Hiển thị các bài đăng có nhãn NGUYỄN ĐĂNG MỪNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGUYỄN ĐĂNG MỪNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2010

MAI PHƯƠNG NAM

MAI PHƯƠNG NAM
Mai phương Nam
Trời ơi Mai Phương Nam
Nắng nôi bao ngày rồi
Chưa dám nở
Chưa dám nở vì chưa đến giao thừa
 Hoa tự ngậm mình chờ sương
Chờ ANH
Chờ nước
Đêm giao thừa anh đi đâu
ĐỂ Hoa vượt cạn một mình
NỞ
Môi ai cười
Vàng chi vàng lắm rứa.
Trời ơi!
Em đâu là hoa phương Bắc
Ba mùa nắng mưa
Một mùa  tự nở
  
Để mùa xuân khề khà
Hát ngô nghê bài xuân.
NĐM 02/09

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2009

Vừa trôi vừa nở-NĐM

LỤc bình mơ ưỚc
                        Nguyễn Đặng Mừng
   Lục bình trôi và sống. Hôm nào đó bị tấp vào bờ, vài ngày không có nước là khô đi rồi chết. Lê Đăng Châm bạn chúng  tôi ưa làm lục bình từ nhỏ, thích lang bạt kỳ hồ như những nhân vật  trong truyện kiếm hiệp. Lục bình trôi và nở hoa, không thèm cọng sinh như phong lan.  Lê Đăng Châm tốt với mọi người, không toan tính, thậm chí nhiều khi quên cả khó khăn của của gia đình.  Có  khi  tôi và Trị trách Châm thiếu trách nhiệm với vợ con, nhưng nghĩ lại vậy mới là Lê Đăng Châm. Vừa rồi Châm điện thoại bảo, mệt quá rồi, muốn dừng chân thôi. Không biết lục bình có chịu dừng chân chưa!


Năm 2001.  Nguyễn Văn Trị gọi điện báo vợ chồng Lê Đăng Châm gửi thiệp mời đám cưới cháu gái đầu Như Quý.  Thấy cái thiệp để địa chỉ là thị trấn Long Xuyên,định gửi ít tiền mừng cháu thôi. Làm sao bỏ công việc đi hàng trăm cây số về đám cưới con gái bạn. Đi về mất ít nhất 3 ngày. Đang lưỡng lự thì Trị gọi điện bảo, “Mi và tao phải đi. Châm cần quà cho cháu, nhưng cái nó cần hơn là tình bạn. Nó ở đó một mình không bạn bè, bà con. Liều đi một chuyến, có chi tau phụ cho”. Tôi  bảo với Trị, tau chỉ đủ tiền xe đò và quà biếu, còn lại mi lo. Nó nói tốt tốt, phải rứa chơ, 10 C mà. Phút cuối Trị bảo mi hên, có em bà con của Châm đi cùng chuyến, hẹn rồi.  Tôi nói mi hên, tau không hên, cho mi ngồi gần em của Châm đó.
Chuyến xe khởi hành khoảng 5g sáng. Em Châm xưng tên là chi đó lâu rồi tôi quên mất.  Và ăn nói rất … lạnh lùng. Một cách “phòng thủ từ xa của” “O”  phụ nữ Quảng Trị. Thế nên dù NVT ngồi gần cũng chẳng biết bắt chuyện chi cho đoạn đường ngắn lại.  Tôi lại hên, cạnh tôi có một em miền Tây lý lắc, có vẽ như đang sống ở Sài Gòn về thăm quê, sẵn sàng bắt chuyện và kể về Long Xuyên của cô ấy.  Cái gì trên lý thuyết cũng hay hơn thực tế, nhất là mình đến một xứ mà được giới thiệu từ người bản xứ. Qua câu chuyện của cô gái đất Long Xuyên thật ấn tượng. Cô ấy kết câu chuyện về quê của mình bằng tiếng thở dài. Cô bảo đó là chuyện xưa, nghe má kể. Còn chừ thì tôm cá cũng ít lắm anh à. Con gái ngày xưa dưới quê em  đẹp lắm, bây giờ cũng đẹp nhưng đứa nào đẹp là “lên đường”. Một là lấy Đài Loan hai là lên sài gòn “học nghề, mần nghề” hết trơn.
  Đoạn đường hơn hai trăm cây số về Long Xuyên, qua Bắc Vàm Cống. Lên bờ một đoạn đã thấy Châm ra đón. Tụi mình xin Châm cho về Khách Sạn tắm rửa, xong  chiều đến nhà Châm.  Châm bảo phải đến ngay cho cả nhà mừng rồi lên khách sạn cũng không muộn.  Ngồi trên chiếc xe lôi Châm chở lúc lắc qua nhiều hẻm, lội qua một đoạn đường ngập nước đất thì đến nhà.


