hai nơi
Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
Nét chữ run run ý cạn lời
Định số an bài mang khổ hận
Đêm trường thổn thức máu tim rơi
                                         HTL
Bài họa nguyên đề
TƯƠNG TƯ
Lất phất bên thềm tuyết trắng rơi
Niềm riêng ấp úng chẳng nên lời
Hai hàng lệ tủi than trời hỡi
Một áng thơ sầu khóc bạn ơi
Rẽ yến chia oanh hờn số kiếp
Lìa loan rã phụng lỡ duyên đời
Sông Tương uống cạn dòng thương nhớ
Giang vĩ giang đầu đứa mỗi nơi .
                              H T L

c .Họa hoán vận:
Bài xướng:
       TƯƠNG TƯ 
Tương giang hai đứa ở hai nơi
Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
Nét chữ run run ý cạn lời
Định số an bài mang khổ hận
Đêm trường thổn thức máu tim rơi
                                        H T L
Bài họa nguyên đề
            TƯƠNG TƯ
Gởi gió nhờ mây nhắn mấy lời
Trao người yêu dấu của tôi ơi
Đường mơ vạn nẻo đành riêng lối
Bến mộng đôi bờ phải khác nơi
Bóng chiếc phòng đơn sầu lệ đổ
Đèn khuya gác vắng tủi châu rơi
Ai xui hai đứa mình dang dở
Chẳng trọn cùng nhau suốt cuộc đời .
                                H T L

d. Họa tá vận (mượn vần):
Bài xướng:
             TRUNG THU
Trăng thu toả sáng nhớ xa xăm
Tháng tám chờ trông đến bữa rằm
Mẹ dán lồng đèn chơi suốt sáng
Cha làm trống ếch đánh quanh năm
Xa rồi cảnh cũ lòng se lạnh
Tiếc mãi ngày xưa lệ ướt dầm
Chiếc lá chao mình trong gió sớm
Nghe chừng vọng lại thoáng dư âm
                                          H T L
Bài họa nguyên đề
              XIN XĂM
Mẹ dẫn lên chùa để thỉnh xăm
Hôm nay trăng sáng đúng đêm rằm
Cầu xin phúc lộc vào nguyên tháng
Khấn nguyện bình an đến trọn năm
Giữa Hạ oi nồng đừng nắng gắt
Trung Thu mát mẻ chớ mưa dầm
Đưa tay vói rút ồ hên quá
Thượng thượng ngon lành chẳng bị âm .
                                       Trâm Anh
 Đôi điều chú ý Hoạ thơ Đường luật
Họa vần là sáng tác một bài thơ thường gọi là bài họa dựa trên hệ thống vần của một bài thơ có trước thường gọi là bài xướng.
Thơ Đường luật có nhiều thể như thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú.
Nếu thể thơ thất ngôn bát cú thì toàn bài có năm vần là chữ cuối cùng của các câu 1, 2, 4, 6, 8.
Những chữ vần thường là thanh bằng (có một số bài làm theo vần trắc, thì các chữ ở vị trí này là thanh trắc).
Sau khi có bài xướng, người làm thơ họa sáng tác một bài khác, dùng lại đúng năm chữ vần của bài thơ xướng, với điều kiện chỉ dùng chữ cuối, không được dùng chữ kế cuối.
Nếu dùng lại chữ kế cuối là phạm nguyên tắc "khắc lục", là lỗi cấm kỵ trong họa vần thơ Đường luật.
        Bài họa phải diễn đạt lại ý chính (nội dung) của bài xướng, không được lạc đề.
Thường là bài họa phải đối luật với bài xướng, nếu bài xướng luật bằng thì bài họa phải luật trắc và ngược lại. Kẹt lắm mới làm bài họa đồng luật với bài xướng.
Thí dụ:
Bài xướng
       Vườn rau Cẩm Tú
Thầy cho xới lại mảnh vườn hoang
Cẩm Tú đem phân ủ mấy hàng
Củ cải gieo gần dây mướp đắng
Su hào tỉa cạnh gốc khoai lang
Thì là diếp cá lên muôn lối
Húng đổi cần tây mọc khắp đàng
Tứ phía rau xanh nhìn mát mắt
Tha hồ cải thiện bữa ăn...sang
                                Cẩm Tú

Bài hoạ nguyễn đề
Vườn rau Cẩm Tú
Cẩm Tú gieo trồng mảnh đất hoang
Rau xanh thẳng tắp rất ngay hàng
Ngò om óng mượt bên giàn mướp
Húng quế thơm lừng kế luống lang
Bí rợ tần ô lên bít lối
Dưa leo ớt hiểm mọc đầy đàng
Chiều chiều đứng ngắm lòng thanh thản
Cuộc sống quê nghèo ngẫm lại...sang
                                     H. T. L
        Không được dùng lại chữ thứ 6 (chữ kế cuối) trong các câu cước vận (câu 1-2-4-6-8) của bài xướng và tất cả những bài đã hoạ trước.
5 chữ vần của bài hoạ không được khác nghĩa với 5 chữ vần của bài xướng.
Coi như bài hoạ là bản copy những nét căn bản về ý và vần của bài xướng, vì vậy bài hoạ phải cùng một tựa đề với bài xướng.
Hoạ thơ Đường luật không đến nổi quá khó nhưng không phải dễ dàng như nhiều người đã lầm tưởng !
Hoạ sai một vần gọi là xuất vận: không được.
Hoạ sai nghĩa một vần gọi là xuất ý: không được.

Bài đọc thêm
Xướng hoạ thơ Đường luật là có hàm ý đối hoạ ở trong đó.
Người ta xướng ra mình phải đối đáp lại, vì vậy nếu chỉ một bài xướng và một bài hoạ thì bài hoạ bắt buộc phải đối luật với bài xướng. Thí dụ bài Tôn Phu Nhân Qui Thục xướng của Tôn Thọ Tường, hoạ của Phan Văn Trị.
Trường hợp bất khả kháng không thể đối luật được thì có thể châm chế hoạ đồng luật, nhưng bài hoạ đồng luật sẽ bị giảm giá trị vì không đáp ứng đúng thể thức xướng hoạ đúng cách.
Bắt đầu những bài hoạ sau đó (nếu có) thì có thể dùng luật gì cũng được.
Hoạ thơ là "vẽ lại" hình ảnh của bài xướng cho nên phải trung thực với bài xướng về ý cũng như vần.
Hoạ sai ý bài xướng là không đạt.
Hoạ sai bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất vận: không đạt. Xuất vận là đi ra khỏi sự hạn định về vần của bài xướng.
Hoạ sai nghĩa bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất ý: không đạt. Xuất ý là đi ra khỏi ý nghĩa chữ vần của bài xướng.
            Hoạ thơ Đường luật đúng cách rất khó.
Khi bạn bè (thi hữu) chung vui xướng hoạ với nhau, có thể dùng thể thức Hoạ Tá Vận (tức là mượn vần) để hoạ những vần tử vận và tử ý. Cách nầy không đạt nhưng cốt là để cùng nhau vui vẻ mà thôi. Nhưng cũng không nên đi xa thi đề (nội dung của bài xướng). Thí dụ bài Cảm Vịnh Cây Mai xướng của Tôn Thọ Tường, hoạ của Đông Hồ.
          Lấy thí dụ tử vận xót xa không thể nào hoạ nguyên vận theo chính hoạ được. Chúng ta có thể hoạ tá vận (mượn vần) theo bàng hoạ là xa xa, từ xa, đàng xa v.v... chẳng hạn. Dĩ nhiên là sai nghĩa của chữ xót xa rồi (bởi vậy mới bị xuất ý: không đạt), nhưng cốt để cùng nhau vui vẻ mà thôi.
Chúng ta học thơ Đường luật chính thể, cho nên phải học kỹ về chính luật, chính vận, chính đối, chính hoạ.
Thông vận, bàng đối và bàng hoạ... không xuất sắc.
Làm thơ, nếu dùng thông vận thì nên dùng cận vận mà không nên dùng viễn vận. Viễn vận và cưỡng vận không hay, hạn chế dùng.
 
H. T.L                                                                               





Giải Mã Đường Thi
Cho người chơi thơ Thất Ngôn Bát Cú ĐƯỜNG LUẬT 

Tất cả các bài của tác giả Võ Nhựt Ngộ:
Giải Mã Đường Thi - Biên khảo - Sep 29, 2011

Giải Mã Đường Thi - Biên khảo - Jul 20, 2011

BÊN LỀ BÀI « ĐỘC TIỂU THANH KÝ » - Tiểu luận - Tạp bút - May 13, 2009

NHÌN LẠI NHỮNG BÀI THƠ GỌI LÀ PHÁ CÁCH - Tiểu luận - Tạp bút - May 12, 2009

Chiều Say Xuân Lạnh - Thơ mới hiện đại VN - May 11, 2009

LỜI PHI LỘ

Nhà hiền triết Platon hỏi các bạn thực khách : trong một chậu nước đầy, bỏ cục gạch vào thì nước tràn ra. Còn bỏ con cá lớn bằng cục gạch vào thì nước chẳng tràn ra, là tại sao ?
Các thực khách trả lời : kẻ bảo tại con cá nó hít nước, người bảo tại con cá nó nguo ngoe lội tới lội lui.
Phaton cho gia nhân mang chậu nước ra làm thí nghiệm, lúc bỏ con cá vào, thì nước cũng ... tràn ra !

Với thí nghiệm đó, Platon cho chúng ta câu châm ngôn dùng dạy trẻ là « hãy quan sát trước khi suy luận » (observer avant de raisonner)
Nhưng còn có một câu châm ngôn sâu sắc hơn nằm trong quyển Tự điển Petit Larousse : « tôi rất yêu quí Platon nhưng tôi yêu quí sự thật nhiều hơn » (Platon m’est cher, mais la réalité me l’est davantage).

Các tiền nhân chúng ta có công lớn với văn học, trong những tác phẩm của họ, không thể tránh được đôi khi cũng có những sơ sót sai lầm. Khi nhận ra, hẳn các vị ấy cũng khuyên chúng ta một câu tương tự : « đừng vì ta mà phủ nhận sự thật ».

Quyển GIẢI MÃ ĐƯỜNG THI này rất mong đóng góp được sự giải tỏa một vài thắc mắc của thơ Đường Luật trong tinh thần đó của tiền nhân.
Trân trọng kính thưa.

Võ Nhựt Ngộ

LỜI NÓI ĐẦU
Các thi sĩ đời Đường (từ 618 đến 907 sau Công nguyên) có bày ra chơi một loại thơ 8 câu 7 chữ  gọi là “Thất Ngôn Luật”, tức thơ Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) Đường Thi. Loại thơ “Thất Ngôn Luật” này cho ra nhiều tác phẩm bất hủ lưu truyền đến tận ngày nay, qua bao nhiêu năm tháng thăng trầm vẫn còn được nhiều người yêu thích.

Cách chơi theo thơ TNBC Đường Thi hiện nay có đôi chút khác nhau giữa chỗ này với chỗ kia. Có một lối chơi rất phổ thông, nhưng lại không tương ứng với tất cả những bài TNBC Đường Thi danh tiếng được lưu truyền. Có lẽ vì thi nhân đời Đường theo một cách chơi phóng khoáng hơn. Bài Giải Mã Đường Thi này xin đóng góp một sự nhận xét vô tư, căn cứ vào sự phân tách phần kỹ thuật được các thi nhân đời Đường áp dụng trên những kiệt tác của họ.

Các cách gọi : Đường Thi, thơ Đường hay thơ Đường Luật đều được người chơi tùy tiện dùng đến để chỉ định loại thơ thi nhân Việt Nam làm chơi theo thể “Thất Ngôn Luật” của những bài TNBC Đường Thi.

Để giảm bớt sự giải thích rườm rà, bài này xin trân trọng coi như độc giả không còn xa lạ với các danh từ Niêm, Luật, Trắc, Bằng, luật Trắc hay luật Bằng của câu thơ, của bài thơ, nhất-tam-ngũ bất luận, nhì-tứ-lục phân minh v.v.

