LL
TẢN MẠN TRƯỚC
NGÀY VỀ…
CHSNH. Đinh Thị Ngọc Chung
. K 67-74-
Ban C
Hiện ở: 424/10 Nguyễn Văn Luông,P12,Q 6 TP. HCM
DD. 0912 000 846
Bồn chồn… Nôn nao…
Háo hức… Tôi đang đếm ngược những ngày còn lại. Vé đã đặt xong, chương trình
cũng đã được sắp xếp, chỉ còn đợi đến giờ G để khởi hành. Trở về và hội tụ. Kỷ
niệm nơi ký ức hình như chưa đủ. Phải sống lại, đắm mình vào khoảng không gian
xưa mới mong cảm nhận được hết những mênh mang của một thời áo - trắng - học -
trò.
Có phải tôi đang lần mò tìm lại những
hình ảnh của thầy cô tôi, bạn bè tôi - và cả tôi của thủa nào? Một thủa
nào mãi vang vọng.
Sáu mươi năm của một đời người có thể
chỉ là những bồng bềnh sướng vui khổ lụy, nhưng sáu mươi năm của một ngôi
trường lại chất chứa những gì tinh túy nhất, trìu mến nhất. Tưởng tượng
ngày sắp đến, hàng trăm ngọn nến được thắp lên trên những cánh tay run
rẩy của những thế hệ thầy cô, của những thế hệ học sinh cũ mới từ khắp nơi tìm
về để kỷ niệm 60 năm thành lập trường. Chỉ mới tưởng tượng thôi mà sao lòng mình
không kìm nén được cảm xúc.
Những kỷ niệm cũ lại ùa về…
Một tôi của những ngày đầu chập chững bước
vào trường trung học. Một tôi-cô-bé hoàn toàn khác lạ! Những năm học tiểu học
như là của một cô bé nào đó, chứ không phải là của cô bé tôi bây giờ. Nhiều
sách vở hơn, nhiều thầy cô hơn. Cái cảm giác lâng lâng khi lần đầu được khoác
chiếc áo dài trắng có đính bảng tên “
Trường Trung Học Nguyễn Hoàng” như vẫn còn lãng vảng đâu đó dù đã trôi qua
gần 5 thập kỷ.
Thời gian thì vẫn cứ đều đặn gõ những
bước nhịp êm đềm, cứ tưởng như tuổi học trò cũng sẽ êm đềm mãi dưới mái
trường yêu dấu. Lũ học sinh chúng tôi còn quá đỗi ngây thơ để đón nhận những
khốc liệt của chiến tranh, dù xen lẫn vào tiếng giảng bài của thầy cô là
những tiếng đì đùng của súng đạn. Rồi bỗng chốc chiến sự bùng lên dữ dội
hơn vào mùa hè. Hỗn độn, loạn lạc, tứ tán. Ngỡ như chẳng bao giờ còn gặp
lại thầy cô, gặp lại bạn bè. Ngỡ như cuộc sống chỉ còn lại những đau thương,
mất mát. Nhưng rồi từ những tấm lòng của thầy cô, gom góp kiếm tìm chúng tôi
qua từng trại tạm cư. Thầy trò chúng tôi lại tập hợp nhau dưới mái
trường tạm bợ. Mỗi học sinh khi đi học đều phải đem theo chiếc ghế để
ngồi đã nói lên được sự tạm bợ đó. Dù chỉ là những lớp học tạm bợ nhưng có vẻ
như lời giảng dạy của các thầy các cô đều mang một nét gì đó tâm huyết
hơn, thấm đẫm hơn. Chính từ những buổi học tạm bợ đó chúng tôi càng gắn
bó với nhau. Càng nhìn thấy được tình thương mến, bao dung vô bờ của thầy cô
dành cho lũ học trò tội nghiệp chúng tôi. Cũng chính từ đó chúng tôi kính
yêu thầy cô mình hơn, gần gũi với các đồng môn hơn.
Có lẽ trên đất nước nầy chẳng có
ngôi trường nào có một số phận kỳ lạ như ngôi trường của chúng tôi, nên xin
đừng ngạc nhiên với những cảm giác nôn nao háo hức khi sắp được trở lại trường
. Chúng tôi như những tín đồ của giáo phái “Trung
Học Nguyễn Hoàng” trở về hành hương nơi miền đất- thánh- kỷ- niệm.
Tôi vẫn còn nhớ như in buổi khai giảng
năm học mới nơi ngôi trường Nguyễn Hoàng trại 5 Non Nước. Lộ rỏ nét đăm chiêu
trên gương mặt các thầy, các cô, vẻ dớn dác nơi học trò chúng tôi. Bạn bè
ai còn ai mất sau buổi loạn ly? Còn đâu nữa mái ngói rêu phong? Còn đâu
nữa tiếng chuông reo giờ ra chơi vỡ òa đàn bướm trắng? Còn đâu nữa những dãy
lầu với từng dãy hành lang chạy dài hun hút, vuông vức từng ô cửa sổ để chúng
tôi thả hồn chập chờn theo từng vạt nắng đổ xuống sân trường? Không còn những
cành hoa phượng lẻ loi sót lại mùa hè chào đón chúng tôi niên học mới, thay vào
đó là tiếng sóng biển rì rào hòa quyện cùng nắng cát. Chúng tôi trở lại học
hành sau mấy tháng hè đầy những biến động. Chúng tôi lại tiêp tục cuộc hành
trình tiếp nhận tri thức cũng như tiếp tục đi nốt những năm cuối của đời học
sinh trung học trong vòng tay độ lượng của thầy cô và tình thân thiết của bạn
bè.
Lớp 11C NNĐN dự đám cưới
Kiều Minh và Văn Anh( 1973)
Trái sang: Nguyễn Thị Hoa,
Ngọc Chung, Bích Liên, Bích Đào, Minh và Anh
Niên học đó, lớp 11C chúng tôi điểm
danh được 21 mạng - 14 nữ và 7 nam. Bọn nữ chúng tôi chiếm ưu thế về số đông
trong lớp nên tha hồ chọc phá bắt nạt những anh chàng nam hiền lành. Giáo
sư nam trẻ vào lớp dạy, bọn chúng tôi cũng tìm cách nầy cách khác để trêu
đùa, dù hồi đó học sinh chúng tôi vẫn rất tôn sùng thầy như tôn sùng một thần
tượng. Vì là thần tượng nên vào lứa tuổi bắt đầu biết “mộng ngoài cửa lớp” đó, thì thầy lớn hơn trò dăm tuổi không tránh
khỏi có những trò đem lòng thương thầm nhớ trộm thầy. Có lẽ cũng từ những
rung động đơn phương đó mà trò giỏi lên một cách bất ngờ môn thầy đứng lớp. Lớp
học chúng tôi như dậy sóng, dù chỉ là sóng ngầm, kể từ hôm thầy Đỗ Tư Nhơn, dạy
Quốc văn - giáo sư hướng dẫn lớp 11C, vào lớp cùng với thầy mới dạy môn Pháp
văn; dáng dấp hào hoa, rất đẹp trai (em
xin lỗi thầy vì lúc đó thầy mới ra trường, còn trẻ quá !). Thầy
giới thiệu: đây là thầy Nh., thầy dạy Pháp văn lớp 11C các em. May mà nhờ
có vẻ nghiêm nghị của thầy chủ nhiệm nên bọn nữ quỷ chúng tôi kềm nén lại được,
những tiếng hoan hô long trời lỡ đất chào đón thầy giáo trẻ. Kể cũng lạ, từ lúc
thầy Nh. dạy lớp tôi, đến giờ Pháp
văn của thầy, cả lớp như đổi khác hoàn toàn, bọn nữ thì điệu đàng hơn, từ lối
đi đến dáng ngồi, bọn nam thì có vẻ dè dặt hơn trong cách ăn nói, có một anh
chàng không dấu được nỗi buồn khi biết người mình đang để ý lại si mê thầy
giáo. Hình như tất cả nội lực, tất cả sinh mạng của cô bạn Đ. lớp tôi đều dành
cho môn Pháp văn, cả lớp đều biết nên cứ trêu chọc Đ. Mà Đ. cũng chẳng cần chối
cãi.( Mới đây khi Đ. định cư ở nước ngoài
về nước, bọn chúng tôi rủ nhau đến thăm thầy, khi Đ. gặp một ông lão tóc
thì bạc, mắt thì mờ có lẽ thần- tượng- người-trong-mộng đã sụp đổ trong Đ, chỉ
còn lại thần- tượng - người - thầy đáng kính). Trong lớp, hễ có đứa nào
được điểm cao về môn Pháp văn là sẽ có ngay những tiếng xầm xì. Một bữa, hai cô
bạn tôi, Lệ Bê và Bích Lan làm bài tập Pháp văn được điểm cao,
Ảnh bên( 2011); lớp 11C-K72-73NNĐN) thăm thầy Đ.V.Nhẫn: Anh Thi và B.Đào, Kiều Minh, Đoàn
Hoa, Ngọc Chung, PN thầy Nhẫn, N.T.Hoa, anh Lộc, thầy Đào Văn Nhẫn.