Nhà châm, đúng hơn là căn chòi tuyềnh toàng bên bờ kênh. Châm kể mùa nước nỗi lên tới lút giường, dấu tích còn đóng váng trên vách ván.  Châm vui lắm, la toáng lên mời cả nhà ra chào hai bác từ Sài Gòn Dzìa Đám cưới chị Ba. Châm lăng quăng hết ôm Trị lại ôm tôi, bảo tưởng mấy bác không về. Dzậy là vzui rồi.
  Cô dâu ra chào, bảo sáng nay cháu mới dọn hàng ngoài chợ. Vì phải đủ hàng giao mối nên phải dậy từ khuya để nạo dừa.  Quý đưa hai bàn tay còn đen thẩm mủ dừa, bảo không tẩy được hai bác ạ. Thôi cứ mang găng tay vào chắc không ai để ý. Trị hỏi cháu chuẩn bị xong hết chưa, cháu bảo rồi nhưng mắt đượm buồn. Trị hỏi tới, cháu thích chi thì nói, trong khả năng bác có thể giúp được. Con bé rơm rơm nước mắt thưa: “Mọi chuyện đều ổn. Nhưng cháu mơ sao có được cái xe đưa dâu đến nhà hàng như người ta”. Trị hỏi bao nhiêu tiền. Quý bảo khoảng 600.000 đ.  Trị móc tiền ngay, bảo kêu gấp, kêu gấp xe để chở cháu tui đi lấy chồng.  Cả nhà cười vang.  Không khí nhà Châm rặt Nam bộ. Chân chất, thiệt lòng. Vậy là có xe, cô dâu cười rất trẻ thơ cùng mẹ đi trang điểm. 18 giờ đám cưới được tổ chức tại “nhà hàng” chi đó.
Chúng tôi rửa ráy qua loa rồi đi dọc đường xóm,  xem sinh hoạt vùng này ra sao.
Mới chưa tới 16 giờ mà hai bên đường đất thanh niên đã soạn bàn nhậu. Có vài cây đàn gỗ  cùng những câu ca nhừa nhựa khê nồng mùi rượu. Như Anh học lớp 8 dẫn chúng tôi “tham quan”,  Cháu bảo, mấy anh họ buồn nên chiều nào cũng nhậu. Hỏi buồn chuyện chi. Thì buồn nhiều chuyện, như chuyện con gái xóm ni đứa mô trên mười sáu tuổi là lên thành phố, về cô nào cũng sang trọng, đẹp ra, trắng ra. Mấy anh này không chừng ở quá hết thôi bác nợ.  Năm ngoái có anh nhớ người yêu lên Sài Gòn thăm, bị đánh một trận về nằm mấy tháng không đi mần ruộng nỗi. Nghe kể, tôi và Trị nghĩ gia đình bạn mình còn may, còn giữ  được  nền nếp, dù ở nơi không biết nương tựa vào ai. Số phận bạn chúng tôi, Lê Đăng Châm và gia đình có thoát khỏi cái trò đời khắt nghiệt này không, nếu cứ khổ cực mãi thế này. Châm thì vô tư, trong lúc đôi mắt vợ buồn bã chịu đựng. Không biết còn trụ  được bao năm nữa. Hai đứa đầu thất học, anh cả đi bộ đội về thất nghiệp, Quý phụ mẹ bán mua nay đã lấy chồng.  Dù vậy gia đình châm vẫn  sống được tử tế giữa một môi trường bao điều quyến rủ. Hai đứa cuối, Như Anh lớp 8, Cu Út lớp sáu có còn tiếp tục học được mấy năm…
   Lê Đăng Châm vẫn như ngày xưa, ồn ào, phóng túng, thương quý và luôn bảo vệ bạn. Hồi học lớp 10C có lần Thái Hoàng Nguyên, anh chàng hiền như con gái , con Thầy Thái Mộng Hùng bị đám nào đó bắt nạt cho bỏ cái “thói học siêng ít nói”, tỏ ra “khinh người”. Châm nghe thế bèn đi gặp cho bằng được đám nào dám đụng vào lớp mình. Có lúc dám mang cả súng Carbin báng xếp vô lớp dấu dưới học bàn để đối phó với đối phương đông người hơn. Vậy là thay vì được bảo vệ, Thái Hoàng Nguyên cùng nhóm tôi phải năn nỉ mới xong. Những lần đánh lộn, châm thường bắt con gái, nhất là B H, cô bé hiền nhất lớp phải có nhiệm vụ giữ dép, sách vở để Châm “xông trận”. Thật tình hồi đó tôi không thiện cảm với Châm mấy vì cái tính trẻ con và hiếu động. Vậy mà con gái trong lớp đứa nào cũng quý Châm, có đứa còn “cảm tình đặc biệt”.
Hè năm 72 chúng tôi chia tay đứa một đàng, không có với nhau một lời tạm biệt. Con trai phần nhiều đi lính, Châm cũng thế.  Ra trường Châm chọn miền Tây, nơi đồng bằng miệt vườn ngày xưa chúng tôi từng mơ ước một lần đến. Sau mấy năm học tập cải tạo, Châm chọn miền Tây. Ngỡ rằng nơi vựa lúa, cá tôm đầy đồng sẽ cho mình cuộc sống tươi đẹp, ai ngờ.
Công việc của Châm không rõ tên, theo lời vợ Châm, anh đi tối ngày, lúc nào cũng có công việc nhưng tiền chẳng thấy đâu. Châm kể việc anh ta làm nhiều lắm, từ đạp xe lôi đến việc có chân trong nhóm đạo tỳ khi có đám ma. Có lúc Châm đưa người bệnh từ Long Xuyên lên Sài Gòn chửa bệnh hàng tháng, ở lại nuôi bệnh nhân như người nhà. Cũng có lần anh đi tìm hài cốt bạn chết lúc ở tù đưa về tận quê Đà Nẵng, đến cả Quảng Trị. Những lần như vậy thân nhân cũng có cho ít tiền, nhưng Châm chỉ lấy đủ tiền xe tiền ăn uống dọc đường thôi.