*******
PHẦN I. GIẢI MÃ VÀ CHỨNG MINH
Cụm từ GIẢI MÃ ĐƯỜNG THI là cách nói gọn việc “Phần tách phần kỹ thuật của những bài TNBC Đường Thi lưu truyền, để nhận ra những cách chơi thực sự của thi nhân thời ấy”.
Như trên vừa nói, chủ yếu bài này nhắm vào sự nhận định cách làm loại thơ Thất Ngôn luật của Đường Thi.
Những bài Đường Thi lưu truyền cho thấy rằng thi nhân đời Đường dùng 2 bài Thất Ngôn Tứ Cú  (TC) ráp lại, để tạo thành bài Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) Đường Thi.
Nên trước tiên, xin nói sơ qua về thơ Tứ Cú.
Thơ Thất Ngôn Tứ Cú (cũng thường được gọi là thơ Tứ Tuyệt hoặc thơ Tuyệt Cú) có 2 phép Niêm thông dụng là :
1-4 2-3          (câu1 Niêm với câu4 và câu2 Niêm với câu3)
1-3 2-4          (câu1 Niêm với câu3 và câu2 Niêm với câu4)
Xin nêu dẫn 4 bài Tứ Cú làm mẫu :
1.1 mẫu thơ Thất Ngôn Tứ Cú (TC)
thơ TC Niêm 1-4 2-3, (luật Bằng, 3 vần)
LƯƠNG CHÂU TỪ
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩmthượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Vương Hàn
Dịch thơ : BÀI HÁT LƯƠNG CHÂU
Bồ đào, rượu rót chén lưu ly
Muốn uống, tỳ bà giục ngựa đi
Bãi cát say nằm, chê cũng mặc
Xưa nay chinh chiến mấy ai về.
Bùi Khánh Đản
thơ TC Niêm 1-4 2-3, (luật Trắc, 2 vần)
CỬU NGUYỆT CỬU NHẬT ỨC SƠN TRUNG HUYNH ÐỆ
Ðộc tại dị hương vi dị khách
Mỗi phùng giai tiết bội thân
Dao tri huynh đệ đăng cao xứ
Biến tháp thù du thiểu nhất nhân.
Vương Duy
Dịch thơ : NGÀY CHÍN THÁNG CHÍN NHỚ ANH EM CHƠI NÚI
Ðất khách một thân làm khách lạ
Mỗi khi giai tiết nhớ quê nhà
Anh em chắc hẳn đều lên núi
Hái đóa thù du thiếu một ta.
Bùi Khánh Ðản
thơ TC Niêm 1-3 2-4, (luật Bằng, 3 vần)
HOÀNH GIANG TỪ kỳ nhị
Hải thần lai quá ác phong hồi
Lãng đả Thiên Môn thạch bích khai
Chiết Giang bát nguyệtnhư thử                                                
Ðào tự liên sơn phún tuyết lai.
Lý Bạch
Dịch thơ : BÀI HÁT Ở SÔNG HOÀNH GIANG (bài hai)
Thần bể đi qua gió ngụt trời
Thiên Môn đã mở nước triều sôi
Chiết Giang tháng tám mà như thế
Sóng cuộn cao như núi tuyết rơi.
Bùi Khánh Ðản
thơ TC Niêm 1-3 2-4, (luật Trắc, 3 vần)
TÍCH TRUNG TÁC
Tẩu tây lai dục đáo thiên
Từ gia kiến nguyệt lưỡng hồi viên
Kim dạ bất trixứ túc
Bình sa vạn tuyệt nhân yên.
Sầm Tham
Dịch thơ : CẢM TÁC KHI Ở TRONG SA MẠC
Giục ngựa về tây đuổi mặt trời
Xa nhà hai độ nguyệt đầy vơi
Đêm nay biết trọ nơi nào nhỉ ?
Bãi cát mênh mông chẳng có người.
Đinh Vũ Ngọc
1.2 Lược dẫn sự Giải Mã        
Sự phân tách và tổng hợp phần kỹ thuật sử dụng trên các bài Đường Thi lưu truyền, cho thấy cách chơi của các thi nhân tiền bối đời Đường rất là phóng khoáng như dưới đây.
* Dùng hai bài Tứ Cú (TC) một trên một dưới ráp lại để làm một bài TNBC Đường Thi.
* Nét riêng của bài TNBC Đường Thi đòi hỏi nơi 2 bài Tứ Cú :
a/ phải dùng cùng một vần
b/ hai câu 3-4 của bài TC trên và hai câu 1-2 của bài TC dưới phải là 1 cặp đối nhau. (gọi riêng số câu của từng bài TC để dễ nhận ra phép Niêm)
c/ Ngoài 2 quy định trên, hai bài TC hoàn toàn tự do dùng riêng những đặc điểm khác của thơ TC như : Niêm, Luật, dùng 2 vần hay 3 vần, dùng vần Trắc hay vần Bằng.
1.3 Những bài thơ minh chứng sự Giải Mã
Ngoài ý nghĩa là phần cốt lõi, phần quan trọng kế tiếp của bài thơ là Niêm và Luật.
Với thành phần là 2 bài TC tự do theo Niêm riêng, Luật riêng thì bài TNBC Đường Thi sẽ lọt vào nhiều dạng Niêm Luật khác nhau. Dưới đây xin xem xét từng chi tiết :
a/ Về Niêm
          Hai bài Tứ Cú (TC), tạo ra bài Bát Cú, được tự do dùng 2 phép Niêm riêng của thơ TC (1-4 2-3 và 1-3 2-4), nên cho ra, trên nguyên tắc, 4 (2^2) kết hợp về Niêm cho bài TNBC Đường Thi là :       
1/ TC trên 1-4 2-3, TC dưới 1-4 2-3
2/ TC trên 1-4 2-3, TC dưới 1-3 2-4
3/ TC trên 1-3 2-4, TC dưới 1-4 2-3
4/ TC trên 1-3 2-4, TC dưới 1-3 2-4
Thơ TNBC ĐƯỜNG THI tiêu biểu cho 4 cách Niêm vừa nêu trên
(với cách ghi gọn : 1-4 2-3 là bài Tứ Cú với Niêm 1-4 2-3 và 1-3 2-4 là bài Tứ Cú với Niêm 1-3 2-4.)
Sau đây là 4 bài Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) tiêu biểu cho 4 cách Niêm khác nhau kể trên, lấy từ những bài TNBC ĐƯỜNG THI, hai bài Tứ Cú viết với 2 kiểu chữ khác nhau để phân biệt :
Cách Niêm 1/ : trên 1-4 2-3, dưới  1-4 2-3
XUÂN TỊCH LỮ HOÀI
Thủy lưu hoa tạ lưỡng tình                          (Niêm 1-4 2-3
Tống tận đông phong quá Sở thành
Hồ điệp mộng trung gia vạn
Đỗ quyên chi thượng nguyệt tam canh
Cố viên thư động kinh niên tuyệt                     (Niêm 1-4 2-3
Hoa phát xuân thôi lưỡng mấn sinh
Tự thị bất quy, qui tiện đắc
Ngũ hồ yên cảnh hữu thùy tranh.
Thôi Đồ
Dịch thơ : NỖI CẢM HOÀI ĐÊM XUÂN NƠI LỮ THỨ
Nước trôi hoa rụng thảy vô tình
Đưa gió đông bay quá Sở thành
Trong mộng bướm bay, nhà vạn dậm
Trên cành quyên gọi, nguyệt ba canh
Năm tàn một cánh thư trông mõi
Xuân giục hai màu tóc đổi nhanh
Tự ý không về, về hẵn được
Ngũ hồ phong cảnh có ai tranh ?
Đinh Vũ Ngọc
Cách Niêm 2/ : trên 1-4 2-3, dưới 1-3 2-4
HỌA GIẢ CHI XÁ NHÂN “TẢO TRIỀU ĐẠI MINH CUNG” CHI TÁC
Giáng tráchnhân báo hiểu trù                   (Niêm 1-4 2-3
Thượng y phương tiến thúy vân cừu
Cửu thiên xướng hạp khai cung điện
Vạn quốc y quan bái miện lưu
Nhật sắc tài lâm tiên chưởng động                  (Niêm 1-3 2-4
Hương yên dục bạng cổn long phù
Triệu bãi tu tài ngũ sắc chìếu
Bội thanh quy đáo Phụng Trì đầu.
Vương Duy
Dịch thơ : HỌA BÀI “CHẦU SỚM Ở CUNG ĐẠI MINH” CỦA XÁ NHÂN ĐẠI CHÍ
Vừa nghe báo sáng lệnh kê nhân
Quan thượng y dân áo thúy vân
Chín bệ mở toang cung ngọc điện
Trăm quan mừng lạy đấng anh quân
Tay tiên đón nắng cao cao vẫy
Áo ngự xông hương lớp lớp vần
Tan cuộc triều đình vâng chiếu chỉ
Phượng Trì trở lại ngọc vang ngân.
Lê Nguyễn Lưu
Cách Niêm 3/ : trên 1-3 2-4, dưới 1-4 2-3
THÀNH TÂY PHA PHIẾM CHU
Thanh nga hạo xỉ tại lâu thuyền             (Niêm 1-3 2-4
Hoành dịch đoản tiêu bi viễn thiên
Xuân phong tự tín nha tường động
Trì nhật từ khan cẩm lãm khiên
Ngư xuy tế lãng dao ca phiến                (Niêm 1-4 2-3
Yến xúc phi hoa lạc diên
Bất hữu tiểu chu năng đảng tưởng
Bách hồtống tửu như tuyền.
Đỗ Phủ
Dịch thơ : CHƠI THUYỀN PHÍA TÂY THÀNH
Mày xanh răng trắng tựa thuyền lầu
Sáo ngắn tiêu ngang đưa giọng sầu
Gió xuân dám động cột ngà trắng
Bóng xế nhìn qua dải gấm màu
Cá phun sóng gợn quạt ca dậy
Yến giẫm hoa bay múa tiệc chầu
Không có thuyền con chèo quẩy nước
Thì trăm vò rượu chảy về đâu ?!
Nguyễn Hữu Huyên
Cách Niêm 4/ : trên 1-3 2-4, dưới 1-3 2-4
CHƯỚC TỬU DỮ BÙI ĐỊCH
Chước tửu dữ quân quân tự khoan                            (Niêm 1-3 2-4
Nhân tình phiên phúc tự ba lan
Bạch thủ tương tri do án kiếm
Chu môn tiên đạt tiếu đàn quan
Thảo sắc toàn kinh tế thấp                                    (Niêm 1-3 2-4
Hoa chi dục động xuân phong hàn
Thế sự phù vântúc vấn
Bất như cao ngọa thả gia xan.
Vương Duy
Thơ dịch : RÓT RƯỢU MỜI BÙI ĐỊCH
Mời anh cạn chén để nguôi sầu
Tráo trở tình đời khác sóng đâu
Tóc trắng quen thân còn thủ kiếm
Cửa son hiển đạt lại cười nhau
Mưa dầm cỏ dại càng phơi phới
Gió lạnh hoa xuân chịu dãi dầu
Chuyện thế mây trôi thôi chớ hỏi
Chi bằng ăn ngủ khỏi lo âu.
Đinh Vũ Ngọc
b/ Vê Luật
Hai bài Tứ Cú (TC), tạo ra bài Bát Cú, mỗi bài tự do rơi vào Luật Bằng hay Luật Trắc. Nên cho ra  trên nguyên tắc, 4 (2^2) kết hợp về Luật cho bài TNBC Đường Thi là :
a/ TC trên luật Bằng, TC dưới luật Bằng
b/ TC trên luật Bằng, TC dưới luật Trắc
c/ TC trên luật Trắc, TC dưới luật Bằng
d/ TC trên luật Trắc, TC dưới luật Trắc
Thơ TNBC ĐƯỜNG THI tiêu biểu cho 4 thể Luật
(với cách ghi gọn : Bằng là bài Tứ Cú dùng Luật Bằng, Trắc là bài Tứ Cú dùng Luật Trắc.)
          Sau đây là 4 bài TNBC tiêu biểu cho 4 thể Luật khác nhau kể trên, lấy từ những bài TNBC Đường Thi:
Thể Luật a/ : trên Bằng, dưới Bằng
ĐỒNG BÁCH QUÁN
Đông Nam nhất cảnh thanh tâm mục               (luật Bằng
Hữu thủ thiên phong sáp thúy vi
Nhân tại hạ phương xung nguyệt thướng
Hạc tòng cao xứ phá yên phi
Nham thâm thủy lạc hàn xâm cốt          (luật Bằng
Môn tĩnh hoa khai sắc chiếu y
Dục thức Bồng Lai kim tiện thị
Cánh ưxứ học vong ky.
Chu Phác
Dịch thơ : ĐỒNG BÁCH QUÁN
Một cảnh Đông nam ngắm tuyệt vời
Núi xanh nghìn ngọn dựng chơi vơi
Vầng trăng soi khách đi bên dưới
Cánh hạc tung mây vút giữa trời
Động thẳm, thấu xương hơi nước lạnh
Cổng im, thấm áo sắc hoa ngời
Bồng Lai muốn biết là đây vậy
Học đạo cần chi phải chọn nơi.
Đinh Vũ Ngọc
Thể Luật b/ : trên Bằng, dưới Trắc
PHỎNG LÃ DẬT NHÂN BẤT NGỘ
Đào nguyên diện diện tuyệt phong trần (Luật Bằng
Liễu thị nam đầu phỏng ẩn nhân
Đáo môn bất cảm đề phàm điểu
Khan trúctu vấn chủ nhân
Thành ngoại thanh sơn như ốc lý                      (Luật Trắc
Đông gia lưu thủy nhập tây lân
Bế hộ trừ thư đa tuế nguyệt
Chủng tùng giai tác lão long lân.
Vương Duy
Dịch thơ : THĂM NGƯỜI ẨN HỌ LÃ, KHÔNG GẶP
Đào Nguyên gió bụi cách xa đây
Nam Liễu thăm ai ẩn chốn nầy
“Phàm điểu” dám đề lên cổng trước
Chủ nhân chẳng hỏi ngắm tre gầy
Non xanh ngoài quách như trong mái
Nước đổ nhà đông đến xóm tây
Đóng cửa bao năm ngồi viết sách
Hàng thông đã mọc vảy rồng đầy.
Lê Nguyễn Lưu
Thể Luật c/ : trên Trắc, dưới Bằng
T CNG LC CHU HÀNH NHP HOÀNG HÀ TC S, KÝ PH HUYN LIÊU HU
Lục thủy thương thiên lộ hướng đông    (Luật Trắc
Đông Nam sơn khoát đại thông
Hàn thụ y vi viễn thiên ngoại                (bỏ Luật chữ thứ 6
Tịch dương minh diệt loạn lưu trung
thôn kỷ tuế lâm y ngạn                    (Luật Bằng
Nhất nhạntìnhsóc phong
Vi báo Lạc Kiều du hoạn lữ
Thiên chu bất hệ dữ tâm đồng.
Vi Ứng Vật
Dịch thơ : K VIC T CNG LC ĐI THUYN VÀO SÔNG HOÀNG HÀ, GI CÁC BN CÙNG LÀM QUAN PH VÀ HUYN
Nước biếc trời xanh lối tới đông
Đông nam núi rộng một dòng thông
Cây lạnh mịt mù trời thẩm thẩm
Nắng chiều thấp thoáng nước bềnh bồng
Bờ kia mấy độ thôn nằm quạnh
Gió bấc trời trong nhạn liệng không
Nhắn giúp Lạc Kiều bè bạn cũ :
Lòng với thuyền con chẳng buộc đồng.
Lê Nguyễn Lưu
Thể Luật d/ : trên Trắc, dưới Trắc
KHÚC GIANG ĐỐI TỬU
Uyển ngoại giang đầu tọa bất quy                 (Luật Trắc
Thủy tinh cung điện chuyển phi vi
Đào hoa tế trục dương hoa lạc
Hoàng điểu thời kiêm bạch điểu phi
Túng ẩm cửu biền nhân cộng khí                   (Luật Trắc
Lãn triều chân dữ thế tương vi
Lại tình cánh giác Thương Châu viễn
Lão đại đồ thương vị phất y.
Đỗ Phủ
Dịch thơ : UỐNG RƯỢU TRÊN SÔNG KHÚC GIANG
Ngồi mãi bên vườn bến Khúc Giang
Thủy tinh cung điện bóng mờ gương
Hoa tơi tả rụng đào chen liễu
Chim nhởn nhơ bay trắng lẩn vàng
Chén rượu thường say, người đã chán
Phiên chầu vẫn trễ, tiếng còn mang
Biết rằng hoạn lộ xa tiên cảnh
Tuổi tác chưa về, nghĩ tự thương.
Bùi Khánh Đản
1.4 Pha trộn hai phần Niêm Luật
          Bài thơ theo cách Niêm nào thì cũng tự nhiên rơi vào một thể Luật, tùy cảm hứng của thi nhân và tùy ngôn từ dùng diễn đạt.
          Do đó nên phần Niêm và phần Luật của bài TNBC ĐƯỜNG THI luôn xảy ra một cách vô chừng, hoàn toàn không do sự cố ý lựa chọn của tác giả.
          Chỉ khi pha trộn đầy đủ (2^2 x 2^2 = 16) như cách trình bày dưới đây thì mới thấy hết tất cả 16 dạng Niêm Luật khả hữu cho thơ TNBC ĐƯỜNG THI.
          Trước ghép phép Niêm 1/ với 4 thể Luật a, b, c, d để có :
1/a     TC trên 1-4 2-3 luật Bằng, TC dưới 1-4 2-3 luật Bằng
1/b     TC trên 1-4 2-3 luật Bằng, TC dưới 1-4 2-3 luật Trắc
1/c     TC trên 1-4 2-3 luật Trắc, TC dưới 1-4 2-3 luật Bằng
1/d     TC trên 1-4 2-3 luật Trắc, TC dưới 1-4 2-3 luật Trắc
Và cũng như thế với 2/, 3/ và 4/ thì có :
2/a, 2/b, 2/c, 2/d
3/a, 3/b, 3/c, 3/d
4/a, 4/b, 4/c, 4/d
Nên có tất cả 16 dạng (hoặc 16 bộ) Niêm Luật khả dụng cho thơ Thất Ngôn Bát Cú ĐƯỜNG THI.
Như trên đã nói phớt qua, làm thơ không phải là làm toán, mà là bày tỏ tình ý của mình. Hứng thơ cho những tứ thơ, tứ thơ dùng ngôn từ tương ứng để diễn đạt, thi nhân dùng tai thẩm âm để sắp xếp những ngôn từ đó thành câu thuận tai (Luật thích nghi) và cũng dùng tai thẩm âm đan xen các câu nối tiếp nhau sao cho có âm điệu hài hòa (Niêm thích nghi). Và bài TNBC ĐƯỜNG THI sẽ tự nhiên lọt vào dạng Niêm Luật này hay khác của 16 dạng Niêm Luật khả hữu nêu trên.
Thế nên có những dạng Niêm Luật có nhiều tác phẩm, có những dạng có ít tác phẩm hơn. Trong 3 quyển sách tham khảo : ĐƯỜNG THI TRÍCH DỊCH của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản, ĐƯỜNG THI CẢM DỊCH của Đinh Vũ Ngọc và ĐƯỜNG THI TUYỂN DỊCH của Lê Nguyễn Lưu, số bài TNBC ĐƯỜNG THI được tuyển chọn không có đủ mặt trong 16 dạng Niêm Luật. Nơi những dạng không có ĐƯỜNG THI làm mẫu thì dùng tạm những bài TNBC Đường Luật của người chơi hiện đại để cho thấy đầy đủ 16 dạng Niêm Luật có trên nguyên tắc.
Ở 2 dạng thơ phổ thông có nhiều bài nhất và tương ứng với Niêm Luật qui định bởi dải số 1-8 2-3 4-5 6-7 thì chỉ nêu 1 bài ĐƯỜNG THI làm mẫu để thấy dạng thơ ấy ra sao. Còn với 14 dạng còn lại thuộc loại (nằm ngoài dải số) cần nêu ra để chứng minh qui tắc cấu tạo đề xuất trong sự giải mã thì tìm gặp được bao nhiêu bài đều nêu cả.
Xin nhắc lại cách ghi gọn : 1-4 2-3 hay 1-3 2-4 là Niêm, Bằng hay Trắc là Luật, bài Tứ Cú ghi trước là ở trên, ghi sau là ở dưới.                                                           
1.4.1 Bảng kê 16 dạng Niêm Luật với những bài TNBC ĐƯỜNG THI tiêu biểu :
dạng Niêm Luật 1/16 : 1-4 2-3 Bằng + 1-4 2-3 Bằng
Đây là dạng thứ nhất trong 2 dạng Niêm Luật có nhiều bài ĐƯỜNG THI nhất và tương ứng với cách chơi theo dải số 1-8 2-3 4-5 6-7 nên chỉ nêu 1 bài.
BẦN NỮ
Bồng môn vị thứcla hương                (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Nghĩ thác lương môi diệc tự thương
Thùy ái phong lưu cao cách điệu
Cộng liên thời thế kiệm trang
Cảm tương thập chỉ khoa châm xảo      (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Bất bả song mi đấu họa trường
Mỗi hận niên niên áp kim tuyến             (bỏ luật chữ thứ 6)
Vị tha nhân tác giá y thường.
Tần Thao Ngọc
Dịch thơ : NGƯỜI CON GÁI NGHÈO
Chốn cửa bồng đâu biết lụa là
Cậy người mai mối nghĩ thương ta
Thanh cao yểu điệu ai ưa chuộng ?
Trang điểm tầm thường dạ xót xa !
Mười ngón dẫu khoe tài tuyệt xảo
Đôi mày khó vẽ nét kiêu sa
Vẫn buồn áo cưới may cho khách
Kim chỉ miệt mài năm tháng qua.
Đinh Vũ Ngọc
dạng Niêm Luật 2/16 : 1-4 2-3 Bằng + 1-4 2-3 Trắc
Dạng Niêm Luật này không có trong 3 quyển ĐƯỜNG THI tham khảo
nên xin dùng tạm một bài TNBC Đường Luật để thấy dạng thơ ra sao
HÀ TIỆN
Giàu thì ba bữa khó thì hai                             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy
Nón đổingoài quần đổi ống
Dép thay da mặt túi thay quai
Dặn vợ đừng gắp mắm                 (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai
Thế gian mặc kẻ cười tiện
Ta chẳng phiền ai chẳng lụy ai.
Nguyễn-Minh-Triết (thơ xưa nên chắc không phải là ông Triết hiện nay)
dạng Niêm Luật 3/16 : 1-4 2-3 Trắc + 1-4 2-3 Bằng
          Dạng Niêm Luật này có 6 bài ĐƯỜNG THI :