Tôi hỏi chọc: Hai đứa bây cũng mê thầy Nh.
hả?
-Lệ Bê nói: Tau có bồ rồi, mắc chi mê thầy!
-Bích Lan cũng nói tau cũng có bồ rồi mà…
Tôi ngạc nhiên hết sức, hỏi lại: Ê, hai đứa
bây có bồ khi mô, răng tau không biết? Ai
nói mà biết, bữa mô hai đứa tau hẹn bồ, mi có đi theo không?
Dĩ nhiên là tôi đi theo chúng nó để biết chứ.
Tôi hỏi khi mô?
- Hai đứa bảo: Chủ nhật ni.
Vậy là tôi hồi hộp chờ đợi cho đến ngày chủ
nhật để đi theo nhìn bồ chúng nó ra sao.
Chủ nhật, chúng nó diện bộ cánh thật mode đến
“sam” tôi ở trại 6 rủ tôi đi. Ra đến cổng “sam”, tôi hỏi, bây hẹn ở mô? Chúng
nó nói hẹn đi coi “xi-nê”. Vậy là tôi theo chúng nó đi qua rạp Trưng Vương bên
Đà nẵng. Bữa đó rạp đang chiếu phim võ thuật.
Tôi hỏi: bồ bây chưa tới à?
Chúng nó bảo, cứ mua vé vào trước, chúng nó
tới sau.
Khi đã ngồi trong rạp, tôi lại hỏi, bồ
bây mô nờ, hay cho bây leo cây rồi? Yên chí đi, chúng nó tới chừ.
Khi rạp bắt đầu tắt đèn để chiếu dạo.
-Lệ Bê nói, đó, bồ tau đó, Bích Lan nói, đó,
bồ tau đó.
Tôi nhìn quanh chẳng thấy ai, chúng nó bảo
“côi” màn bạc tề. Đến lúc đó tôi mới biết là mình bị ‘mắc lỡm”.
Thì ra bồ chúng nó là Khương Đại Vệ và Địch Long! Tôi thì tức cành
hông, còn chúng nó thì cười nắc nẻ. Lệ Bê là đứa nghịch ngợm nhất lớp. Có lần
cả lớp tổ chức đi chơi biển Nam Ô, có mời mấy thầy đi cùng. Hôm đó thầy dạy
Pháp văn không đi. Ngày hôm sau đi học, đến giờ Pháp văn, Lệ Bê lên bàn
thầy mượn thầy cây viết, đến khi trả viết lại, một lúc sau cả lớp nhìn thấy
thầy đỏ bừng cả mặt. Sau đó chúng tôi mới biết là trong cây viết có mảnh giấy
nhỏ lồng vào với giòng chữ : “ Nam Ô
vắng bóng ai”. (Lệ Bê ơi! Rứa là về
QT lần nầy, là thêm một lần nữa vắng bóng mi. Và mãi mãi “vắng bóng” mi
trên cõi trần nầy. Nơi miền miên viễn đó mi hãy cứ vui đùa hồn nhiên nhé).
Yến,Nghĩa,Hồng,x,x,Lan,Chung,Bằng
Sau:Hải,Bê,x,x,x,Hường,x,Thầy Vĩnh,x,x,x,Băng Tâm
Viết đến đây, khi nhắc đến Lệ Bê, nước mắt
tôi chỉ chực trào ra, mới ngày nào, mỗi lần về họp trường là nó cứ ý ới, mi tới
mô rồi, mi tới mô rồi. Nó đã ra đi để lại trong lòng bạn bè một khoảng trống
khó bù đắp.
Cũng trong năm tôi học lớp 11
nầy, thầy trò trường chúng tôi cùng chịu một cái tang đau đớn. Thầy Phan Phụng
Thạch – Một nhà thơ trẻ, tài hoa của trường chúng tôi đã vĩnh biệt chúng tôi.
Thầy ra đi khi tài thơ đang độ chín. Cả trường chúng tôi đều đến tiễn biệt thầy
lần cuối trong tiếng khóc nức nỡ nghẹn ngào. Tôi nhớ hôm tiễn đưa thầy, sương
mù giăng kín hết cả đất trời, có lẽ nào lòng thương tiếc của chúng tôi đã làm
lay động cả một không gian rộng lớn. Thầy ơi, ở trên kia thầy có nghe “ lạnh tuổi vàng”? Có một cô bạn em bây
giờ mới thú nhận rằng đã từng yêu thầy say đắm. Có lẽ cô ta yêu nhà thơ chứ
không phải yêu thầy giáo đâu, thầy nhỉ?
Lên lớp 12, trường tạm không đủ phương tiện để tổ
chức dạy và học, số học sinh lớp 12 nữa, chúng tôi một lần nữa lại phân
tán mỗi đứa đi một ngã để rồi từ đó trôi theo từng phận người và cuốn theo
cùng vận nước.
Cho đến tận những năm sau nầy, khi
hoàn cảnh cho phép, và cũng nhờ ở những tấm lòng cao cả của các thầy cô, nhờ
tâm huyết của các anh chị lớp trước, nhờ sự nhiệt thành của đông đảo tầng
lớp cựu học sinh Nguyễn Hoàng khắp nơi, chúng tôi lại được tề tựu bên nhau ở
những buổi họp mặt để tiếp tục cuộc hành trình ôn lại quá khứ thân thương và
hướng đến những dự phóng của tương lai là thắp sáng mãi truyền thống hiếu học,
kính yêu thầy cô, mến thương bạn học.
Tháng sáu cũng đã gần kề. Tháng sáu ngoài
“miềng” chắc nắng nóng nung người, gió Nam Lào rát mặt. Có còn không tiếng ve
sầu rên rỉ trên những hàng cây trồng quanh Thành Cổ?. Giòng sông Thạch Hãn có
lẽ nước đã mặn lên đến ngã ba Vĩnh Định rồi nhỉ. Thương biết mấy những con
đường ngày xưa rợp ngời những tà áo trắng. Ước gì ta được khoác lên tà áo trắng
ngày xưa. Thôi đành hướng về một ngày tháng sáu, ngày kỷ niệm tròn đầy sáu mươi
năm để cùng nhau giang rộng vòng tay nối kết những ước mơ.