Tôi hỏi bé Như Anh, con có sợ ba không. Nó bảo rất sợ, yêu và kính trọng ba. Ba bảo đứa mô hư là ba giết liền, rồi ba biểu diễn vài thế võ đe dọa, cháu sợ ba lắm. Cháu mong sao học thật giỏi để tụi cháu cất được cái nhà. Con bé học lớp 8 đã có những suy nghĩ chúng tôi không ngờ.
Mấy năm trước nghe nói có hồ sơ HR gì đó, tôi có nhắn Châm đủ điều kiện không, Châm bảo giấy tờ mất hết rồi. Lại nói, thôi kệ, đời mình ri cũng được rồi, qua Mỹ biết đâu lại khổ cách khác.
Chúng tôi trở về nhà chuẩn bị đi đám cưới theo “họ nhà gái”. Ngoài chiếc xe đưa cô dâu chú rễ ai có chi đi nấy.  Từ xe đạp lôi đến xe ôm xe đạp. Miền quê có những điều dân thành phố phải học là họ đi đám rất đúng giờ. Cô dâu chú rễ xuống xe là đã có bà con hai họ vỗ tay tán thưởng. Châm kiếm đâu ra bộ cánh cũng tươm tất, vui vẽ bắt tay mọi người. Đến đâu Châm cũng bắt chúng tôi theo, còn khoe đây là “nhà báo” và “giám đốc công ty lớn” trên Thành phố về. Bắt đầu tôi ngượng lắm, sau vài ly mới hòa đồng được.  Chúng tôi được dự một đám cưới thật tưng bừng.
Khoảng 20 giờ thì tan tiệc. Trị bảo hết tiền rồi, ba giờ sáng xe chạy, thuê khách sạn chi cho tốn. Còn bao nhiêu mình về nhà lì xì cô dâu, chỉ để lại tiền xe và ăn sáng thôi.
  Xóm bờ kênh về đêm vắng, nước mom mem bờ. Chúng tôi đi bộ về nhà. Điều ngạc nhiên là thấy cả cô dâu chú rễ. Hỏi ra mới biết là nhà chú rễ cũng chẳng hơn gì nên xin …ở rễ luôn.
Vậy là trong căn nhà vài chục mét vuông, được một phòng ưu tiên cho đôi tân hôn, còn chúng tôi ngồi uống rượu và thức chờ sáng.  Tôi hỏi Châm có nước tắm không, hắn bảo ra đây. Trong “phòng tắm” bằng lá dừa vây quanh, Châm lấy gàu múc lên từ phía dưới mấy gàu  bảo, mày tắm trước rồi đến thằng Trị.  Mùi nước phèn chua lét, tôi chỉ dám dội ngang cổ xuống. Châm bảo ở đây rứa hết, tất cả nước dùng, vệ sinh tắm rửa đều từ con “ kinh trời cho” này. Kể cả nước thải cũng xuống đấy nốt, thật tiện! Châm đùa giọng Bắc.