1/6 DẠ BIỆT VI TƯ SĨ

Cao quán trương đăng tửu phục thanh               (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc

Dạ chung tàn nguyệt nhạn quy thanh

Chỉ ngôn đề điểu kham cầu lữ
xuân phong dục tống hành
Hoàng khúc sa vi ngạn                       (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Bạch mã tần biên liễu hướng thành

Mạc oán tha phương tạm ly biệt                          (bỏ luật chữ thứ 6)
Tri quân đáo xứ tẫn phùng nghinh.

Cao Thích

Dịch thơ : ĐÊM TỪ BIỆT QUAN TƯ SĨ HỌ VI

Cao quán giăng đèn bày tiệc rượu
Trăng khuya chuông vọng nhạn về mau
Tiếng chim đêm gọi như tìm bạn
Ngọn gió xuân vờn để tiễn nhau
Lấn cát Hoàng Hà dòng uốn khúc
Hướng thành Bạch mã liễu tươi màu
Chớ buồn đất khách cùng chia biệt
Anh đến nơi đâu chẳng đón chào !
Đinh Vũ Ngọc
2/6 TÂY DỊCH TỈNH TỨC SỰ
Tây Dịch trùng vân khai thự huy            (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Bắc Sơn điểm triều y
Thiên môn liễu sắc liên Thanh tỏa
Tam điện hoa hương nhập Tử vi
Bình minh đoan hốt bồi uyên liệt           (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Bạc mộ thùy tiên tín quy
Quan chuyết tự bi đầu bạch tận
Bất như nham hạ yểm kinh phi.
Sầm Tham
Dịch thơ : VIỆC Ở TỈNH TÂY DỊCH
Tây Dịch mây tan ngời nắng sớm
Bắc Sơn mưa nhẹ rắc triều y
Nghìn nhà sắc liễu liền Thanh Tỏa
Ba điện mùi hoa tới Tử Vi
Sáng mai cầm hốt hàng uyên xếp
Chiều tối buông roi mặc ngựa đi
Quan vụng thương mình đầu bạc hết
Cổng tre về núi ở qua thì.
Lê Nguyễn Lưu

3/6 TÚC ĐÀO LỆNH ẨN CƯ
Văn thuyết hoa nguyên khả tị Tần        (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Tầm u sổ nhật bất phùng nhân
Yên động khuyển
Phong lâm gian hữu quỷ thần
Hoàng công thạch thượng tam chi tú     (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Đào lệnh môn tiền ngũ liễu xuân         
Túy ngọa bạch vân nhàn nhập mộng
Bất trivật thị ngô thân.
Tô Quảng Văn
Dịch thơ : TRỌ TẠI NHÀ ẨN CỦA QUAN LỆNH ĐÀO TIỀM

Nghe nói nguồn hoa lánh nạn Tần
Bao ngày chẳng gặp dấu nhàn nhân
Khói mây động vắng không gà chó
Mưa gió rừng thiêng có quỷ thần
Trên hòn Hoàng Thạch ba cành thắm
Trước ngõ Đào Tiềm năm liễu xuân
Mây trắng say nằm êm giấc mộng
Đâu còn biết vật vốn là thân!
Lê Nguyễn Lưu

4/6 VĂN LÂN GIA LÝ TRANH
Bắc đẩu hoành thiên dạ dục lan             (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Sầu nhânnguyệt tứ đoan
Hốt văn họa các Tần tranh dật
Tri thị lân gia Triệu nữ đàn
Khúc thànhức song nga liễm            (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Điệu cấp giao liên ngọc chỉ hàn
Ngân thược trùng quan thính vị tịch
Bất như miên khứ mộng trung khan.

Từ An Trinh

Dịch thơ : NGHE ĐÀN TRANH NHÀ HÀNG XÓM

Bắc đẩu ngang trời đêm sắp tan
Buồn trong trăng sáng ý mơ màng
Chợt nghe gác họa âm Tần vọng
Mới biết nhà bên gái Triệu đàn
Khúc trọn hẳn chau đôi mắt ngọc
Điệu mau e buốt ngón tay vàng
Lắng nghe then khóa còn chưa mở
Ngủ quách may ra mộng gặp nàng.
Đinh Vũ Ngọc

5/6 BÁN NHẬT THÔN

Bán Nhật ngô thôn đới vãn hà              (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Nhàn môn cao liễu loạn phi nha
Hoành vân lĩnh ngoại thiên trùng thụ
Lưu thủy thanh trung nhất lưỡng gia
Sầu nhân tạc dạ tương khổ               (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Nhuận nguyệt kim niên xuân ý xa
Tự thán Mai Sinh đầu tự tuyết
Khước liên Phan Lệnh huyện như hoa.
Tiền Khởi

Dịch thơ : THÔN BÁN NHẬT

Ráng tỏa trời chiều Bán Nhật thôn
Chim bay liễu rủ trước nhàn môn
Ngàn trùng cây núi làn mây phủ
Vài nóc nhà bên suối nước tuôn
Ðêm trước người buồn vương nhớ mãi
Năm nay tháng nhuận ý xuân dồn
Ðã thương Phan Lệnh hoa đầy huyện
Ðầu bạc Mai Sinh lại xót hơn.
Bùi Khánh Ðản

6/6 KINH NAM ÐẠO HOÀI CỔ

Nam quốc sơn xuyên cựu đế kỳ             (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Tống đài Lương tạ thượng y hi
cổ thụ hành nhân yết
Mạch hoang thànhtrĩ phi
Phong xuy lạc diệp điền cung tỉnh (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Hoả nhập hoang lăng hóa bảo y
Ðồ sử Từ thần Dữu Khai phủ                (bỏ luật chữ thứ 6)
Hàm Dương chung nhật khổ quy.
Lưu Vũ Tích
Dịch thơ : ÐẠO KINH NAM HOÀI CỔ
Ðô cũ miền Nam ở chốn này
Ðình Lương đài Tống dấu còn đây
Cây cao ngựa hí hành nhân vắng
Lúa tốt thành hoang dã trĩ bay
Lăng cũ áo bào mồi lửa đốt
Cung xưa giếng ngự lá thu đầy
Lòng quê cám cảnh Từ thần Dữu
Ở đất Hàm Dương nhớ suốt ngày.
Bùi Khánh Ðản
dạng Niêm Luật 4/16 : 1-4 2-3 Trắc + 1-4 2-3 Trắc
Đây là dạng thứ hai trong 2 dạng Niêm Luật có nhiều bài ĐƯỜNG THI nhất và tương ứng với cách chơi theo dải số 1-8 2-3 4-5 6-7, nên chỉ nêu 1 bài.