SG, 4/ 2012- ĐTNC
Trước: Lài-Lan-Chung-Bích-Tùng-Hải-Hồng
Sau: Lộc-X-Nghĩa-Hướng-Hường-X-X-X
NẮNG CÒN TRÊN
ĐỒI SIM
CHS:Dương
Thị Bích Đào
Anh Thi và B.Đào,K.Minh,Đoàn Hoa,Ngọc Chung, Cô
N.T.Hoa, Anh Lộc,Thầy Đào Văn Nhẫn
Thùy Vân, một mình rảo bước xuống bờ biển gần ngôi
trường nàng đang học, đó là trường trung học Nguyễn Hòang nằm trong trại tạm cư
số năm Non Nước-Đà Nẵng. Nàng ngồi trên bãi biển trong một buổi chiều vắng lặng,
nhìn về cuối chân trời, với ánh nắng ngã sang màu vàng cam, màu đỏ sẩm, đẹp lạ
lùng, giữa tiếng sóng vỗ nhẹ vào ghềnh đá, vào bờ biển. Ngồi một mình nơi đây
để ôn lại những kỷ niệm của những ngày đã qua, những kỷ niệm đẹp và êm đềm, mai
đây nàng sẽ từ giã bãi biển Non Nước và không biết bao giờ nàng có dịp gặp lại,
cuộc sống ở trại tỵ nạn làm cho tâm hồn nàng lớn dần lên, những suy nghĩ lớn
hơn, nàng đứng lên và đi nhanh về trường. Tan trường, những tà áo trắng trinh
nguyên lồng lộng trong gió biển, mái tóc dài ôm kín bờ vai, chiếc cặp ôm vào
lòng, nàng đi qua phi đạo để trở về nhà.
Thời gian qua nhanh, ba tháng nghĩ hè sắp trôi qua, nàng
đang chuẩn bị mọi thứ để ra Huế học tại trường trung học Đồng Khánh năm cuối cùng
của bậc trung học vì trường Nguyễn Hòang không có giáo sư dạy môn tiếng Anh cho
học sinh ban C kề từ khi Thầy Kế qua đời khi chiếc máy bay Boeing đưa Thầy từ
Sài gòn ra Đà Nẵng bị lâm nạn. Nàng còn bao nhiêu việc phải làm, đi ra Huế nộp
học bạ xin chuyển trường, thuê phòng trọ, may thêm áo dài, đan áo len vì ngòai
Huế vào mùa Đông trời lạnh hơn, mua sách vở, rủ hai bạn cùng đi: Ngọc Anh và Kim
Cúc.
.
Thùy Vân và hai bạn thuê được một phòng trong một ngôi
biệt thự xinh xắn tọa lạc ở Phủ Cam Huế. Ngôi nhà này nằm trên con đường dài và
hẹp, gần nhà Thờ Phủ Cam. Xung quanh bao phủ bởi hàng dậu bằng cây chè tàu,
vườn trồng nhiều cây Samppuche, cây khế, cây bần
quân, đặc biệt có nhiều cây bồ kết, thân cây cao, lá nhỏ trông giống như lá me,
rũ xuống lung lay trứớc những ngọn gió thổi qua.Với nhiều tàng cây nặng trĩu
lặng lẽ vươn ra phủ xuống trên mái nhà, trên hành lang, trên lối đi, hai bên
hông nhà, những bậc tam cấp, trước hàng hiên. Có những cành cong xuống là đà
trứơc mặt bao lơn có thể đưa tay với tới, những tàng cây bồ kết làm dịu đi cơn
nắng gay gắt mùa hè. Những trái bồ kết còn xanh kết lại từng chùm, mỗi chùm
khỏang mười đến mười lăm trái, có hình dáng như trái phượng nhưng nhỏ hơn
nhiều, có nhiều hột, vào mùa này thì nó đang có màu xanh nhạt khi chín thì ngã
sang màu đen tuyền. Người dân miến Trung dùng trái bồ kết từ bao đời nay, nó
rất dễ dàng cho người phụ nữ khi gội đầu, chỉ cần bẻ nhỏ từng miếng bồ kết để
trong một cái thau, đổ ít nước nóng vào ngâm hoặc để vào thau nước phơi nắng
trong vòng ba mươi phút thì ta sẽ có nước gội đầu, hương nồng cay làm cho tóc
óng mượt và đen bóng, nó cũng còn trị dứt chứng gàu trên tóc.
Ngôi nhà được xây theo lối kiến trúc của Pháp, bằng
gạch nung đỏ, mái lợp ngói, với những cửa sổ lớn bằng kính có nhiều ô, rèm cửa
sổ màu trắng bằng vải ren, bên ngòai thêm một lớp cửa gỗ lá sách tạo cho căn
nhà ấm áp và sang trọng. Căn nhà chính có bốn
phòng ngũ rộng, đi lên bằng những bậc tam cấp, nối tiếp là bao lơn, một cửa ra vào bằng gỗ quý. Ở giữa nhà là
phòng khách với bộ ghế sopha bằng gỗ màu nâu sậm tiệp với các cánh cửa của các
phòng ngũ. Tường sơn màu trắng, trên tường treo những bức tranh cổ điển. Kế nhà
chính, là nhà bếp với những ngăn tủ* đựng đồ dùng cho việc nấu nướng và một bộ
bàn có tám cái ghế dùng làm bàn ăn, trên mặt bàn phủ một cái khăn màu ngọc trai
với những mũi thêu nổi lên những bông hoa hồng nhỏ. Đối diện với bàn ăn có một
cửa sổ rộng làm bằng kính trông ra vừờn sau nhà. Một giàn hoa thiên lý được làm
bằng tre, lọai hoa này dây leo, cây đâm nhánh tủa ra và leo lên giàn, lá nhỏ
màu xanh lục, bông hoa thơm ngào ngạt kết từng chùm nở hé nụ nhỏ màu vàng chanh
càng về khuya hương thơm tỏa đi khắp vườn, len qua khe cửa vào trong phòng mùi
hương thoang thỏang êm dịu. Đứng ở cửa sổ này có thể nhìn ra vườn rộng với
nhiều cây ăn trái, kế bên bếp là nhà vệ sinh và phòng tắm.
Nối tiếp nhà bếp bằng một hành lang dài có mái che, là một dãy nhà ngang, mái lợp tôn,
tường xây bằng gạch, có nhiều phòng mỗi phòng có cửa một cửa đi riêng và một
cửa sổ nhỏ, có lẽ trước đây dành cho những ngừơi giúp việc nhà ở, hiện nay thì
cho sinh viên thuê.
Khu vườn bên phải của ngôi biệt thự cũng có nhiều cây
dừa thân cây cao tàu lá dừa thỏng xuống, trái kết lại từng buồng. Gần hàng dậu
được trồng ít khóm thơm thi thỏang mới ra trái. Nhìn cách trưng bày của căn nhà
chứng tỏ chủ nhân là một người phụ nữ đảm đang.
Chủ nhân của căn biệt thự là chị Hà góa phụ của một
công chức sống với hai đứa con, một bé trai khỏang tám tuổi tên là: Huy, và một
bé gái năm tuổi tên là Hạnh. Chị Hà khỏang ba mươi tuổi, nhưng trông chị già
trước tuổi, đôi mắt to, với hàng my rậm có những vết quầng thâm do nhiều tháng
năm dài mất ngũ, nước da ngâm đen, mái tóc dài kẹp lại gọn gàng. Mỗi buổi sáng
trước khi đi làm chị đưa hai con vào trường học sau đó vội vã đến sở làm. Chị
làm kế tóan cho một ngân hàng tư nhân, dáng người mảnh khảnh với chiếc áo dài
màu tím hoa cà hay màu tím than, đôi khi màu đen, hiếm khi thấy chị mặc áo dài
màu sáng, có lẽ cuộc đời của chị quá u buồn khi mà cái chết của người chồng quá
cố đến một cách bất ngờ vào những năm trước.