  Cả nhà ngồi giữa sàn. Cô dâu chú rễ cũng ra ngồi chung. Còn bao nhiêu đồ lấy từ nhà hàng về bày một tô tạp xà lù tha hồ nhậu. Rượu đế làm chúng tôi thấm say. Trị đùa, “ Hôm nay có Thầy Mừng về đây, nhờ thầy coi cho cô dâu chú rễ một quẻ về sự nghiệp tương lai của các cháu, xem có hanh thông không, trăm sự nhờ Thầy”. Tay Trị này đùa ác, tui có biết bói biếc chi mô, lỡ rồi đành phải ngồi thẳng dậy dù mắt mũi đã kèm nhem vì rượu.
  Bàn tay cô dâu rụt rè đưa ra trước, đen xỉn mũ dừa. Tôi chỉ thấy loáng thoáng mấy đường chỉ tay không biết mô là đường tình duyên, mạng đạo tâm đạo trí đạo nữa…  cũng ráng nhướng mắt lên ra chiều “thầy” lắm, rồi phán: “ Nói chung (lại nói chung) cuộc đời cháu tiền vận có khó khăn nhưng vài năm nữa sẽ hanh thông thôi. Hai đứa hạp tuổi (dù tôi không biết các cháu tuổi gì) nên lấy nhau sẽ sinh con đẻ cái…hanh thông. (Chết cha, chúc kiểu này đẻ ra nhiều lấy chi nuôi). Nhưng thôi, chỉ nên sinh một hoặc hai cháu để đủ sức nuôi con đàng hoàng hơn.  Không nhớ “thầy ‘ còn nói những gì nữa mà cả nhà im lặng ra chiều xúc động. Cô dâu và chú rễ đứng lên bùi ngùi cám ơn, cúi đầu chào rồi xin phép đi đâu một chút.
Tưởng hai cháu đi đâu, hóa ra chúng đi gọi bạn, là những đứa cùng trang lứa tới chật nhà để …coi bói. Tôi “làm thầy” đến sau 12 giờ đêm mới hết “khách”. Có người tôi bói sai bét khiến cả nhà cười vang, nhưng chẳng ai trách “ông thầy”
Tôi gẫm ra một điều, nơi đây con người nhẹ dạ, cả tin và rất dễ tha thứ. Một vùng đất mà ai đến cũng vị tình không dứt đi được. Châm, bạn chúng tôi cũng thế chăng.
  Châm và Như Anh tiễn chúng tôi ra xe lúc 4 giờ sáng. Hai cha giụi đầu vào vai chúng tôi mà khóc. Chúng tôi chỉ biết khuyên câu “đời có khúc”, như bao lời khuyên cho có, với bạn mình, một đời trôi dạt như lục bình ở đất Phương Nam này. Và cũng biết nở hoa. Tôi lại nhớ câu thơ ai đó: “Hoa vừa đi vừa nở”.
   Đã tám năm rồi. Như Anh sắp ra trường, Út Nam cũng vừa đậu vào cao đẳng. Hàng năm hội CHSNH cũng có dành một suất học bỗng cho Như Anh. Thỉnh thoảng lớp chúng tôi cũng có giúp đỡ, nhưng các cháu tự lập là chính. Lớp chúng tôi thuộc thế hệ học hành dỡ dang, ở tù cũng về sớm nên có ai đi HO, xuất ngoại đâu. Mấy o thì cũng rứa. Có được Bác Trị và O Bích Hường khá giả chút nên việc chi trong lớp cũng “nai lưng” ra. Buồn thiệt.
 