LOẠN TRUNG ỨC CHƯ HUYNH ĐỆ

Thời nạn niên hoang thế nghiệp không   (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Đệ huynhlữ các tây đông
Điền viên liêu lạc can qua hậu
Cốt nhục lưu ly đạo lộ trung
Điếu ảnh phân phi thiên nhạn                       (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Từ căn tán tác cửu thu bồng
Cộng khan minh nguyệt ưng thùy lệ
Nhất dạ hương tâm ngũ xứ đồng.
Bạch Cư Dị

Dịch thơ : THỜI LOẠN NHỚ ANH EM

Mùa mất, nhà tan, cảnh chiến trường
Anh em tản mác ở mười phương
Ruộng vườn hoang phế sau thời loạn
Cốt nhục phân ly khắp nẻo đường
Bóng nhạn dặm nghìn chia lối thẳm
Cỏ bồng tháng chín dứt tơ vương
Cùng trông trăng sáng, đều sa lệ
Chốn chốn canh dài nhớ cố hương.
Bùi Khánh Đản

dạng Niêm Luật 5/16 : 1-4 2-3 Bằng + 1-3 2-4 Bằng
dạng Niêm Luật này có một bài ĐƯỜNG THI. Bài này có cách dùng vần rất đặc biệt, sẽ nhắc lại để nói rõ thêm ở phần sau :
ÐẰNG VƯƠNG CÁC
Ðằng Vương cao các lâm giang chử   (Niêm 1-4 2-3, Lut Bng
Bội ngọc minh loan bãi ca
Họa đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây sơn
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du                       (Niêm 1-3 2-4, Lut Bng
Vật hoán tinh di kỷ độ thu
Các trung đế tử kim tại ?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.
Vương Bột

Dịch thơ : ÐẰNG VƯƠNG CÁC
Gác Đằng cao ngất bên sông sâu
Múa hát đàn ca vắng bấy lâu
Nam phố mây mai in cột chạm
Tây sơn mưa xế cuốn rèm châu
Mây trôi đầm lặng soi bao thuở
Vật đổi sao dời trải mấy thâu
Trong gác con vua đâu vắng bóng ?
Hiên ngoài sông nước vẫn trôi mau.
Đinh Vũ Ngọc
dạng Niêm Luật 6/16 : 1-4 2-3 Bằng + 1-3 2-4 Trắc
dạng Niêm Luật này không có trong 3 quyển ĐƯỜNG THI tham khảo
nên xin dùng tạm một bài TNBC Đường Luật để thấy dạng thơ.
BÀI THƠ AI TẶNG...

Bài thơ ai tặng chẳng riêng chung           (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Đậm nét từ ngoài đến nội dung
Ý đẹp với tiêu đề mở cuộc
Lời hay trong kết luận sau cùng                                                           
Đối chỉnh cung đàn reo thánh thót                  (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Vần trơn tâm sự trải mông lung
Cả một trời xuân theo nét bút
Gieo muôn hương ngát của nghìn trùng.
LCR

dạng Niêm Luật 7/16 : 1-4 2-3 Trắc_+ 1-3 2-4 Bằng
Dạng Niêm Luật này có 1 bài ĐƯỜNG THI :

ĐĂNG TÙNG GIANG DỊCH LÂU BẮC VỌNG CỐ VIÊN

Lệ tận giang lâu vọng Bắc quy               (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Điền viênhãm bách trùng vi
Bình vu vạn nhân khứ
Lạc nhật thiên sơn không điểu phi
chu dạng dạng hàn triều tiểu            (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Cực phố thương thương viễn thụ vi
Bạch âu ngư phủ đồ tương đãi
Vị tảo Sam Thương lãn tức ky.

Lưu Trường Khanh


Dịch thơ : LÊN LẦU TRẠM TÙNG GIANG - TRÔNG VỀ QUÊ PHƯƠNG BẮC

Lầu sông lệ cạn trông về Bắc
Vườn ruộng trăm vòng chịu bủa vây
Vạn dặm đồng không người chẳng đến
Nghìn non chiều xuống chim còn bay
Thuyền đơn thấp thoáng triều se lạnh
Bến cũ xanh xanh cây mọc dày
Âu trắng ngư ông xin hãy đợi
Chưa qua hoạn nạn khó về ngay.
Đinh Vũ Ngọc


dạng Niêm Luật 8/16 : 1-4 2-3 Trắc + 1-3 2-4 Trắc
            Dạng Niêm Luật này có 4 bài ĐƯỜNG THI :

1/4 TẢO TRIỀU ĐẠI MINH CUNG

Ngân chúc triều thiên tử mạch trường              (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Cẩm thành xuân sắc hiểu thương thương
Thiên điều nhược liễu thùy Thanh Tỏa
Bách chuyển lưu oanh nhiễu Kiến Chương
Kiếm bội thanh tùy ngọc trì bộ                        (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc, bỏ Luật chữ thứ 6
Y quan thân nhả ngự hương
Cộng mộc ân ba Phụng Trì thượng          (bỏ Luật chữ thứ 6
Triều triều nhiễm cán thị quân vương.
Giả Chí

Dịch thơ : CHẦU SỚM Ở CUNG ĐẠI MINH

Đuốc bạc chầu vua dặm tía dài
Màu xuân thành cấm thấm ban mai
Liễu Thanh Tỏa rũ tơ mềm mại
Oanh Kiến Chương kêu giọng bẻ bai
Bước nhẹ sân rồng khua kiếm bội
Hương thơm lò nhự ướp cân đai
Phụng Trì tắm gội ơn mưa móc
Văn bút hầu luôn cạnh ngọc giai.
Lê Nguyễn Lưu

2/4 HỌA GIẢ CHI XÁ NHÂN “TẢO TRIỀU ĐẠI MINH CUNG” CHI TÁC
(nêu rồi ở 2/4 Niêm, nêu lại để thấy luôn phần Luật)

Giáng tráchnhân báo hiểu trù                   (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Thượng y phương tiến thúy vân cừu
Cửu thiên xướng hạp khai cung điện
Vạn quốc y quan bái miện lưu
Nhật sắc tài lâm tiên chưởng động                  (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Hương yên dục bạng cổn long phù
Triệu bãi tu tài ngũ sắc chìếu
Bội thanh quy đáo Phụng Trì đầu.
Vương Duy

Dịch thơ : HỌA BÀI “CHẦU SỚM Ở CUNG ĐẠI MINH” CỦA XÁ NHÂN ĐẠI CHÍ

Vừa nghe báo sáng lệnh kê nhân
Quan thượng y dân áo thúy vân
Chín bệ mở toang cung ngọc điện
Trăm quan mừng lạy đấng anh quân
Tay tiên đón nắng cao cao vẫy
Áo ngự xông hương lớp lớp vần
Tan cuộc triều đình vâng chiếu chỉ
Phượng Trì trở lại ngọc vang ngân.
Lê Nguyễn Lưu


3/4 QUÁ THỪA NHƯ THIỀN SƯ, TÚC CƯ SĨ TUNG KHÂU LAN NHÃ

Trước Phiên Thân đệ dữ huynh                   (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Tung Khâu lan nhã nhất phong tình ...
Thực tùy minh khánh sào ô hạ
Hành đạp không lâm lạc diệp thanh
Bích thủy định xâm hương án thấp                   (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
hoa ưng cộng thạch sàng bình
Thâm động trường tùngsở hữu?
Nghiễm nhiên Thiên Trúc cổ tiên sinh.
Vương Duy

Dịch thơ : QUA NHÀ TU CỦA THIỀN SƯ THỪA NHƯ VÀ CƯ SĨ TÚC Ở NÚI TUNG

Vô Trước Thiên Thân cũng một nhà
Tung Khâu núi tạnh mái lan xa
Ăn theo khánh gõ vầy chim quạ
Đi dẫm rừng hoang động lá sa
Gần suối, án hương nhuần thấm nước
Như mưa, giường đá trải bằng hoa
Động sâu thông lớn còn chi nữa?
Thiên Trúc thầy xưa ở đó mà!
Lê Nguyễn Lưu

4/4 KHỨ GIA CHÂU, QUÁ THÀNH CỐ HUYỆN, TẦM VĨNH AN SIÊU THIỀN SƯ PHÒNG

Mãn thụ tỳ đông trước hoa               (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Lão tăng tương kiến cụ sa
Hán Vương thành bắc tuyết tễ
Hàn Tín đàn tây nhật dục
Môn ngoại bất tu thôi ngũ mã               (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Lâm trung thả thính diễn tam xa
Khởi liệu Ba Xuyên đa thắng sự
Vị quân thư thử báo kinh hoa.
Sầm Tham

Dịch thơ : ĐI GIA CHÂU, QUA HUYỆN THÀNH CỐ, TÌM CHỖ Ở CỦA SIÊU THIỀN SƯ TẠI VĨNH AN

Cây rợp tỳ bà đông nở hoa
Sư già gặp gỡ đủ cà sa
Hán Vương thành bắc tan cơn tuyết
Hàn Tín đàn tây giục bóng tà
Năm ngựa cửa ngoài khoan ruổi vội
Ba xe rừng thẳm hãy nghe qua
Đâu tưởng Ba Xuyên nhiều chuyện lạ
Thư này vì bác báo kinh hoa.
Lê Nguyễn Lưu

dạng Niêm Luật 9/16 : 1-3 2-4 Bằng + 1-4 2-3 Bằng
Dạng Niêm Luật này có 3 bài ĐƯỜNG THI :
1/3 KÝ THÔI THỊ NGỰ

Uyển khê sương dạ thính viên sầu                  (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Khứ quốc trường như bất hệ châu
Độc liên nhất nhạn phi Nam độ
Khước tiện song khê giải Bắc lưu
Cao nhângiải Trần Phồn tháp                    (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Quá khách nan đăng Tạ Diễu lâu
Thử xứ biệt ly đồng lạc diệp
Triêu triêu phân tán Kính Đình thu.

Lý Bạch


Dịch thơ : GỬI QUAN THỊ NGỰ HỌ THÔI
Vượn khóc đêm sương xứ uyển khê
Như thuyền không buộc mãi xa quê
Nhạn đành lẻ một phương Nam đến
Suối chẳng chung đôi đất Bắc về
Hạ chỏng Trần Phồn còn lắm kẻ

Leo lầu Tạ Diễu khó trăm bề

Nơi đây lá rụng cùng chia biệt
Núi Kính Đình thu vẫn cách ly.
Đinh Vũ Ngọc

2/3 ĐĂNG KIM LĂNG PHƯỢNG HOÀNG ĐÀI
Phượng Hoàng Ðài thượng phượng hoàng du    (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Phượng khứ đài không giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kính
Tấn đại y quan thành cổ khâu
Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại                           (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Nhị thủy trung phân bạch lộ châu
Tổng vị phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến sử nhân sầu.
Lý Bạch

Dịch thơ : LÊN ĐÀI PHƯỢNG HOÀNG Ở KIM LĂNG
Chim Phượng hoàng chơi lầu Phượng hoàng
Phượng bay lầu trống với trường giang
Cung Ngô hoa cỏ con đường rậm
Thời Tấn xiêm y nấm mộ tàn
Ngọn núi Tam Sơn trời xẻ nửa
Dòng sông Nhị Thủy bãi chia ngang
Ô hay mây nổi che trời sáng
Chẳng thấy Trường An sầu chứa chan.
Đinh Vũ Ngọc

3/3 THÀNH TÂY PHA PHIẾM CHU             (nêu rồi ở 3/4 Niêm, nêu lại để thấy luôn phần Luật)
Thanh nga hạo xỉ tại lâu thuyền             (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Hoành dịch đoản tiêu bi viễn thiên
Xuân phong tự tín nha tường động
Trì nhật từ khan cẩm lãm khiên
Ngư xuy tế lãng dao ca phiến                (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Yến xúc phi hoa lạc diên
Bất hữu tiểu chu năng đảng tưởng
Bách hồtống tửu như tuyền.
Đỗ Phủ

Dịch thơ : CHƠI THUYỀN PHÍA TÂY THÀNH
Mày xanh răng trắng tựa thuyền lầu
Sáo ngắn tiêu ngang đưa giọng sầu
Gió xuân dám động cột ngà trắng
Bóng xế nhìn qua dải gấm màu
Cá phun sóng gợn quạt ca dậy
Yến giẫm hoa bay múa tiệc chầu
Không có thuyền con chèo quẩy nước
Thì trăm vò rượu chảy về đâu ?!
Nguyễn Hữu Huyên

dạng Niêm Luật 10/16 : 1-3 2-4 Bằng + 1-4 2-3 Trắc
            Dạng Niêm Luật này có 1 bài ĐƯỜNG THI :

HÀNH DƯƠNG DỮ MỘNG ĐẮC PHÂN LỘ, TẶNG BIỆT
Thập niên tiều tụy đáo Tần kinh            (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Thùy liệu phiên vi Lĩnh ngoại hành
Phục Ba cổ đạo phong yên tại
Ông Trọng di khu thảo thụ bình
Trực dung chiêu vật nghị                (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Hưu tương văn tự chiếm thì danh
Kim triều bất dụng lâm biệt
Thùy lệ thiên hàng tiện trạc anh.
Liễu Tông Nguyên

Dịch thơ : CÙNG MỘNG ĐẮC CHIA ĐƯỜNG Ở HÀNH DƯƠNG, TẶNG THƠ KHI LY BIỆT

Tần kinh xơ xác chục năm trời
Lĩnh ngoại ai ngờ lại đến nơi !
Lối cũ Phục Ba mây gió thoảng
Gò xưa Ông Trọng cỏ cây tươi
Biếng lười chỉ tổ cho người mỉa
Chữ nghĩa làm chi để tiếng đời !
Chẳng đến bên sông ly biệt sớm
Một mình giặt dải lệ tuôn rơi...
Lê Nguyễn Lưu


dạng Niêm Luật 11/16 : 1-3 2-4 Trắc + 1-4 2-3 Bằng
            Dạng Niêm Luật này có 5 bài ĐƯỜNG THI :

1/5 HOÀI CỔ TÍCH - KỲ NHỊ

Dao lạc thâm tri Tống Ngọc bi                       (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Phong lưu nho nhả diệc ngô
Trướng vọng thiên thu nhất sái lệ
Tiêu điều dị đại bất đồng thì

Giang san cố trạch không văn tảo                  (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Vân hoang đài khởi mộng
Tối thị Sở cung câu dẫn diệt
Châu nhân chỉ điểm đáo kim nghi.