Qua sự giới thiệu của chị Hà, nàng và hai bạn đều yên
tâm khi sống ở trong căn nhà này. Thùy Vân cùng hai bạn chuyển vào căn phòng trong ngôi
biệt thự xinh xắn, cả ba cô gái đều hài lòng với chỗ ở mới đầy đủ tiện nghi,
phòng ấm áp khi mùa đông và cũng mát mẽ khi mùa hè, khi trời mưa phùn đứng trên
bao lơn nhìn ra ngòai đường cảnh đẹp vô cùng với màn mưa giăng giăng rơi xuống
cây bồ kết, mưa giăng kín qua lối đi nhỏ vào sân vườn lát bằng bê tông sỏi,
những viên sỏi nhỏ màu trắng nhô lên, những nụ hoa hồng, hoa tường vy nở rộn
ràng trong nắng ban mai. Mỗi buổi sáng ba người bạn cùng nhau thả bộ đến trường
chỉ mất khỏang mười lăm phút, từ dốc Phú Cam qua cầu đi thẳng trên một con
đường làm bằng nhựa là đến trường.
Trường trung học Đồng Khánh Huế tọa lạc trên đường Lê Lợi, mặt tiền nhìn ra dòng sông Hương
trên một mãnh đất rộng bao bọc xung quanh với những bức tường xây bằng gạch cao
khỏang chừng hai mét quét vôi màu hồng đậm. Trường học được xây theo lối kiến
trúc Pháp với những dãy nhà lầu một tầng, một dãy lầu khỏang 12 phòng học rộng,
trần rất cao, cửa sổ kính, mái lợp ngói, sàn lát bằng gỗ dày. Có nhiều cây xanh
già cỗi theo năm tháng, những cây phượng, cây me, cây nhãn, làm bóng mát cho
sân trường… Trong sân trường có nhiều lối đi nhỏ tráng bằng xi măng, song song
những lối đi được trồng nhiều lọai hoa tùy theo mùa nở rộ, nhiều nhất là hoa
hồng, hoa tường vy, cẩm chứớng, hoa thược dược, được người phu trường chăm sóc
cẩn thận, bởi vậy ai đến thăm trường cũng tấm tắc khen ngợi, trông ngôi trường
thật đẹp và nên thơ.
Đường Lê Lợi rất rộng với những hàng me tây cao lớn,
có hai trường trung học nổi tiếng là Đồng Khánh và Quốc Học nằm song song với
nhau cùng nhìn ra bờ sông Hương với những cây phượng vỹ nở hoa rộn ràng khi mùa
hè đến, màu sắc đỏ au, rực rỡ biết bao!. Hai ngôi trường chỉ cách nhau một con
đường nhỏ, một ngôi trường dành cho nữ sinh, một trường dành cho nam sinh. Cũng
trên con đường này có Viện đại học Huế, thư viện, bệnh viện Trung Ương, trường
Đại học Luật Khoa,Trường đại học Văn Khoa và Khoa học. Cũng đi dọc theo đường
Lê Lợi này qua khỏi cầu Tràng Tiền phía bên phải là Trường Đại Học Sư Phạm,
trường Kiểu Mẫu, kế tiếp phía bên trái sát bờ sông có Khách sạn Hương Giang rất
nổi tiếng bởi vẽ đẹp kiêu kỳ của nó nằm bên dòng sông Hương lãng mạn nên
thơ.Tất cả các cơ sở này đều theo lối kiến trúc của Pháp. Con đường này là tiêu
biểu cho khu văn hóa, bên kia sông có con đường Trần Hưng Đạo, Đường Phan Bội
Châu, chợ Đông Ba tiêu biểu cho khu thương mại.
Thành phố Huế có ba cây cầu bắc qua sông Hương, Cầu
Tràng Tiền có sáu vài mười hai nhịp, sơn màu trắng bạc, cầu thứ hai, là cầu sắt
chỉ dùng riêng cho xe lửa, hai cây cầu làm từ thời Pháp thuộc, kiểu dáng theo
thiết kế của người Pháp. Để giảm bớt trọng tải cho cầu Tràng Tiên, vì nó đã bị
gãy một nhịp trong cuộc chiến năm Mậu Thân nên vào đầu thập niên 70 Huế đã có
thêm một cây cầu khác theo lối kiến trúc tân tiến hơn nhưng nó không đẹp bằng
cầu Trường Tiền gọi là cầu mới.
Trường Đồng Khánh được đặt tên của một vị vua triều
Nguyễn. Ngài lên ngôi năm 1885, lấy niên hiệu và Thụy
hiệu là Cảnh Tông-Thuần Hòang Đế,
làm vua được ba năm, mất ngày 28 tháng 1 năm 1888 vào tuổi 24 tuổi.
Mùa đông ở Huế thường thì mưa dầm và trời lạnh, cũng
rét buốt như ở Quảng Trị, nàng cùng hai bạn thường “cuốc bộ” đi học, nhiều lúc
trong cơn mưa tầm tã, nhiều lúc lạnh rét căm căm. Thùy Vân thật sự cô đơn và
trống vắng khi hai người bạn đã từ giã nàng để cùng gia đình đi định cư ở Hàm
Tân, thuộc tỉnh Bình Tuy theo chương trình di dân khai
hoang lập ấp của chính phủ dành cho đồng bào Quảng Trị đã không còn chỗ để hồi
cư. Đó là vào giữa tháng 12 năm 1973.
Mùa hè đã đến, những con ve sầu ở trên những tàng cây
trong sân trường kêu lên theo từng điệp khúc, một con ve xướng lên khúc nhạc;
thế rồi hằng ngàn con ve khác cùng đáp lại một nhịp điệu kêu lên thật lâu không
dứt tiếng, thật là ồn ào, nhiều lúc thầy phải ngưng giảng bài vì học sinh không
nghe được. Lớp học 12C2 của nàng là phòng cuối trên dãy lầu phía bên trái của
trường, cửa sổ mở rộng nhìn ra khỏang không gian bên ngòai có những cây nhãn,
cây phượng cao lên đến lớp học, lũ ve trốn trong những vỏ cây, nằm ép mình
trong những chiếc lá. Người ta nói con ve từ lúc ấu trùng nằm trong vỏ cây là
15 năm mới trưởng thành phát được tiếng kêu trong mùa hè đó….
Mùa thi Tú tài đã qua và Thùy Vân đã thi
đậu, còn nổi vui mừng nào hơn, mười hai năm, quả là một khỏang thời gian quá
dài của một người học trò cặm cụi với đèn sách, cơm áo cha mẹ cho đi học, biết
bao thứ mà cha mẹ phải lo lắng, để khỏi buồn lòng cha mẹ với quyết tâm thi đậu
tú tài nay đã đạt.
Thùy Vân trở về Thị tứ Hải Lăng, Quảng Trị, nơi gia
đình nàng về hồi cư vào đầu tháng sáu vừa qua. Đây là một bãi đất cát trắng,
không có cây xanh, người ta đổ thêm đất đỏ Ba-zan để làm những con đường chạy
song song với nhau, trên những con đường dài này, những ngôi nhà được cất lên
theo kiểu tiền chế, mái lợp tôn dợn sóng, vách bằng gỗ thông, nền nhà chưa được
tráng xi măng, nó là nền đất nên nhiều bụi bặm, nhà nàng nhìn ra đường quốc lộ
1. Đêm đêm những con đôm đốm bay lập lòe trong màn đêm tối thẩm.