Thứ Tư, 18 tháng 11, 2009

MẠ VÀ CÔ

MẠ VÀ CÔ

                Nguyễn Đặng Mừng.
Từ nhỏ đến lúc vào đệ nhị cấp tôi chỉ được học với Thầy. Cô Võ Thị Hồng là cô giáo đầu tiên, lại dạy môn văn, môn tôi thích và học khá nhất. Vài tuần đầu lạ trường lớp, lại mặc cảm là học sinh trường tư mới được tuyển vào, tôi muốn chứng tỏ  với bạn bè rằng tôi cũng biết học văn.Trắc nghiệm đầu tiên của cô với năng lực học sinh không phải những bài nghị luận mà là mỗi em tự sưu tầm về ca dao tục ngữ, chép và trình bày thật đẹp trong một cuốn tập để cô chấm điểm. Cơ hội đã đến. Không cần phải đi  đâu xa, Mạ tôi là một kho tàng ca dao tục ngữ để tôi tha hồ ghi chép. Tôi sưu tập được hàng trăm câu hay và độc đáo từ mạ rồi nộp cho cô. Cô hỏi mô mà nhiều rứa, tôi bảo Mạ em hò cho em chép đó. Cô cười bảo em có người mạ tuyệt vời.
Mạ tôi không biết chữ. Cô Hồng  là cô giáo đầu tiên của tôi đã tốt nghiệp sư phạm môn văn. Cô giáo “ra đề”, mạ lại giúp tôi “giải đề”.Từ nhỏ mạ tôi thường dạy chị em tôi ứng nhân xử thế chỉ bằng ca dao tục ngữ. Mạ chỉ đọc lên và chị em tôi hiểu. Có khi hiểu sai mạ lại giải thích bằng ngôn ngữ dân dã, ri nì, tê nì. Cô Hồng giúp tôi hiểu sâu hơn, minh triết hơn về ca dao tục ngữ.
  Có lần đọc một cuốn sách phê bình truyện Kiều, tác giả cuốn sách là một nhà thơ nổi tiếng. Nhân nói về vần điệu, nhà thơ bèn đem câu: “Con mèo con chó có lông, bụi tre có mắt nồi đồng có quai”ra ví, rồi bảo rằng tục ngữ ca dao Trị Thiên có câu nói cho có vần,  không ý nghĩa gì cả. Mạ tôi bảo nói chi mà ngu, đó là “tai vách mạch rừng”. Tôi đem điều này trao đổi với Cô Hồng, Cô bảo mạ nói đúng, ông nhà thơ kia sai. Còn đọc cho tôi nghe một câu lạ, có âm hưởng… “Con mèo con chó…”: “Con mèo con chó cũng không, bụi tre một chắc, ngoài đồng không ai”. Không ai “chộ” cả, vậy mà đôi trai gái hôn nhau hôm sau cả làng ai cũng biết.
  Có lần cô cho  cả lớp mỗi trò tự chọn đề tài thuyết trình. Bài  thuyết trình hay nhất theo tôi thuộc về Cao Thị Yến với truyện dài Chim Hót Trong Lồng của Nhật Tiến. Yến mũm mĩm và hiền như ma suoer, lại nói về thân phận cô bé trong trường mồ côi ở nhà thương Phủ Doãn với các Dì Phước. Tôi chưa quen thân  mà dám đồ rằng chắc Yến  là người Công Giáo, và biết đâu chừng đã từng ở trường dòng. Có lẽ hồi trẻ Yến không thực hiện được ý nguyện đi tu nên hiện giờ Yến ở nhà thờ và đi làm từ thiện nhiều hơn ở nhà. Biết đâu  ý nguyện đó lại  bắt đầu từ niềm thương cảm cô bé mồ côi trong truyện, từ buổi thuyết trình ngày xưa.