Đỗ Phủ


Dịch thơ : NHỚ CHUYỆN XƯA – BÀI HAI
Tống Ngọc sầu thương cảnh rụng rơi
Phong lưu nho nhả bậc thầy tôi
Nghìn thu tưởng nhớ còn rơi lệ
Một cảnh tiêu sơ dẫu khác thời
Sông núi nhà xưa văn vẻ đó
Mây mưa đài cũ mộng mơ thôi
Thương thay cung Sở tiêu tan hết
Nơi lái thuyền xưa chỉ vẫn ngờ.
Đinh Vũ Ngọc

2/5 TẶNG KHUYẾT HẠ BÙI XÁ NHÂN

Nhị nguyệt hoàng ly phi Thượng Lâm     (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Xuân thành tử cấm vãn âm âm
Trường lạc chung thanh hoa ngoại tận
Long Trì liễu sắctrung thâm
Dương hòa bất tán cùng đồ hận             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Tiêu hán thường huyền bổng nhật tâm
Hiến phú thập niên do vị ngộ
Tu tương bạch phát đối hoa trâm.
Tiền Khởi

Dịch thơ : TẶNG XÁ NHÂN HỌ BÙI TRONG CUNG

Vườn Thượng Lâm oanh bay tháng hai
Thành xuân cửa sấm sớm mờ phai
Hoa ngoài Trường Lạc chuông văng vẳng
Mưa giữa Long Trì liễu bẻ bai
Khí ấm không tan hờn khốn quẫn
Sông ngân còn đỡ nỗi quan hoài
Mười năm dâng phú thời chưa gặp
Tóc trắng trâm hoa luống thẹn cài!
Lê Nguyễn Lưu


3/5 T CNG LC CHU HÀNH NHP HOÀNG HÀ TC S, KÝ PH HUYN LIÊU HU
(nêu rồi ở 3/4 Luật, nêu lại để thấy luôn phần Niêm)

Lục thủy thương thiên lộ hướng đông    (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Đông Nam sơn khoát đại thông
Hàn thụ y vi viễn thiên ngoại                (bỏ Luật chữ thứ 6
Tịch dương minh diệt loạn lưu trung
thôn kỷ tuế lâm y ngạn                    (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Nhất nhạntìnhsóc phong
Vi báo Lạc Kiều du hoạn lữ
Thiên chu bất hệ dữ tâm đồng.
Vi Ứng Vật

Dịch thơ : K VIC T CNG LC ĐI THUYN VÀO SÔNG HOÀNG HÀ, GI CÁC BN CÙNG LÀM QUAN PH VÀ HUYN

Nước biếc trời xanh lối tới đông
Đông nam núi rộng một dòng thông
Cây lạnh mịt mù trời thẩm thẩm
Nắng chiều thấp thoáng nước bềnh bồng
Bờ kia mấy độ thôn nằm quạnh
Gió bấc trời trong nhạn liệng không
Nhắn giúp Lạc Kiều bè bạn cũ :
Lòng với thuyền con chẳng buộc đồng.
Lê Nguyễn Lưu

4/5 TỐNG TIỀN VỆ HUYỆN - LÝ THẨM THIẾU PHỦ

Hoàng điểu phiêu phiêu dương liễu thùy                   (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Xuân phong tống khách sử nhân bi
Oán biệt tự kinh thiên ngoại
Luân giao khước ức thập niên thì
Vân khai Mấn Thủyphàm viễn                              (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Lộ nhiễu Lương Sơn thất trì
Thử địa tòng lai khả thừa hứng                                 (bỏ luật chữ thứ 6)
Lưu quân bất trú ích thê kỳ.

Cao Thích


Dịch thơ : TIỄN ĐƯA QUAN THIẾU PHỦ - LÝ THẨM HUYỆN TIỀN VỆ

Vút giọng oanh vàng tơ liễu buông
Gió xuân tiễn khách dạ sầu thương
Chia ly ngàn dặm bao đau xót
Gắn bó mười năm mấy vấn vương
Mấn Thủy mây giăng buồm lẻ bóng
Lương Sơn ngựa chậm núi chen đường
Nơi đây ngày trước cùng vui thú
Chẳng giữ chân anh thật đáng buồn !
Đinh Vũ Ngọc


5/5 TÍCH VŨ VÕNG XUYÊN TRANG TÁC

Tích không lâm yên hỏa trì                (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Chưng xuy thử hướng đông chuy
Mạc mạc thủy điền phi bạch lộ
Âm âm hạ mộc chuyên hoàng ly
Sơn trung tập tĩnh quan triêu cẩn         (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Tùng hạ thanh trai chiết lộ quỳ
lão dữ nhân tranh tịch bải
Hải âusự cánh tương nghi?
Vương Duy

Dịch thơ : LÀM Ở NHÀ VÕNG XUYÊN TRONG CƠN MƯA DẦM

Mưa dầm leo lét lửa rừng hoang    
Quê kệch canh lê cháo nếp xoàng
Nước ruộng mênh mông đàn hạc trắng
Cây hè dìu dặt cái oanh vàng
Xem cẩn ngồi thiền trong núi quạnh
Bè quỳ ăn nhạt dưới thông quang
Giành ngồi chiếu rượu kìa bao bác!
Âu biển vì đâu cứ ngỡ ngàng?
Lê Nguyễn Lưu

dạng Niêm Luật 12/16 : 1-3 2-4 Trắc + 1-4 2-3 Trắc
          dạng Niêm Luật này không có trong 3 quyển ĐƯỜNG THI tham khảo
          nên xin mượn tạm một bài TNBC Đường Luật của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm
để thấy dạng thơ.

DĨ HÒA VI QUÝ

thế đừng tranh tiếng trượng phu       (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Làm chi cho sự đôi co
Đây cậy đây khôn đây chẳng nhịn
Ðấy rằng đấy phải đấy không thua
Duật nọ hãy còn đua đến bạng              (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Lươn kia hầu dễ kém chi
Chữ rằng : Nhân hòa vi quý
sự thì hơn khỏi phải lo.

Nguyễn-Bỉnh-Khiêm


dạng Niêm Luật 13/16 : 1-3 2-4 Bằng + 1-3 2-4 Bằng
            Dạng Niêm Luật này có 1 bài ĐƯỜNG THI :
                                                                                                            
S QUÂN TCH D TNG NGHIÊM HÀ NAM PHÓ TRƯỜNG THY, ĐC “THÌ” T

Kiều ca cấp quản tạp thanh ti                (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Ngân chúc kim bôi ánh thúy mi
Sứ quân địa chủ năng tương tống
doãn thiên minh mạc tọa từ
Xuân thành nguyệt xuất nhân giai túy    (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
thú hoa thâmkhứ trì
thanh báo nhĩ sơn ông đạo:
Kim nhậtNam thắng tích thì.
Sầm Tham

Dịch thơ : S QUÂN ĐT TIC ĐÊM TIN QUAN DOÃN HÀ NAM H NGHIÊM ĐI TRƯỜNG THY (lấy vần “thì”)
Hát vang sáo rộn nhịp đường tơ
Đuốc bạc ly vàng rạng ánh mơ
Chủ hạt sứ quân mời tiễn biệt
Thâu đêm Hà doãn chẳng đành ngơ
Thành xuân trăng mọc người say khướt
Đồn lính hoa đầy ngựa thẩn thơ
Xin với sơn ông lời nhắn gởi:
Hà Nam xưa kém hẳn bây giờ.
Lê Nguyễn Lưu

dạng Niêm Luật 14/16 : 1-3 2-4 Bằng + 1-3 2-4 Trắc
          Dạng Niêm Luật này có 2 bài ĐƯỜNG THI :
1/2 PHỎNG LÃ DẬT NHÂN BẤT NGỘ (nêu rồi ở 2/4 Luật, nêu lại để thấy luôn phần Niêm)
Đào nguyên diện diện tuyệt phong trần (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Liễu thị nam đầu phỏng ẩn nhân
Đáo môn bất cảm đề phàm điểu
Khan trúctu vấn chủ nhân
Thành ngoại thanh sơn như ốc lý                      (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Đông gia lưu thủy nhập tây lân
Bế hộ trừ thư đa tuế nguyệt
Chủng tùng giai tác lão long lân.
Vương Duy

Dịch thơ : THĂM NGƯỜI ẨN HỌ LÃ, KHÔNG GẶP
Đào Nguyên gió bụi cách xa đây
Nam Liễu thăm ai ẩn chốn nầy
“Phàm điểu” dám đề lên cổng trước
Chủ nhân chẳng hỏi ngắm tre gầy
Non xanh ngoài quách như trong mái
Nước đổ nhà đông đến xóm tây
Đóng cửa bao năm ngồi viết sách
Hàng thông đã mọc vảy rồng đầy.
Lê Nguyễn Lưu

2/2 LONG TRÌ  
Long trì dược long, long phi,              (N. 1-3 2-4, L. Bằng, câu 1 bỏ Luật 2 chữ 4 và 6
Long đức tiên thiên, thiên bất vi.
Trì khai thiên hán phân hoàng đạo,
Long hướng thiên môn nhập tử vi.
Để đệ lâu đài đa khí sắc,                      (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Quân vương phù nhạn hữu quang huy.
Vị báo hoàn trung bách xuyên thủy,      (bỏ Luật chữ thứ 6
Lai triều thử địa mạc đông quy.
Thẩm Thuyên Kỳ
Dịch thơ : AO RỒNG
Ao Rồng rồng nhảy, rồng bay đi,
Trời với đức rồng chẳng trái nghi.
Ao khơi Thiên Hán chia Hoàng Đạo,
Rồng hướng Thiên Môn tới Tử Vi.
Dinh thự lầu đài tươi khí sắc,
Quân vương thần tử rỡ quang huy.
Hoàn vũ trăm sông xin nhắn bảo:
Chầu đây, còn phải chảy đông chi!
Lê Nguyễn Lưu

dạng Niêm Luật 15/16 : 1-3 2-4 Trắc + 1-3 2-4 Bằng
Dạng Niêm Luật này không có trong 3 quyển ĐƯỜNG THI tham khảo
nên xin dùng tạm một bài TNBC Đường Luật để thấy dạng thơ.
BÁC LÁ YÊU DẤU !
Bác  vui đùa bạn hữu đông                (Niêm 1-3 2-4, luật Trắc
Ông đi vắng lặng hỏi buồn không ?
Chỉ lối ngay đường thường đụng chạm
Lời ngay nẻo phải khó tương đồng
Tình ơi kính Lão đời thanh thản              (Niêm 1-3 2-4, luật Bằng
Bạn hởi thương người nước đục trong
Chờ Rơilại đừng xa nhé
Bé tịt hồn thơ muối xát lòng. 
Vancali
         
dạng Niêm Luật 16/16 : 1-3 2-4 Trắc + 1-3 2-4 Trắc
            Dạng Niêm Luật này có 2 bài ĐƯỜNG THI :

1/2 ĐỀ ĐÔNG KHÊ CÔNG U CƯ
Đỗ Lăng hiền nhân thanh thả liêm    (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc, bỏ Luật chữ ‘Lăng’
Đông Khê bốc trúc tuế thời yêm
Trạch cận thanh sơn đồng Tạ Diễu
Môn thùy bích liễu tự Đào Tiềm
Hảo điểu nghinh xuân ca hậu viện                   (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Phi hoa tống tửutiền thiềm
Khách đáo đãn tri lưu nhất túy
Bàn trung chi hữu thủy tinh diêm.

Lý Bạch


Dịch thơ : ĐỀ CHỖ Ở ẨN CỦA ĐÔNG KHÊ CÔNG
Đỗ Lăng đã nổi tiếng người hiền

Về ẩn Đông Khê trải mấy niên

Nhà cận núi xanh như Tạ Diễu
Cửa buông liễu biếc tựa Đào Tiềm
Đón xuân chim quý ca sau viện
Mời rượu hoa bay múa trước hiên
Khách đến nài nhau say một bữa
Trong mâm chỉ có muối tinh nghiền.
Đinh Vũ Ngọc

2/2 CHƯỚC TỬU DỮ BÙI ĐỊCH (nêu rồi ở 4/4 Niêm, nêu lại để thấy luôn phần Luật)
Chước tửu dữ quân quân tự khoan                            (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Nhân tình phiên phúc tự ba lan
Bạch thủ tương tri do án kiếm
Chu môn tiên đạt tiếu đàn quan
Thảo sắc toàn kinh tế thấp                                    (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Hoa chi dục động xuân phong hàn
Thế sự phù vântúc vấn
Bất như cao ngọa thả gia xan.
Vương Duy

Thơ dịch : RÓT RƯỢU MỜI BÙI ĐỊCH
Mời anh cạn chén để nguôi sầu
Tráo trở tình đời khác sóng đâu
Tóc trắng quen thân còn thủ kiếm
Cửa son hiển đạt lại cười nhau
Mưa dầm cỏ dại càng phơi phới
Gió lạnh hoa xuân chịu dãi dầu
Chuyện thế mây trôi thôi chớ hỏi
Chi bằng ăn ngủ khỏi lo âu.
Đinh Vũ Ngọc

            Bài mẫu của 16 dạng Niêm Luật cho thấy rõ ràng thi nhân đời Đường làm bài Thất Ngôn Bát Cú với 2 bài Tứ Cú tự do theo Niêm riêng, Luật riêng. Dạng Niêm Luật nào cũng cho được âm điệu hài hòa cho bài Thất Ngôn Bát Cú Đường Thi.
1.5 Các chi tiết khác của 2 bài Tứ Cú
            Tuy ít thấy nhưng trên nguyên tắc, ngoài việc áp dụng sự tự do Niêm và Luật, 2 bài Tứ Cú cũng được tự do dùng số vần (2 hay 3 chữ Vần) và dùng thanh vần (vần Trắc hay vần Bằng).
a/ Về số Vần
            Trong những bài TNBC ĐƯỜNG THI:
- bài Tứ Cú trên thường dùng 3 vần, nhưng thỉnh thoảng cũng có bài dùng 2 vần như bài ĐỒNG BÁCH QUÁN đã nêu làm mẫu cho Thể Luật a/.
- còn bài Tứ Cú dưới thì ngược lại, trong 3 quyển sách tham khảo, chỉ gặp duy nhất bài ĐẰNG VƯƠNG CÁC của Vương Bột là dùng 3 vần cho bài Tứ Cú dưới. Những bài ĐƯỜNG THI khác đều dùng 2 vần có lẽ để tiện viết cặp đối nơi hai câu 1-2 của bài Tứ Cú dưới.
b/ Về vần Trắc hay vần Bằng
            Thơ TNBC ĐƯỜNG THI có thể dùng vần Trắc hay vần Bằng. Nhưng trong ba quyển ĐƯỜNG THI Trích Dịch, Cảm Dịch và Tuyển Dịch nêu trên, những bài được chọn dùng toàn vần Bằng. Nên xin dùng tạm một bài TNBC Đường Luật dưới đây làm mẫu thơ vần Trắc.
            Bài này có dạng Niêm Luật giống bài ĐĂNG TÙNG GIANG DỊCH LÂU BẮC VỌNG CỐ VIÊN của Lưu Trường Khanh, nhưng dùng vần Trắc:
ĐÀN XƯA NHỊP MỚI

Đâu biết ai yêugọi hỡi                 (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc, vần Trắc
Tình xuân luôn nóng khi chờ đợi
Thư hồng một bức nhạn cưu mang
thắm đôi dòng oanh nhắn gởi
Những ngày xuân sắc cứ đi qua         (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Nửa trái tim vàng chưa kịp tới
Tìm đâu ra được khách tri âm
Đưa bản đàn xưa theo nhịp mới !
LCR
1.6 Một bài thơ “PHÁ CÁCH”
Trong 3 quyển ĐƯỜNG THI nêu tên ở phần trên, chỉ gặp duy nhất một bài thơ TNBC có thể gọi là thơ « phá cách » dưới đây :
VÕNG XUYÊN BIỆT NGHIỆP
trên 1-4 2-3 luật Trắc, dưới 1-2 3-4 luật Trắc

Bất đáo Đông sơn hướng nhất niên               (Niêm 1-4 2-3
Qui lai tài cập chủng xuân điền
trung thảo sắc lục kham nhiễm
Thủy thượng đào hoa hồng dục nhiên
*Ưu lậu tỳ khưu kinh luận học             (Niêm 1-2 3-4)
U trượng nhân hương hiền
Phi y đảo tỷ thả tương kiến
Tương hoan ngữ tiếu hành môn tiền.
Vương Duy
* bài Tứ Cú dưới : Niêm câu1 với câu2 và câu3 với câu4, không trúng vào 2 cách Niêm thông dụng của thơ Tứ Cú.