Một tỉnh lỵ Quảng Trị được thu nhỏ được xây dựng lại trên vùng đất
mới gồm có chợ và trường học, cư xá công chức, chùa và nhà thờ ...
Ba nàng đã về hưu. Giờ đây ba nàng không biết làm gì
cho hết thời gian. Những ngày hè ở đây dài thê lê, nắng gay gắt, gió Lào thổi
xuống bãi cát nóng bỏng.
Mùa hè, những cơn gió Lào từ dãy núi Trường Sơn thổi xuống,
những ngọn gió nóng làm rát mặt, gió mang theo cát và hơi nóng làm cho ai cũng
không muốn ra khỏi nhà nhưng Ba nàng không chịu ngồi ở không trong căn nhà tôn
thấp và nóng, ba nàng đi lên rú để chặt gốc sim về làm củi nấu nướng, và rồi ba
chị em nàng cũng theo ba lên rú. Từ bãi cát Thị Tứ đi bộ băng qua đường Quốc Lộ
1, có một đường mòn nhỏ, theo con đường mòn này đi miết khỏang một dặm thì đến
một triền dốc rộng mênh mông tòan là những bụi sim mọc lấp xấp trên nền cát
trắng xám, bên những cây cỏ dại, mùa hè hoa sim trổ bông màu tím ngan ngát,
những cánh hoa tím bàng bạc lấp lánh sương đêm còn đọng lại đẹp vô cùng dưới
bầu trời trong xanh của buổi sáng sớm làm cho tâm hồn nàng êm ái lạ thường,
nàng hít thở không khí trong lành. Ba nàng bới những gốc sim, chị em nàng mổi
người chặt cây sim ra từng nhánh nhỏ rồi bó lại từng bó. Ba nàng mồ hôi đẫm ướt
tấm lưng, làn da vốn đã màu bánh mật nay lại càng nâu sậm hơn, các chị em nàng
đều thương và kính trọng ba.
Dưới ánh nắng chói chang của bầu trời miền Trung, trên
đôi vai nặng trĩu họ trở về nhà khi trời đã quá trưa, để lại sau lưng nắng vẫn
còn trên đồi sim, nàng thích vẻ đẹp hoang dại của núi đồi, những ngày trôi qua
trên đồi sim nàng cảm thấy vui hơn ở nhà. Cả tháng nay, cứ mỗi buổi sáng sớm
khi ánh dương vừa ló dạng cả bốn cha con lên rú, Thùy Vân và hai em hóa trang
bằng cách mặc chiếc áo lính trận màu xanh sậm, chiếc nón lá đội xụp cùng với
mạng che mặt không ai biết đó là ba chị em nàng.
Hôm nay là ngày
cuối cùng của một tháng chặt củi sim vì còn mấy ngày nữa chị em nàng phải trở
lại trường học cho niên khóa mới năm 1974-1975. Củi sim, gánh về phơi khô chất
đầy trong căn nhà bếp, đó là thành quả lao động của họ
trong một thời gian ngắn, chị em nàng rất vui khi đã làm được việc để Ba mình
được vui lòng.
Mỗi buối sáng, ba nàng thường ngồi một mình trên bộ
bàn có sáu ghế đặt ở giữa ngôi nhà nhìn ra ngòai trời với khỏang không gian
truớc mà lo âu suy nghĩ: “Cuộc sống ở đây
quá tạm bợ với căn nhà tôn vách ván trên bãi cát chơ vơ, làm gi để sinh sống,
đất cát bạc thếch không có màu mỡ để trồng trọt cuối cùng người đi đến quyết
định: Vào Nam tìm miền đất mới.”
Mùa hè qua đi,
mùa thu lại đến, các em của nàng đã trở lại trường học, trường Nguyễn Hòang
được tọa lạc trên một khuôn viên rộng, trường vừa xây dựng xong, rộng rãi và
thóang mát có tầng lầu và ban công rất đẹp, các em nàng rất thích thú khi được
trở về trên quê hương, học trên mái trường thân yêu cùng thầy cô và bè bạn cũ.
Thùy Vân trở lại Huế để ghi danh học Luật tại trường
ĐH Luật khoa Huế, nàng hy vọng sau này sẽ xin được một việc làm trong một ngân
hàng tư nhân, nếu có được hai chứng chỉ về môn kinh tế của trường Luật. Nàng
vẫn ở lại trong căn phòng trọ của ngôi biệt thự ở Phú cam, chỉ có một mình
thôi, không có bạn cùng phòng. Nàng phải chi tiêu dè xẻn vì số tiền mẹ cho quá
ít ỏi, không dám mua gì ngòai thức ăn và trả tiền phòng. Một buổi sáng đến
giảng đường, nàng gặp lại người bạn học cùng lớp 12, cô ấy tên là Lan Anh nhà ở
đường Phan Đình Phùng, nên giờ đây nàng có bạn để đi học vào buổi sáng, trưa về
trên cùng một con đường.
Thuỳ Vân trở về Thị tứ Quảng Trị vào dịp lễ Noel năm
1974, Vân trả lại phòng trọ cho chị Hà, giã từ trường Luật, từ giã người bạn
gái Lan Anh, giã từ đường Lê Lợi với những buổi tan trường với nắng vàng loang
đỗ, hàng cây me tây rợp bóng, đường Lê Lợi thân thiêt quá!. Gia đình nàng không
còn ở lại Quảng Trị mà sẽ vào miền Nam sinh sống trong một vài tháng
tới.
Đó là một ngày cuối năm thời tiết se lạnh nhưng có
nắng hanh vàng, trong một bữa tiệc đám cưới của chị Lê người cùng xóm ngày
trước ở Quảng Trị. Đám cưới chị Lê và anh Khánh tổ chức trong căn nhà chỉ có
bốn bàn cho hai họ, Thùy Vân gặp một người đàn ông, anh ta chững chạc với chiếc áo sơ mi màu xanh, quần tây màu nâu nhạt,
mang đôi dày màu nâu, chiếc áo lạnh bằng da màu xám, trông anh rất lịch thiệp,
anh ấy cao lớn, nước da trắng, chiếc mũi cao, vầng trán rộng, đôi mắt sáng. Anh
ấy đến bên Vân và làm quen.
-Chào cô bé, cô bé học trường Nguyễn Hòang phải không?
- Dạ, không, tôi học ở Huế.
- Cô bé học trường nào?
- Dạ, Trường Luật.
- Tôi có thể biết được tên cô không?
- Dạ, tên Thùy Vân.,
-Tên rất đẹp
-Vân gọi tôi là Huy
-Dạ vâng.
- Nhà Thùy Vân ở đâu?
- Dạ, phường đệ tam.
-Khi nào có dịp tôi sẽ đến thăm.
Tết năm Ất Mão năm 1975
Ngòai trời mưa phùn và gió lạnh, hai cô em gái: Thùy
Hương và Thảo Nguyên che dù đi chúc tết bà con và bạn bè, không khí Tết có vẽ
ảm đạm như bầu trời mưa phùn ngòai kia khiến cho nàng không muốn đi đâu hết.
Ngồi một mình trong căn phòng bé nhỏ của bốn chị em nàng, suy nghĩ vẫn vơ đến
nhiều chuyện. Người thanh niên mà nàng đã gặp trong dịp đám cưới chị Lê.