Dịch thơ : BIỆT THỰ Ở VÕNG XUYÊN

Đông Sơn chẳng đến trọn năm nay
Về gặp mùa xuân kịp cấy cày
Cỏ dại trong mưa xanh biếc biếc
Hoa đào trên nước đỏ hây hây
Tỳ hưu học đạo bàn kinh kệ
Bô lão làm gương giữ tháng ngày
Khoát áo trở giày tìm gặp bạn
Nói cười trước cổng thật vui thay !
Đinh Vũ Ngọc
1.7 Một bài thơ áp dụng sự phóng khoáng tột cùng
Tiêu biểu cho sự phóng khoáng tột cùng là bài Đằng Vương Các của Vương Bột, cho thấy 2 bài TC trên và TC dưới hoàn toàn tự do dùng mọi đặc điểm của thơ Tứ Cú :
Niêm : trên / dưới khác nhau, Luật : trên / dưới giống nhau.
s ch vn : dùng 3 ch vn cho c bài T Cú dưới (thông thường bài TC dưới ch dùng 2 ch vn)
vần Bằng / Trắc : TC trên dùng vần Trắc, TC dưới dùng vần Bằng
Và bài thơ được lưu truyền như là một kiệt tác. Đã nêu rồi nhưng xin nêu lại để thấy rõ những đặc điểm vừa kể trên.
ÐẰNG VƯƠNG CÁC
Ðằng Vương cao các lâm giang chử   Niêm 1-4 2-3, 3 vn “u” thanh Trc
Bội ngọc minh loan bãi ca
Họa đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây sơn
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du                       Niêm 1-3 2-4, 3 vn “u” thanh Bng
Vật hoán tinh di kỷ độ thu
Các trung đế tử kim tại ?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.
Vương Bột
Dịch thơ : ÐẰNG VƯƠNG CÁC
Gác Đằng cao ngất bên sông sâu
Múa hát đàn ca vắng bấy lâu
Nam phố mây mai in cột chạm
Tây sơn mưa xế cuốn rèm châu
Mây trôi đầm lặng soi bao thuở
Vật đổi sao dời trải mấy thâu
Trong gác con vua đâu vắng bóng ?
Hiên ngoài sông nước vẫn trôi mau.
Đinh Vũ Ngọc
PHẦN II. DẢI SỐ Kiểm Soát 1-8 2-3 4-5 6-7
Hầu hết các nhóm chơi thơ Đường Luật hiện nay đều dùng dải số trên đây (1-8 2-3 4-5 6-7) để Kiểm Soát những bài thơ làm ra. Bài thơ phải Niêm đúng với sự qui định của dải số thì mới được công nhận là thơ TNBC Đường Luật.
Phân tách cấu trúc của dải số Kiểm Soát 1-8 2-3 4-5 6-7 thì thấy những kết quả như sau :
2.1 Dải số không chấp nhận phép Niêm 1-3 2-4 của thơ Tứ Cú
Do các nhóm số KS 2-3 và 6-7, dải số bắt buộc bài Bát phải dùng 2 bài Tứ Cú cùng theo phép Niêm 1-4 2-3.
Vì thế nên những bài TNBC ĐƯỜNG THI với 1 hay 2 bài Tứ Cú dùng phép Niêm 1-3 2-4 thì bị loại ra.

2.2 Dải số không chấp nhận 2 bài Tứ Cú trên/dưới có Luật khác nhau
Do các nhóm số KS 1-8 và 4-5, dải số bắt buộc bài Bát Cú phải dùng 2 bài Tứ Cú cùng có Luật giống nhau.
Vì thế nên những bài TNBC ĐƯỜNG THI với 2 bài Tứ Cú có Luật khác nhau thì bị loại ra.
2.3 Di s vô tình chp nhn nhng bài thơ “d t” ca người mi hc
Ngược lại, cấu trúc của dải số với phép Niêm theo từng cặp 1-8 2-3 4-5 6-7, thì lại cho phép chấp nhận những bài thơ Bát Cú vụng về sai bét về Niêm, của những người mới tập chơi thơ Đường Luật.
Xin nêu 3 bài gặp được trên một diễn đàn :
TÌNH NGHĨA 2

Ăn rồi cũng phải ăn cơm
Dẫu gặp toàn những món ngon
Dưới biển, rừng sâu bao thức quí
Vườn thìvịt múp non
Ai ai cũng muốn xơi cho biết
Gọi thay đổi cái kèo rơm
Rồi về bếp lục tìm cơm nguội
Chiên lên thì nguội cũng thành dòn!  

GHÉ THĂM VÀ HỌC HỎI

Bài thơ ai viết với vần ‘tui’
Càng đọc càng nghe thấy thật vui
Quên mất thời gian không chút tiếc
Mãi xem mãi đọc miệng mãi cười
Thật tình khen bạn thơ hay quá
Càng xem càng thấy khoẻ thêm thôi
Xem thơ học hỏi vần thi mới..
Câu văn đúng luật, thẳng đường ngôi.

LẠI CÙNG BAY
Trăm năm một kiếp mộng này
đủ vui buồn lẩn ngọt cay
Những phút ái ân ai cũng nhớ
Những lần đau khổ xác thêm gầy
Kẻ mong thêu dệt câu trao gửi
Người chờđiểm chữ say
Cơn mưa khi tạnh trời thêm sáng
Như chim liền cánh lại cùng bay.
3 bài thơ vừa nêu có các câu đều đúng Luật : nhì-tứ-lục phân mình, và toàn bài lại Niêm đúng theo 1-8 2-3 4-5 6-7.
            Đây là những bài thơ vụng về của người mới học nên dĩ nhiên không kể sự thiếu sót nhiều về phần đối ngẩu. Nhưng về Niêm, tuy sai bét so với các bảng Luật của thơ TNBC Đường Luật, nhưng lại hoàn toàn ăn khớp với sự quy định của dải số.
2.4 Lý do thực sự khiến có những bài TNBC ĐƯỜNG THI nằm ngoài dải số
            Sự phân tách trên đây cho thấy rõ ràng rằng vì dải số không chấp nhận phép Niêm 1-3 2-4 và cũng không chấp nhận hai bài Tứ Cú có Luật khác nhau, nên có một số lớn bài TNBC ĐƯỜNG THI danh tiếng nằm ngoài dải số.
            Tại sao không chấp nhận phép Niêm 1-3 2-4 là 1 trong 2 phép Niêm chính thức của loại thơ Tuyệt Cú ?
            Tại sao không chấp nhận hai bài Tứ Cú khác Luật nhau ?
Sự pha trộn hai Luật Trắc và Bằng cũng như hai phép Niêm 1-3 2-4 và 1-4 2-3 trên 2 bài Tứ Cú hoàn toàn không hề gây trở ngại nào cho phần âm thanh của bài Bát Cú Đường Thi, mà thường là ngược lại, giúp cho bài thơ sống động hơn. Bài mẫu của các dạng Niêm Luật đã cho thấy rõ ràng như thế.
2.5 Hai cách giải thích hoàn toàn thiếu căn bản hợp lý
            Vì cho rằng thơ Niêm đúng theo dải số mới là thơ TNBC Đường Luật chính thống, nên người chơi theo dải số phải tìm cách giải thích lý do tại sao có những bài ĐƯỜNG THI danh tiếng nằm ngoài dải số.
Có hai cách giải thích được dùng : hoặc gọi đó là thơ “phá cách” hoặc cho đó là thơ Cổ Phong.
Tuy nhiên hai giải thích này đều rất là gượng ép, không có căn bản thuyết phục như trình bày dưới đây:
2.5.1 Giải thích với câu “Đại gia văn chương bất câu Niêm Luật”
Để giải thích sự nằm ngoài dải số KS của những bài ĐƯỜNG THI danh tiếng lưu truyền, có người dùng câu “đại gia văn chương bất câu Niêm Luật” để cho rằng các nhà thơ lớn, sau khi đã nổi danh, bèn phá cách chơi.
Nhưng khó chấp nhận lập luận này vì số tác phẩm bị coi là thất Niêm “phá cách” đó quá nhiều. Chỉ riêng trong 3 quyển Đường Thi tham khảo nêu trên đã có đến 26 bài nằm trong 14 dạng Niêm Luật nằm ngoài dải số. Nhà thơ Quách-Tấn, dù rất trung thành với dải số, cũng nói lên sự không đồng ý như sau :
’’ Có người trông thấy những bài thơ Thất Niêm Thất Luật phần nhiều là của các danh gia, cho nên bảo « Ðại gia văn chương bất câu Niêm Luật ». Sự thật, niêm luật đối với người đã thạo nghề chẳng khác những đường mòn trong xóm đối với người địa phương, muốn đi cho đúng có khó khăn gì. Thiết tưởng sự Thất Niêm Thất Luật kia là cố tình chớ không phải sơ ý. Tất có lý do. Nhưng dù chi chi đi nữa, chúng ta - kẻ hậu học - vẫn không nên bắt chước.’’ (trích Thi Pháp Thơ Ðường ca Quách-Tn, trang 168)
Tuy chưa thấy cái lý do, nhưng Quách-Tấn vẫn quả quyết là « việc dùng Niêm/Luật theo những cách ấy tất có lý do ».
Và cái lý do đó, sự giải mã đã cho thấy như trên : « Hai bài Tứ Cú của bài Bát Cú được tự do dùng Niêm và Luật khác nhau. »
2.5.2 Gii thích rng nhng bài thơ nm ngoài di s KS đó là thơ C Phong
Vì thấy khó chấp nhận câu « Đại gia văn chương bất câu Niêm Luật » nên một số khác tìm cách gán ép gọi những bài đó là thơ Cổ Phong :
Và để có thể làm thế, một bài thơ Đường luật tương tự được đưa ra làm mẫu, là bài « Vịnh Dế Duỗi » của Tú Quỳ.
Bài VỊNH DẾ DUỖI giống bài HOÀI CỔ TÍCH - Kỳ Nhị của Đỗ Phủ, thuộc dạng Niêm Luật 11/16, là 1 trong số 14 dạng Niêm Luật nằm ngoài dải số.
Bài « Vịnh Dế Duỗi » của Tú Quỳ có câu đầu dùng lục ngôn thể là : « Kiến chẳng kiến, voi chẳng voi ».
Ý tác giả muốn nói rằng con dế duỗi chẳng nhỏ như con kiến, cũng chẳng to như con voi.
Nhưng một chữ ‘phải’ được thêm vào ở vị trí thứ 3 : « Kiến chẳng phải kiến voi chẳng voi » khiến cho ba chữ nhì-tứ-lục đều là Trắc, để rồi dựa vào đó mà đem bài Vịnh Dế Duỗi làm mẫu cho thơ Cổ Phong.
Trong khi đó nếu thêm đúng ý tác giả là : « Kiến chẳng kiến voi chẳng voi » thì câu thơ sẽ có ba chữ nhì-tứ-lục phân minh.
Nhận xét toàn bài thơ Vịnh Dế Duỗi thì thấy như sau :
VỊNH DẾ DUỖI

Kiến chẳng kiến () voi chẳng voi    - lục ngôn thể nếu bỏ chữ (mà)
Ðời sanh dế duổi cũng choi choi
Ngắn cánh lên trời không đủ sức
Co tay vạch đất cũng khoe tài
Mưa tuôn gió tạt lên cao
Lửa bỏng dầu sôi nhảy đến chơi
Quân tửthương thời chớ phụ
Ðể cho bay nhảy thử coi.
Tú Quì
Đây đúng là một bài thơ Đường Luật, vì trong mỗi câu các chữ nhì-tứ-lục đều phân minh đúng luật, hai cặp 3-4 và 5-6 đối nhau chỉnh tề, toàn bài chỉ dùng có một vần, và chỉ dùng 8 câu.
Còn thơ thất ngôn Cổ Phong đúng theo định nghĩa thì phải là :
- toàn bài có thể dùng 6, 8, 10, 12 câu            
(vậy tại sao không chọn bài mẫu khác hơn 8 câu ?)
- toàn bài có thể dùng nhiều vần
(vậy tại sao không chọn bài mẫu có hơn một vần ?)
- không cần phải đối
(vậy tại sao không chọn bài mẫu không có đối ?)
- không cần theo Niêm Luật
(vậy tại sao không chọn bài mẫu với nhì-tứ-lục chẳng phân minh ?
Và thắc mắc sau cùng là : tại sao không dùng một bài thơ Cổ Phong lưu truyền từ thời Tiền Đường, Sơ Đường làm mẫu mà lại dùng một bài thơ của thi nhân hiện đại Việt Nam ?
Như trên vừa cho thấy : bài Vịnh Dế Duỗi không mang một đặc điểm riêng nào của thơ Cổ Phong. Nhưng vẫn được đem dùng làm mẫu để có thể xếp vào loại thơ Cổ Phong những bài ĐƯỜNG THI theo dạng Niêm Luật tương tự, không tương ứng với dải số 1-8 2-3 4-5 6-7.
2.6 Thử tìm nguyên nhân phát sinh ra dải số KS 1-8 2-3 4-5 6-7
Trong số 16 dạng Niêm Luật được thi nhân đời Đường dùng để làm loại thơ Thất ngôn Bát Cú ĐƯỜNG THI, thì dải số KS 1-8 2-3 4-5 6-7 chỉ tương ứng với 2 dạng Niêm Luật có nhiều bài nhất là :
Dng Niêm Lut 1/16 : T Cú trên Niêm 1-4 2-3, lut Bng; T Cú dưới Niêm 1-4 2-3, lut Bng và Dng Niêm Lut 4/16 :T Cú trên Niêm 1-4 2-3, lut Trc; T Cú dưới Niêm 1-4 2-3, lut Trc
Ở thời khoa cử, người ta có lý do để qui định cho các sĩ tử chỉ dùng 2 dạng Niêm Luật có rất nhiều bài này thôi.
Vì nếu áp dụng tất cả kỹ thuật nêu trên của ĐƯỜNG THI, với 16 dạng Niêm Luật trên lý thuyết, thì việc chấm thi sẽ rất phiền toái, mất nhiều thì giờ, và có khi ngoài tầm tay của một vài vị giám khảo.

Nếu giả thuyết trên đây là đúng thì dải số KS 1-8 2-3 4-5 6-7 được lập ra để dùng cho giới khoa trường: Các sĩ tử dùng nó để kiểm soát những bài thơ làm để dự thi. Các giám khảo dùng nó để chấm thi.

PHẦN III. CÁCH CHƠI PHÓNG KHOÁNG CỦA ĐƯỜNG THI
VỚI THI NHÂN VIỆT NAM
3.1 thơ của thi nhân tiền bối
Thi nhân tiền bối của chúng ta vẫn có những bài thơ chơi theo cách phóng khoáng của thi nhân đời Đường. Một ít bài đã nêu ở phần trên không phải do sưu tầm mà chỉ tình cờ gặp được. Xin nêu lại nơi đây với vài nhận xét.
VỊNH DẾ DUỖI
Kiến chẳng kiến, () voi chẳng voi   (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Ðời sanh dế duổi cũng choi choi
Ngắn cánh lên trời không đủ sức
Co tay vạch đất cũng khoe tài
Mưa tuôn gió tạt lên cao ở              (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Lửa bỏng dầu sôi nhảy đến chơi
Quân tửthương thời chớ phụ
Ðể cho bay nhảy thử coi.
Tú Quì
bài VNH D DUI thuc dng Niêm Lut 11/16, ging bài HOÀI C TÍCH - Kỳ Nh ca Đ Ph
HÀ TIỆN
Giàu thì ba bữa khó thì hai                  (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy
Nón đổingoài quần đổi ống
Dép thay da mặt túi thay quai
Dặn vợ đừng gắp mắm*               (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai
Thế gian mặc kẻ cười tiện
Ta chẳng phiền ai chẳng lụy ai.
Nguyễn-Minh-Triết
bài HÀ TIN đưọc dùng làm mẫu cho dng Niêm Lut 2/16
* nhờ đổi luật nơi câu “Dặn vợ có cà đừng gắp mắm” mà nhạc thơ đổi điệu nghe rất đậm đà.
DĨ HÒA VI QUÝ
thế đừng tranh tiếng trượng phu (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Làm chi cho sự đôi co
Đây cậy đây khôn đây chẳng nhịn*
Ðấy rằng đấy phải đấy không thua
Duật nọ hãy còn đua đến bạng                      (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Lươn kia hầu dễ kém chi
Chữ rằng : Nhân hòa vi quý
sự thì hơn khỏi phải lo.

Nguyễn-Bỉnh-Khiêm

bài DĨ HÒA VI QUÝ đưọc dùng làm mẫu cho dạng Niêm Luật 12/16
* nhờ dùng phép Niêm 1-3 2-4 với câu “Đây cậy đây khôn đây chẳng nhịn” mà nhạc thơ nghe bốc mạnh lên.

CẢM CỰU TỐNG TÂN XUÂN CHI TÁC (bài I)
Xuân này nào phải cái xuân xưa,                    (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
sớm ư ? thời lại trưa.
Cửa động hoa còn thưa thớt bóng,
Buồng thoa oanh khéo dập dìu
Phong lưu trước mắt bình hương nguội,  (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Quang cảnh trong đời chiếc gối mơ.
Cân vàng nửa khắc xuân lửng,
Phố liễu trăm đường khách ngẩn ngơ.
Hồ Xuân Hương
Bài CM CU TNG TÂN XUÂN CHI TÁC thuc dng Niêm Lut 5/16
ging bài ĐNG VƯƠNG CÁC ca Vương Bt

ÐỘC TIỂU THANH KÝ
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư                                (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Ðộc điếu song tiền nhất chỉ thư
Chi phấn hữu thần liên tử hậu
Văn chươngmệnh lụy phần
Cổ kim hận sự thiên nan vấn                                      (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Phong vận kỳ oan ngã tự
Bất tri tam báchniên hậu
Thiên hạnhân khấp Tố Như.
Nguyễn-Du
Bài ÐC TIU THANH KÝ cũng thuc dng Niêm Lut 5/16
ging bài ĐNG VƯƠNG CÁC ca Vương Bt
Thơ dịch : ĐỌC BÀI KÝ CỦA TIỂU THANH
Hoang vắng Tây Hồ hoa liễu xưa
Viếng nàng bên cửa một trang thư
Chết đi để tiếc, ôi son phấn
Lụy đến tàn tro, hỡi phú thơ
Kim cổ hận kia trời khó hỏi
Tài tình oan kiếp, khác gì ta
Ba trăm năm nữa trong thiên hạ
Chẳng biết ai người khóc Tố Như ?
Thảo Nguyên
          Về bài Độc Tiểu Thanh Ký của cụ Nguyễn Du, xin nêu thêm một đoạn ký sự của nữ ký giả Phạm Thanh Thủy như sau :
            (đầu phần trích dẫn)
          Đời nhà Thanh, có xây một Nghênh quán sứ, trên đồi mai có mộ Tiểu Thanh, cạnh hồ Tây, để làm chỗ nghỉ chân cho các sứ thần Việt Nam, Ai lao, Cao miên, Thái lan đi sứ, trên đường tới Bắc kinh. Sứ đoàn thời Gia long (1802-1820) khi qua Hàng châu được tiếp dẫn sứ nhà Thanh đưa vào ở đây. Chánh sứ là Nguyễn Du tiên sinh. Trên mộ Tiểu Thanh hiện (2001) có đến 6 bia, do 6 danh sĩ viết. Thời Tố Như qua đây chỉ có một bài bia. Trên bia ghi :
          « Tiểu Thanh, trường hận ký »
          Mai Khánh Sơn, Tiến sĩ Vĩnh lạc đề.
Chắc chắn cụ Tố Như đọc bài ký này, rồi thương hoa tiếc ngọc sáng tác bài thơ Độc Tiểu Thanh ký, nghĩa là cảm hứng sau khi đọc bài ký của Mai Khánh Sơn.
        (cuối phần trích dẫn)
          Cụ Nguyễn Du là Chánh Sứ, đại diện cho quốc gia, có trọng trách bảo vệ vinh dự và làm rạng danh cho dân tộc, nhất cử nhất động đều luôn phải lưu tâm, nhất là trong thời gian đi sứ.
Vậy lẽ đâu cụ lại “phá cách” làm chơi một bài thơ chẳng theo Niêm Luật ?
Trái lại, bài Độc Tiểu Thanh Ký với hai phép Niêm khác nhau cho hai bài Tứ Cú, lại có thể dùng làm bằng chứng cho người Trung quốc thấy rằng người Việt chúng ta cũng am hiểu tận tường cách chơi phóng khoáng của thi nhân đời Đường.
Cách chơi phóng khoáng này cho phép thi nhân buông thả cho hồn thơ tự nhiên chạy theo cảm xúc : ý thơ, tứ thơ cho những ngôn từ thuận tai với phép Niêm nào, thể Luật nào, thì viết theo Niêm Luật đó.
3.2 thơ của thi nhân hiện đại
Đa số người chơi thơ Đường Luật hiện nay đều tuân thủ chặt chẻ phép Niêm theo dải số KS 1-8 2-3 4-5 6-7. Nhưng lắm lúc thi hứng và thi tứ tự nhiên đưa họ lọt vào một cách chơi hoàn toàn đúng theo nguyên tắc chơi của thi nhân đời Đường. Có vài thi nhân khi tự thấy, hoặc được các bạn trung thành với dải số KS nhắc lỗi, thì họ lập tức sửa ngay, mặc dầu những câu thơ ấy không có khuyết điểm nào, mà thường khi lại ‘hay hơn’ những câu được sửa lại. Số khác thì vẫn để nguyên bài thơ làm ra theo cảm hứng.
            Sau đây là thơ của thi nhân hiện đại trúng vào 16 dạng Niêm Luật, kẻ vô tình người cố ý, ở mỗi dạng chỉ nêu 1 bài làm mẫu :
Dạng Niêm Luật 1/16) : 1-4 2-3 Bằng + 1-4 2-3 Bằng
Đây là dạng thứ nhất trong 2 dạng thông dụng có nhiều bài nhất, và thuộc cách chơi của dải số.
MƠ TIÊN

Mới lưng lưng cốc đã châm đầy                  (Niêm 1-4 2-3, Bằng
Lại trách người sao khéo giả say
Rượu nhũn chân trần đi khó bước
Men nồng bến tục đến chưa hay
Nhá nhem đèn tối mờ con mắt                   (Niêm 1-4 2-3, Bằng
Chập choạng ai gần níu một tay
Quả tiếng Ðào Nguyên tuôn róc rách
Ta làm Từ Thức một đêm nay.
VNN (Nouméa 17/12/00)

Dạng Niêm Luật 2/16) : 1-4 2-3 Bằng + 1-4 2-3 Trắc
CHAY ĐỔI MẶN
Chay ăn không chán sức sung ra               (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Mặn nếm vài lần sẽ thích
Chay đậu tương phùng mời đến dự
Mặn cơm hợp tác bắt làm ra
Chay chánchùa qua đớp "phở"               (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Mặn ra phố muốn tìm "quà"
Mặn chê tôm nghe càng ớn
Chay liếm xương cầy chỉ ta.
Đoạn Trường

Dạng Niêm Luật 3/16) : 1-4 2-3 Trắc + 1-4 2-3 Bằng
CHO TRỌN CUỘC TÌNH 
Đông lạnh phòng không buồn lẻ bạn         
(Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Đêm dài trằn trọc đếm từng canh
Mưa rơi thổn thức rơi không dứt
Gió thổi lạnh căm thổi quẩn quanh
Thu về dỗ nhẹ cơn ảo                            (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Hạ đến ru êm giấc mộng lành
Duyên kiếp đời này duyên kiếp nữa
Tình em giữ trọn trong tim anh
Huyền Minh Sep.28/09

Dạng Niêm Luật 4/16) : 1-4 2-3 Trắc + 1-4 2-3 Trắc
Đây là dạng thứ hai trong 2 dạng thông dụng có nhiều bài nhất, và thuộc cách chơi của dải số.

NHẤT ĐỜI
Ai đã đem ta ném giữa đời                          (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Giang-hồthượng mặc rong chơi
Bến-Tre Bến-Nghé len từng ngách
Bờ Á Bờ Âu quậy khắp nơi
Mỗi mỗi nghề vui lại đến                          (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Một mình một chiếu ngự rồi lui
Trời cho ngày tháng Xuân cho tuổi
Tao ngộ nàng thơ nhất cõi người !
Châu-Anh Ðỗ-Ðơn-Chiếu (VT 20/7/2000)


Dạng Niêm Luật 5/16) : 1-4 2-3 Bằng + 1-3 2-4 Bằng
GHẸO BẠN
Bạn hiền cứ nói đến đây vui                      
(Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Thấy rượu sợ say lại trốn chui
Chỉ mấy ly quèn đưa đẩy tới
Vài ba xị nhạt thoái de lùi
Mời ăn lại chối không cầm đũa                   (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Đã nhậusao hổng thấy mùi
*
Cao đô bởi ngạinhà hứ
*Chỉ dám ngồi đong nước ngọt thôi.