Huy đến thăm nhà nàng trong dịp tết cổ truyền vào buổi
tối ngày mùng hai tết, nàng cũng chưa biết được anh đang học trường nào hoặc
làm gì, ba mẹ nàng nói chuyện với anh rất là hợp ý, thế rồi, vào cuối tuần anh
thường đến nhà chơi, thỉnh thỏang xin phép mẹ cho nàng ra ngòai quán uống nước,
ngồi nói chuyện ở những quán cà phê nhỏ ở ven đường, thị Tứ này bây giờ chưa có
điện, bởi vậy không có đèn đường, đường sá tối căm, nhà nhà thắp đèn dầu, ánh
sáng le lói hắt qua khe cửa sổ.
Chị Quỳnh Hoa trở lại trường học sau hơn một tuần về
nhà ăn tết. Chị vẫn ở lại Huế học cho đến khi ra trừong, truờng có khu nội trú
nên mẹ không lo lắng nhiều mỗi khi gia đình chuyển vào Nam sinh sống.
Vầng trăng tròn mười sáu nhẹ nhàng tỏa sáng, Huy và
nàng sóng bước bên nhau dưới ánh trăng soi sáng vằng vặc xuống những mái tôn
dợn sóng bàng bạc, rọi xuống những con đường đất đỏ Bazan, cảnh trí ấy thật mờ
ảo như một màn sương mù của buổi sáng mùa thu này nào ở tỉnh lỵ Quảng Trị thuở xưa.
Hai người đi xuyên qua khu chợ của thị xã để đưa Vân về nhà, dưới chân cát
trắng xóa cùng với ánh trăng tạo nên một khung cảnh nên thơ. Vân trong bộ đồ
tây, áo sơ mi màu trắng ngắn tay, quần tây màu hồng nhạt, khóac thêm một chiếc
áo len màu hồng phấn trông nàng xinh hơn, dịu dàng hơn, nàng yên lặng đi bên
anh, ánh trăng thượng tuần chiếu sáng khắp bầu không gian yên tỉnh đến lạ
thường, cả khu Thị Tứ đang chìm đắm trong giấc ngũ, chỉ mới chín giờ đêm thôi
mà mọi nhà đều cửa đóng im lìm, trông nơi đây như là một tiền đồn heo hút nào
đó, hay một vùng sa mạc hoang vu, cảnh vật quá lạnh lẽo, quá cô đơn và buồn tẽ.
Sao tự dưng tỉnh lại cho dân về định cư nơi đây, bởi chỉ cách quốc lộ một
khỏang chừng 700 mét, bên kia đường quốc lộ là những dãy mồ hoang lớp lớp của
những nạn nhân chết trong chiến sự mùa
hè năm 1972, nàng suy nghĩ mà không thể hiểu được. Tại sao?
-Về nhà thôi anh, ngày mai gia đình em vào miền Nam, anh đừng
đến tiễn nhé! Thùy Vân nói nhỏ.
Huy nắm tay nàng xiết chặt và dặn dò:
-Thùy Vân nhớ giủ gìn sức khỏe, anh sẽ thường viết thư
cho em.
-Dạ, em hiểu.
Di chuyển vào Nam.
Đó là ngày mùng 3 tháng 3 năm 1975 cả gia đình nàng
lên xe đi vào Sài Gòn, đúng như ba nàng đã định, sau hai ngày xe chạy và ngừng
để nghĩ qua đêm tại phòng trọ, cuối cùng gia đình nàng đã đến Long Thành bình
yên. Ngòai vườn, nắng đã lên cao trên những cây chôm chôm đầu mùa trĩu quả, cuộc
sống mới của gia đình nàng trên một mảnh vườn rộng với một căn nhà nhỏ.
Savannah, ngày
9/4/2012
DTBD.
* Cabinet
Học trò cũ lớp 11C - NK 1972-1973 Non nước Đà Nẵng thăm thầy Đào Văn Nhẫn
Từ trái sang:
Đoàn Thị
Hoa- Đinh Thị Ngọc Chung- Võ Thị kiều Minh- Nguyễn Thị Hoa- thầy Đào Văn Nhẫn-
Trần Thị Nghĩa- Dương Thị Bích Đào anh
Thi, anh Lộc
Dưới đây là bài viết và là lá thư mà NH.Nguyễn Thị Đức ở Minnesota và Thầy Lê Hữu Thăng gặp nhau sau 30 năm;
cũng từ từ cuốn NHCDKN Thầy mang qua trò mới biết được thông tin Thầy cô và trường xưa
bạn cũ .
KỶ NIỆM
CHS
NH. Nguyễn Thị Đức
Lớp: Lục 5-Tứ 5- 10-11C;
K 1967-1974
Email Dianenguyen209@yahoo.com
" Hai tô bún bò Huế bốc
khói thơm ngát mùi sả được đặt xuống bàn, tôi nhìn mấy miếng huyết
ngon lành, miếng chả Huế nho nhỏ tăng thêm nét quyến rũ bên cạnh mấy
lát thịt bò hấp dẫn, đó là món ăn bất cứ lúc nào vào quán ...phở
nổi tiếng này tôi không thể không thưởng thức. Dĩ nhiên ăn một mình
không ngon, không vui nên phải có bạn để đi cùng thưởng thức
chung. Cũng nhờ món bún bò Huế mà tôi được tìm lại bao nhiêu là
Thầy Cô ngày xưa, tìm lại được bao nhiêu là bạn bè thân mến một thời
áo trắng dưới mái trường Nguyễn Hoàng thân yêu.
Rất nhiều lần
vào quán Phở này để ăn, nhưng tôi phải nói bao nhiêu lời để cám ơn
một người Thầy đáng kính, Thầy đã cho tôi cơ hội để tìm về kỷ niệm
ngày xa xưa tưởng như đã nhạt nhòa trong ký ức vì chiến tranh
tao loạn, người còn kẻ mất, trải qua bao nhiêu đắng cay nghiệt ngã của
cuộc đời, người Thầy cao cả và đáng kính đó là Thầy Lê Hưũ Thăng, người
thầy đã trao tận tay cho tôi cuốn "chân dung và kỷ niệm" tại
tiệm Phở, nơi có món bún bò Huế luôn quyến rũ bao tử của tôi mỗi lần
đói bụng muốn đi ra ngoài ăn. Tôi còn nhớ rất rõ ràng, Thầy đưa lại
cho tôi số tiền tôi ủng hộ cho cuốn "chân dung và kỷ niệm" từ
Việt nam gởi sang, thầy nói: “Giá tiền VN mà tôi cứ tưởng giá tiền
ở Mỹ” nên Thầy không... nỡ nhận quá nhiều như tôi đã nghe lầm. Tôi vui
mừng đọc ngấu nghiến từ trang mở đầu cho đến trang cuối,đọc từ lời
ngõ, lời cảm tạ cũa chị Quỳnh, đọc hết các bài của Thầy cô, đọc
hết các bài của các anh chị lớp lớn... ghi chép hết những điạ chỉ, số
điện thoại của Thầy cô ở VN cũng như ở nước ngoài.
Ở xứ người luôn chạy đua với
cuộc sống, thời gian có khi không đủ để chăm sóc cho chính bản thân
mình, không đủ để chăm sóc người thân bên cạnh, có khi nhớ đến người
thân bên quê nhà cũng không có cơ hội để thăm hỏi qua điện thọai,
qua thư từ… cứ nhủ lòng hẹn lòng rằng...ngày mai ,cuối tuần này,rồi
lại ngày ..mai rồi quên đi ,rồi cuối tuần sau...
Đã bao nhiêu lần tôi đã khóc
thầm và xin lỗi âm thầm trong tim rằng tôi vẩn nh́ớ, tôi vẩn nhớ, tôi
không thể nào quên. Tôi không thể nào quên nơi tôi được sinh ra và
lớn lên, dù nơi đó "muà đông
thiếu aó, muà hè thì thiếu ăn; đã vậy trời còn hành cơn lụt mỗi
năm..."; tôi không thể nào quên nơi tôi được nuôi lớn bằng giòng
nước trong lành của một giòng sông, tên của giòng sông mà dù đi đến
phương trời xa xôi nào, những người đã từng uống nước của giòng sông
sẽ nhớ mãi mãi; đó là giòng sông "Thạch Hãn".