Đồng Lão
được một ông bạn nhắc nên tác giả sửa 2 câu chót lại là :
*Chắc ngại về nhà nghe vợ hứ
*Đành xơi nước ngọt một mình thôi.
- 2 câu sửa lại kém súc tích hơn 2 câu gốc

Dạng Niêm Luật 6/16) : 1-4 2-3 Bằng + 1-3 2-4 Trắc
BÀI THƠ AI TẶNG...
Bài thơ ai tặng chẳng riêng chung             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Đậm nét từ ngoài đến nội dung
Ý đẹp với tiêu đề mở cuộc
Lời hay trong kết luận sau cùng
Đối chỉnh cung đàn reo thánh thót  (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Vần trơn tâm sự trải mông lung
Cả một trời xuân theo nét bút
Gieo muôn hương ngát của nghìn trùng.
LCR 29/01/08

Dạng Niêm Luật 7/16) : 1-4 2-3 Trắc + 1-3 2-4 Bằng
DUYÊN NỢ
Mắc nợ tình thơ với bạn hiền                      (Niêm 1-4 2-3 Trắc
Cũng tạo hóa khéo se duyên !
Từng câu từng chữ hồn vương đọng
Mỗi ý mỗi vần dạ khắc tên !
Non xanh suối biếc cùng vui dạo               (Niêm 1-3 2-4 Bằng
Biển ngọc mây hồng thỏa chí riêng
Từ đây chung lối đường muôn dặm
Kết nối niềm say vạn bạn vàng !
Sao Mai

Dạng Niêm Luật 8/16) : 1-4 2-3 Trắc + 1-3 2-4 Trắc
SẼ ÊM RƠ

Đâu đã còn đâu tuổi mộng mơ                   (Niêm 1-4 2-3 Luật Trắc
Giận nhau trong mộng thuở ngây khờ
Tranh ăn tranh nói lời gay gắt
Hay dỗi hay hờn chuyện phất phơ
Bữa trước vui mồm khen gái đẹp               (Niêm 1-3 2-4 Luật Trắc
Chiều nay buồn bụng chẳng ai chờ
Mở miệng mắc quai đành miệng
Đừng khen ai đẹp sẽ êm rơ.
LCR 12/03/09

Dạng Niêm Luật 9/16) : 1-3 2-4 Bằng + 1-4 2-3 Bằng
VU LAN BUỒN NHỚ
Thu nào yên giấc mẹ xa chơi            (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Ba chục năm buồn nhớ chẳng nguôi
Thương con mỏi mắt tìm quanh quất
Nhớ trẻ xa quê khóc sụt sùi
Ai theo non nước ngày binh lửa                 (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Ta chọn sông hồ chuyến ngược xuôi
Mỗi bận Vu Lan buồn héo hắt
Ngây nhìn ảnh mẹ nhớ từng hồi.
VNN 10/05/07

Dạng Niêm Luật 10/16) : 1-3 2-4 Bằng + 1-4 2-3 Trắc
CHẤP NHẬN THÔI
Câu thơ trào phúng chĩ mua vui.               (Niêm 1-3 2-4 Luật Bằng
Xướng họa cùng nhau tặng nụ cười…
Hả! Ha! vài tiếng trêu ai giận
Hi! vần thơ chọc bạn chơi.
Đừng giận, đừng buồn thơ tiếu ý.             (Niêm 1-4 2-3 Luật Trắc
Chung mâm, chung tiệc nắm tay ngồi.
Tinh thần sảng khoáithanh nhẹ...
Huynh nghĩ như vầy chấp nhận thôi.
Thảo My 22/02/08
         
Dạng Niêm Luật 11/16) : 1-3 2-4 Trắc + 1-4 2-3 Bằng
HỒN THƠ
*
Gió thoảng trùng dương sóng gọi bờ (Niêm 1-3 2-4 Luật Trắc
*Trăng vàng chếch bóng dậy hồn thơ

Nước chảy trên sông làn nước đục
Mây che đỉnh núi áng mây mờ
Nhà tranh xiêu vẹo bên triền núi            (Niêm 1-4 2-3 Luật Bằng
Vách đất cong queo cạnh suối
Gác vắng đêm dài trông nguyệt lặng
Tình quên thệ ước để duyên chờ.
Vancali 6.2.09
Sau đó tác giả tự thấy và tự cho là sai nên nhắn yêu cầu các bạn sửa lại 2 câu đầu là :
*Trùng dương gió thoảng sóng bờ
*Chếch bóng trăng vàng dậy túi thơ
- “dậy túi thơ” thì nghe chẳng hay bằng “dậy hồn thơ”

Dạng Niêm Luật 12/16) : 1-3 2-4 Trắc + 1-4 2-3 Trắc
KHỔ THÂN THẦY ĐỒ
Này mực, này nghiên mệt thí mồ                  
(Niêm 1-3 2-4 Luật Trắc
Lại thêm trét giấy với pha hồ
Tướng cứ gầy tong mồm cứ
Áo thì ướt nhẹp túi thì khô
Dưới phố xăn quần đon đả khách           (Niêm 1-4 2-3 Luật Trắc
Bên đường trải chiếu chực chờ sô*
Chợt nghetiếng còi -lic
Vội chạy lăng quăng dọn hết đồ.
Tú Lòng...thòng
* show

Dạng Niêm Luật 13/16) : 1-3 2-4 Bằng + 1-3 2-4 Bằng
NGỌT NHƯ THƠ ĐƯỜNG
Thơ Đường đối đáp trông hay hay    (Niêm 1-3 2-4 Luật Bằng
Trong trẻo ngọt ngào chút đắng cay
Nhà thơ tơi đất cho hạt giống
Đợi đến xuân về được mía cây
Tám câu ngắn ngủi hồn sâu lắng        (Niêm 1-3 2-4 Luật Bằng
Lộ tả chân dung độc đáo thay
Như mây yêu gió trên đầu núi
Chìm đắm thơ Đường tim ngất ngây
Bạch Vân Nam 2007

Dạng Niêm Luật 14/16) : 1-3 2-4 Bằng + 1-3 2-4 Trắc       
VUI XUÂN CON TRÂU
Không chờ chẳng đợi cũng nhanh qua       (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Tiễn chuột mừng trâu đến viếng nhà
Vui Xuânhoạ vài câu đối
Đón Tết nhâm nhi mấy chén trà
Xúc cảnh lời vàng bay bỗng mãi                (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Tri tình bút ngọc toả lan xa
Nắn nót bài thơ xin chúc Bác
Thi ca đám trẻ chạy theo già. 
Sương Anh

Dạng Niêm Luật 15/16) : 1-3 2-4 Trắc + 1-3 2-4 Bằng       
BÁC LÁ YÊU DẤU !

Bác  vui đùa bạn hữu đông                      (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Ông đi vắng lặng hỏi buồn không ?
Chỉ lối ngay đường thường đụng chạm
Lời ngay nẻo phải khó tương đồng
Tình ơi kính Lão đời thanh thản                  (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Bạn hởi thương người nước đục trong
Chờ Rơilại đừng xa nhé
Bé tịt hồn thơ muối xát lòng. 
Vancali 9.23.08
        
Dạng Niêm Luật 16/16) : 1-3 2-4 Trắc + 1-3 2-4 Trắc
CƠM PHỞ
Cơm phở đều từ lúa gạo ra                    (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Phở cơm no bụng sống thôi
Phở mảnh mai xinh thèm bế ẳm
Cơm tròn ục ịch muốn ra
Cơm nuốt hằng ngày lâu cũng chán       (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Phở ăn thỉnh thoảng giống như quà
Cơm phở suy cùng đều gạo
Đổi thay cũng đúng phải hong ??? ta !
Nguyệt Ánh
            Bài mẫu của 16 dạng Niêm Luật cho thấy dạng nào cũng cho được âm điệu hài hòa cho bài Thất Ngôn Bát Cú Đường Thi.

3.3 Sự qui định ra ĐƯỜNG LUẬT
Về sự qui định ra Ðường Luật Quách-Tấn có nhận xét như sau :
“Ðường Luật không phải do một cá nhân hay một nhóm thi nhân cao hứng đặt ra theo sở kiến, sở thích của mình, mà chính là sự đúc kết những kinh nghiệm kỹ thuật lâu đời đã thành công, và điển chế những thành công ấy làm khuôn phép chung cho làng Thơ.
(trích Thi Pháp Thơ Ðường của Quách-Tấn, trang 38)
Sự Giải Mã ĐƯỜNG THI trình bày trên đây đã cho thấy đầy đủ phần kỹ thuật lâu đời đã thành công của thi nhân đời Đường.
Và nay không còn là thời kỳ khoa cử. Nên mọi người có thể tự do lấy những thành công ấy làm khuôn phép để làm thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật. Đó là cách chơi phóng khoáng của các thi nhân danh tiếng đời Đường, làm thơ Thất Ngôn Luật với 16 dạng Niêm Luật khác nhau.
16 dạng Niêm Luật đã nêu không phải là do ai đặt ra mà chỉ là cái kết quả tự nhiên của toán học trên cách chơi đã chọn của thi nhân đời Đường là dùng 2 bài Tứ Cú tự do theo Niêm riêng và theo Luật riêng.
Với sự lựa chọn này, khi làm thơ thi nhân khỏi phải nhắm vào một dạng thơ nào, mà chỉ cần tìm ý tứ để viết 8 câu thơ đúng theo bố cục (Mở Phá, Trạng, Luận, Thúc Kết). Tức là viết thành 4 cặp 1-2 3-4 5-6 7-8. Hứng thơ tứ thơ đưa đến những ngôn từ nào thì chọn ba chữ nhì-tứ-lục thích nghi với những ngôn từ ấy để có 1 câu đúng theo Luật Trắc một câu đúng theo Luật Bằng cho mỗi cặp, bất cứ là Luật nào cho câu trên Luật nào cho câu dưới cũng đều tốt cả. Dĩ nhiên phần đối ngẩu và gieo vần phải đúng theo khuôn phép của loại thơ “Thất Ngôn Luật”. Và khi viết xong 8 câu như thế thì bài thơ Thất Ngôn Bát Cú sẽ đương nhiên trúng vào 1 trong 16 dạng Niêm Luật khả hữu mà cách chơi cho phép, gồm luôn cả 2 dạng Niêm Luật tương ứng với dải số.
Chơi theo cách quy định bởi dải số, thì chỉ là dùng 2 dạng Niêm Luật thông dụng nhất trong số 16 cách chơi của Đường Thi. Sự giới hạn này đôi khi cũng gây khó khăn cho thi nhân và bài thơ có thể kém hay.
Xin nêu lại bài HÀ TIỆN làm ví dụ :
HÀ TIỆN
Giàu thì ba bữa khó thì hai             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy
Nón đổingoài quần đổi ống
Dép thay da mặt túi thay quai
Dặn vợ đừng gắp mắm*         (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai
Thế gian mặc kẻ cười tiện
Ta chẳng phiền ai chẳng lụy ai.
Nguyễn-Minh-Triết
Nếu muốn làm đúng theo dải số thì phải đổi ngược Luật của 4 câu thơ chót : Trắc thành Bằng, Bằng Trắc. Với những tứ thơ đã đến như thế thì hầu như thi nhân không có cách thực hiện, hoặc chỉ thực hiện được trong sự gượng ép khiến lời lẽ không còn hồn nhiên thoải mái như trên.
Nhưng nói chung cách chơi nào cũng đều có thể cho ra được những bài thơ hay cho làng thưởng thức vì như đã nói cách chơi theo dải số chỉ là 2 trong số 16 cách khả hữu của phép chơi chung.
PHẦN IV. KẾT LUẬN
Nay không còn là thời kỳ khoa cử.
Nhưng người làm thơ lắm khi thích tìm cái khó để trổ tài. Làm thơ theo dải số 1-8 2-3 4-5 6-7 cũng là thêm một chút khó. Với cái khó đó mà cống hiến được cho làng thơ những bài thơ hay là điều đáng ca ngợi, chẳng ai mong muốn gì hơn.
Nhưng việc gọi những bài TNBC Đường Thi danh tiếng của Lý Bạch, Đỗ Phủ … Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, là thơ phá cách, thơ thất Niêm hay thơ Cổ Phong, chỉ vì chúng nằm ngoài dải số, thì bài Giải Mã này đã trả lời. Xin mọi người lấy công tâm mà kết luận.
-----o-----
LỜI CUỐI

Phần kỹ thuật của thi nhân đời Đường đã được mỗ xẻ, phân tách và đúc kết như trên, cho thấy cách chơi của họ rộng rãi phóng khoáng hơn cách chơi quy định bởi dải số của thời khoa cử.
Mọi người chúng ta hoàn toàn tự do để chọn lựa cách chơi : theo thi nhân đời Đường hay theo dải số của giới khoa cử cũng đều tốt cả. Vì cách nào cũng cho được những bài thơ hay cho làng thưởng thức.
Nhưng nên trả lại César những gì của César:
1/ Trả lại cho những bài ĐƯỜNG THI danh tiếng cái địa vị tôn quý của chúng trong ĐƯỜNG THI. Đó là những bài TNBC ĐƯỜNG THI chính thống, không phải là thơ thất Niêm vì “phá cách”, lại càng không phải là thơ Cổ Phong.
2/ Thơ TNBC Đường Luật là thơ làm rập khuôn theo loại thơ “Thất Ngôn Luật” của thi nhân tiền bối đời Đường. Mà loại thơ này có tổng hợp 16 dạng Niêm Luật như đã trình bày. Làm theo dải số thì chỉ là trúng vào 2 dạng Niêm Luật “có nhiều bài nhất”, chứ không phải là “duy nhất”.
Thơ nằm trong 14 dạng Niêm Luật còn lại kia vẫn là thơ TNBC Đường Luật, nên chúng có quyền có mặt trong mọi trang thơ Đường Luật, thay vì bị gạt ra ngoài như hiện tại.
Sự sửa lại hay vứt bỏ vào sọt rác những bài thơ ấy khiến cho kho thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật bị thiếu mất đi những cách chơi đa dạng của thi nhân đời Đường.

Xin mượn 4 câu thơ của Xuân Diệu để dứt lời :

Thôi thì đó, nói cùng nhau cho thỏa,
Ai có thương thì tôi cũng cảm ơn,
Ai có ghét, tôi cũng cười khuây khỏa,
Lỗi vì tôi, tôi đâu dám giận hờn. - Xuân Diệu

Võ Nhựt Ngộ
98/190 Tán Kế, Phường 3 tp Bến Tre, tỉnh Bến Tre
Email : vonhutngo@yahoo.fr
-----o-----
TÀI LIỆU THAM KHẢO

ĐƯỜNG THI CẢM DỊCH của Đinh Vũ Ngọc, nhà xuất bản ĐÀ NẴNG
ĐƯỜNG THI TRÍCH DỊCH của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản, nhà xuất bản VĂN HỌC
ĐƯỜNG THI TUYỂN DỊCH của Lê Nguyễn Lưu, nhà xuất bản Thuận Hóa
THI PHÁP THƠ ĐƯỜNG ca Quách Tn, nhà xut bn Tr TP H CHÍ MINH
ĐỌC VÀ DỊCH THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU của Thảo Nguyên, nhà xuất bản Hội Nhà Văn
Website : http://www.vnthuquan.net