Người Quảng Trị mình khổ cực
gian nan vất vả, đổ mồ hôi đã đành, đá cũng đổ mồ hôi…Tôi cũng không
thể nào quên ngôi trường tôi đã được học những chũ đầu tiên a,b,c,đã
được học đếm những con số đầu tiên một,hai .ba....ở trường nữ tiểu
học. Tuổi ấu thơ, tôi không hiều tại sao đêm đêm có tiếng súng, tiếng
đại bác, các chú lính gác bên cổ thành Quảng Trị, bên giao thông hào
rào nhiều kẻm gai và nhiều buổi sáng cắp sách đi học, tôi thấy
có nhiểu xác chết vắt vưỡng trên thành kẻm gai, nhiều xác chết đã
được kéo nằm̀ dài ngoài đường, nghe nói hồi tối có bắn nhau? Bắn
nhau? Tôi còn nhỏ không hiểu tại sao lại bắn nhau và bị chết? Tối
tối đang ngũ bị kêu dậy để tản cư lên trên phố tránh nạn. Tối đang
ngũ bị kêu dậy để chạy vào hầm tránh đạn hai bên bắn nhau. Còn nhỏ
tôi không hiểu tại sao hai bên bắn nhau. Cũng không hiểu hết hai chữ
“chiến tranh”.
Chiều chiều đối diện cổ
thành Quảng Trị, có nhiều cô, nhiều chị, nhiều bác gào khóc thảm
thiết, ôm quan tài có phủ cờ...Tôi nghe nói Cha chết, chồng chết
vì.hai bên.đánh nhau. Sáng sáng có nhiều xác người chết ngoài giao
thông hào vì họ muốn trèo vào Cổ thành ... cứ thế tuổi thơ đi qua
với chết chóc mất mát, sợ hãi vì giấc ngũ không tròn, có những năm
lụt lội, thiêú ăn, lạnh gía. Khi có đủ trí khôn để hiểu quê hương
mình ở địa đầu giới tuyến, chiến tranh liên miên hai miền Nam Bắc chia
đôi thì cũng đến lúc cuộc chiến lan tràn, muà hè đỏ lửa làm tan
nát bao nhiêu hy vọng cũa bao nhiêu đời người. Ra đi, xa lìa nơi chôn
nhau cắt rún có ai mà khỏi rơi lệ? Ra đi xa lìa mái trường một thời
Thầy cô đã dày công giảng dạy, đầu tư đầy
đủ kiến thức, có đủ đạo đức làm hành trang mang vào đời để truyền
thụ cho nhiều thế hê mai sau. Ra đi đau xót như vậy! có mấy ai quên? Không
thể nào quên quê hương dấu yêu, không thể nào quên từng con đường thường
ngày đi qua và ôm cặp đến trường với nhiều mộng ước cũa mai sau; không
thể nào quên máí trường Nguyễn Hoàng bao nhiêu năm gắn bó, bao nhiêu
ngàn ngày với nhiều kỷ niệm thân yêu với Thầy cô, với bạn bè …dù cho
gần bốn mươi năm xa cách, chia lìa vẫn rộn ràng trong tim những kỷ
niệm xa xưa, tưởng như vẫn còn vương mãi đâu đây. Bụi phấn, bảng
đen, phượng đỏ trong sân trường…Nhớ thương kỷ niệm cho đến cuối đời một đời người
chắc chắn chúng ta ai đã từng ngồi
trong ghế trường NH thân yêu, đã uống giòng nước trong lành giòng
sông Thạch Hãn; mãi luôn trân trọng ký ức đó mãi
mãi, không chỉ nhớ và nhắc lại trong mỗi lần hội ngộ; không
chỉ gặp gỡ trong mỗi lần gặp mặt, tiệc trà hàng năm hay định kỳ của mỗi
tỉnh, của mỗi thành phố, mà sâu thẳm trong tim vẫn thổn thức, vẫn mong
ước có dịp phải tìm về với nhau... dù xa hay dù gần, ở trong nước
hay ở nước ngoài. Chúng ta luôn trân trọng kỷ niệm và luôn khao
khát tình thân. Trân trọng kỷ niệm và khao khát tì̀nh thân đó để cho
con cháu ngày sau biết noi gương và sống xứng đáng hơn nữa vì đã
được thừa hưởng một gia tài vô giá từ mái trường ..Nguyễn Hoàng…Sáu
mươi năm vẫn sống mãi hoài trong lòng mọi người Quảng Trị dấu yêu.
NTĐ - 3/2012
Kính Thưa Thầy,
Từ
ngày con trở về lại Minnesota
cũng đã vài năm em chưa gặp laị Thầy cô và Tuấn...nhưng con chắc chắn
Thầy không quên "..cái mặt "của em đâu phải không thưa thầy quý
mến? Em là Nguyễn thị ̣Đức nè, em luôn nhớ hồi đi học còn nhỏ ở
trường Nguyễn Hoàng, Thầy cầm một cây roi đi trong hành lang trường
học để...trị tội mấy anh, mấy chị học trò "ma
,quỷ"...Cũng đã hơn bốn mươi năm rồi, các anh đó bây giờ đã
là Bác sĩ ,kỷ sư, thầy cô giáo, cũng đã là ông bà nội ,ông bà
Ngoại…Nhưng cứ mỗi lần hội ngộ NH thì ai ai cũng sống lại hồn nhiên
với kỷ niệm ngày xưa tưởng như thời gian chưa bao giờ thay đổi...
Thầy còn nhớ mấy năm trước ở
Colorado, Denver, Thầy trò thỉnh thoảng gặp nhau bên đó; thật quý hoá vô cùng, nhất là lần sau
cùng em đến tiệm Phở số 1 của Tuấn để ăn sáng. Với tô “bún bò Huế”
tuyệt vời, tuyệt vời nhất là lúc Thầy hỏi "Đức có biết chị
Quỳnh, chị Võ thị Quỳnh không"; em trả lời "dạ em
biết..". Thầy vào bên trong, sau đó Thầy đưa cho em một cuốn sách
với tựa đề "chân dung và kỷ niệm" về trường Nguyễn
Hoàng...chỉ nghe về trường NH là tim rộn ràng xao xuyến, huống gì có
nguyên một cuốn sách với bao nhiêu bài vở hay của nhiều thầy cô, anh
chị và bạn hữu đã dồn hết bao nhiêu là tâm huyết viết, đóng góp bài vào
cuốn sách để đời đó.
Thầy thật tế nhị đưa lá thư
ngỏ của chị Quỳnh cho em đọc chứ Thầy không nói em mua sách ủng hộ;
Em mừng lắm! muốn ủng hộ
nhưng lúc đó em không biết bao nhiêu để nhờ Thầy mua cho con một cuốn.
Thầy nói "bảy mươi ngàn
đồng.
" Em tưởng là "bảy mươi
..đồng";
Vì em nghe không rõ nên em đưa
bảy mươi dollar ủng hộ cho tập san, nhưng Thầy đưa lại cho em 50
dollar,
Thầy nói "bảy chục ngàn
đồng bên VN thì chỉ có hai mươi dollar mà thôi.
"Em cám ơn Thầy rất
nhiều, nhờ Thầy tâm huyết với trường Nguyễn Hoàng, với học trò, mà mấy năm nay em đã liên lạc được với rất
nhiều Thầy cô, nhiều bạn thân đã lạc mất nhau, biền biệt mấy mươi
năm, giờ liên lạc được với nhiều bà con, anh chị em họ ở Quảng Trị lạc nhau từ thuở chiến cuộc
Quảng trị xảy ra.Vậy mà nay liên lạc được với nhau chưa lâu thì vừa qua anh
Trương Đá là CHS NH( là anh họ của em) đã ra đi ngàn thu vì căn bệnh
bệnh ung thư, anh Lê Giồng tàn tật đôi chân vì chiến tranh nay lại bị
bệnh K ác tính đang ở bệnh viện chợ Rẩy.
Cũng nhờ "NH chân dung và
kỷ niệm " mà hiện nay tình tương thân, tương trợ cho nhau càng mặn
nồng, tình nghĩa keo sơn hơn; khi "lá lành biết đùm lá rách"
và cũng có khi "lá rách ..đùm lá tả tơi".. thật vô cùng cảm
động. Cũng nhờ "chân dung và kỷ niệm" mà có nhiều... mối
tình thơ ngây sống lại khi tóc bạc phai màu...an uỉ nhau khi
hoàng hôn sương chiều lãng đãng...
Em cũng biết Thầy Cô giàu
lòng nhân ái, tiếp sức giúp nhiều con em nghèo khổ xứ mình; nghĩa cử
cao đẹp của Thầy Cô, ngày sau hậu thế noi gương và tri ân, tạc dạ...
Em không rõ bi chừ Thầy cô còn
ở bên Denver
hay đã về VN ở . Em thì đã về luôn bên Minnesota, mở lại
một tiệm Nails nhỏ đủ trang trãi sống vui qua ngày.Tuy tuổi đã lớn dẫu
tóc đã bạc, lưng hơi còng, mắt kém nhưng sáng mô thức giấc dậy còn
"đi cày";được đi cày là hạnh phúc lắm rồi phải không Thầy ha?
Hiện tại em sống một mình nhưng lại gần guĩ con cháu xung quanh nên cũng
hạnh phúc. Vài năm nữa là bước vào tuổi sáu mươi, nghe đến tuổi đó sao
mà..buồn chi lạ đó Thầy.
Thưa thầy, Đoàn Thị Hoa, Lê Thị
Bích Lan, Võ thị Kiều Minh, Ngô Thị Mỹ, Nguyễn Thị Cẩm Vân, Dương Thị Bích Đào,
Đinh Thị Ngọc Chung và Văn Thiên Tùng, Nguyễn Đăng Mẫn… đều là bạn học NH
ngày xưa chung lớp chung trường. Nhờ "chân dung và kỷ niệm" từ
Thầy chuyển qua mà em liên lạc được
với các bạn, Bấy lâu nay các bạn cứ tưởng là: “Em, Nguyễn Thị Đức...đã
chết trong chiến tranh rồi… vì mất tin, vắng bóng; ai ngờ Đức qua Mỹ gần
hai mươi năm nay. Qua Mỹ sanh con đẻ cái, cày đầu tắt, mắt tối thui…
đâu còn biết gì hơn ngoài hai chữ hai chữ "bình an".
Cho em kính lời thăm sức khỏe
Thầy Cô ,khỏe mạnh để Thầy cô còn giúp người, giúp đời. Cho em hỏi
thăm Tuấn và chúc Tuấn làm ăn phát tài - gia đình hạnh phúc.
Đến nay, già rồi cũng thảnh
thơi một chút cho bản thân và cho người thân. Em tạm ngừng vì thư
cũng dài...dòng cũng lắm rồi, Em sợ Thầy đọc ..mỏi mắt lại rầy la
em…Lần nữa em kính chúc Thầy Cô cùng gia đình an khỏe!.
Kính Thư
Em : Nguyễn Thị Đức
SÔNG QUÊ
CHSNH.Đoàn Thị
Hoa- SN 1954
K 67-74- Ban C
Quê gốc : Đâu
Kênh- Triệu Long- Triệu Phong- Quảng Trị
Hiện ở : 28,
Lê Lợi Lagi- Bình Thuận
ĐT: 062 3844
826- DD 0934 843 049
(Kỷ niệm ngày
trở về quê xưa và thân tặng các bạn: Văn Thiên Tùng& Man; Nguyễn Đình
Hướng, Trần Sanh, Ngọc Mân, Ngô Mỹ, Cao Hoa, Cao Châu, Phước Duyên, Kim Hải,
Hồng Hải, Bích Lan, Đức Hoa, Băng Tâm, Lương Duyên, Ngọc Lan, Ngọc Kỳ…)
Đêm nay nghe
ca sĩ Thanh Lam hát
“ Dòng sông lơ đãng”
Chợt nhớ về
con sông quê
Hơn ba năm
trời
Mới trở về
quê cũ
Đêm- bên dòng
Thạch Hãn
Ly cà phê-
cùng bạn bè xưa cũ
Râm ran
chuyện trò
Đêm thật bình
yên
Không còn
súng đạn
Không còn
chiến tranh
Bầu trời lồng
lộng
Sao trời lấp lánh
Trăng gầy mờ ảo
Gió tải lời đi muôn hướng
Đêm mông lung- mênh mông sông
nước
Vương mang kỷ niệm của một thời:
“ Chèo đò bẻ bắp bên sông
Bắp chưa có trái bẻ bông chèo về”
Cả sáng lẫn chiều- cùng bạn bè
Rong ruổi trên những nẻo đường
quê
Qua bao làng, bao xóm, bao thôn
Bao sông, bao suối, bao khe.
Mà trước đây tôi chỉ nghe tên
Trong những cây chuyện kể.
Cả những con sông lần đầu được
gặp
Ô Lâu- Vĩnh Định- Hiếu Giang
Được biết qua các tập san Nguyễn Hoàng
Đi thuyền trên sông Son
Tham quan động Phong Nha- Kẻ
Bàng
“Tất cả các dòng sông đều chảy”
Vâng, đúng thế, sông ơi!
Con sông quê tôi
Vẫn mang dòng chảy ra biển
Miên man triền nhớ
Mang theo cả tình cảm sâu sắc
Được ấp ủ trong những ngày xa xứ
Hòa nhập cùng biển lớn
Chia sẻ vui buồn- sướng khổ- nhớ
mong
Cửa Tùng biển Lớn- sóng xô bồ
Địa đạo Vịnh Mốc - Vĩnh Linh
Trằm Trà Lộc - bạn bè hội ngộ
Thánh địa La vang, không còn đồi
núi
Những trái sin tím- chỉ là trong
trí nhớ
Đà Nẵng- sông Hàn- chợ Cồn
Phố Hội An- bún mẵn- Cao Lầu
Những sáng, những chiều, những
tối
Rồi ngày mai trên đường về Nam
Mang theo tình thân ái- bạn bè
một thuở
Mang theo cả dáng dấp con sông
quê
Đường Gia Long xưa- giờ thênh
thang rộng mở
Cổ Thành Quảng Trị- dáng xưa
không còn
Phố xá đổi thay
Vườn xưa nhà cũ- chưa tìm thấy
Đã vội vàng chân bước đi xa
Lòng hẹn ngày về
Thôi thì đành vậy
Sông ơi! Chào nhé!
Lagi, 02/8/2009- ĐTH
Văn Thiên Tùng,Nguyễn Văn Anh,Trần Chí Trung,Nguyễn Thị Hoa,Đoàn Thị Hoa,Ngọc Chung, V.T.Kiều Minh
( Địa đạo Vịnh Mốc- vĩnh Linh Tùng- Đoàn Hoa- Trần Sanh- Trần Đình Hướng- Lê Thị Mân- Man- Ngô Thị Mỹ)