Những bài thuyết trình phải nộp cho cô Hồng duyệt trước khi được lên diễn đàn. Tôi mê truyện dịch nên soạn thuyết trình cuốn Đôi Bạn Chân Tình của Hermann Hesse . Cô gọi riêng tôi và nhẹ nhàng bảo, em không nên thuyết trình một cuốn sách vượt khả năng của mình. Tôi buồn vì cô “coi thường’ mình nhưng cũng về soạn lại bài thuyết trình khác, tôi nhớ là đề tài về ca dao tục ngữ.  Tiếc là tôi không được thuyết trình vì trễ. Tôi mang theo lời dặn của cô, “cứ đi hết đường xóm của mình ta sẽ gặp thế giới”.
  Gần đây tôi đi theo nghiệp văn, đúng ra là văn nó vận vào đời tôi từ nghiệp dĩ, từ khi tôi học lớp 10c, từ lúc Cô Hồng nói với chúng tôi về cách để viết một bài văn hay. Cô nhắc lại một câu của nhà văn Nhất Linh, đại ý là: “Văn chương là phương tiện để đưa ý tưởng của mình đến với độc giả. Văn giản dị dễ hiểu mà lột tả được những ý tưởng súc tích sâu xa mới tài, mới hay”. Và bao giờ trước trang giấy, bàn phím tôi vẫn tâm niệm điều đó. Những câu ca dao tục ngữ theo ruộng vườn  chảy tràn trong văn tôi; “Đi mô đem thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp theo”. Và đôi lúc đi hơi “xa nhà” trong trang viết tôi lại giật mình nhớ câu: “Mẹ già cuốc đất trồng khoai, con đi mua ngọn nghe ai chưa về”. Mạ và cô, trong sâu thẳm tâm thức mình luôn hiện về nhắc nhở tôi.
 Năm tôi thi đậu tú tài ban c mạ tôi vui lắm, ai tới nhà cũng khoe. Lúc nghe tôi có giải thưởng truyện ngắn của tạp chí Sông Hương, ra được tập truyện Cô giáo tôi cũng xúc động lắm, bảo Cô T phân bì với Cô đó.  Cô T bảo “ mi dạy văn có đứa làm văn sĩ, tau dạy ngoại ngữ chưa có ai làm dịch giả cả, vậy là mi hạnh phúc hơn”. 
  Tôi viết khá nhiều mà chỉ viết chuyện đâu đâu, chưa có dòng nào cho Mạ cho Cô. Cô và Mạ đã cho gói kẹo văn chương  ngọt ngào tuổi thơ, tôi cứ ôm giữ khư khư không chịu ăn, lại thèm kẹo của người dưng. Tôi cứ sợ viết không xứng với những điều Mạ và Cô trao cho, hay sợ mình “hết vốn” cũng nên?!
Nay mạ đã già và cô thì yếu. Qua bài viết này con, em xin gửi đến hai vị lòng tri ơn sâu nặng của mình.
                                  2 giờ sáng ngày 18. 11.2009.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

NHỚ RUỘNG NHỚ ĐỒNG - NĐM


NHỚ RUỘNG NHỚ ĐỒNG
                          
Tặng Quê và Nghé của anh
NĐM

Đường xa em có đi về
Cơn mưa lủi thủi thầm thì ướt nhau
Thương người xưa, nhớ người sau
Câu hò mẹ kể úa màu thời gian
Tang tình tang, tính tình tang
Nhịp chày sương gõ mòn hàng lệ đau.
                                   
           Trên chuyến tàu chợ rời ga Đà Nẵng, tiếng rao lạ đời của em làm mọi người chú ý: “ Ai đi Nam cho cháu đi với. Cháu làm việc giỏi lắm. Có ngày cháu gánh phân ra đồng  được mười điểm”. Tôi quê ở Quảng Trị, cũng từng gánh tới năm mươi điểm một ngày lận. Mười điểm đến mùa chia được ba lạng lúa ướt. Tôi mắc cười với tiếng rao của em, đùa:”  việc giỏi nhất của em là chi rứa? ”. Em cười lỏn lẻn: “Em được tuyên dương trong phong trào người tốt việc tốt”, “việc chi rứa?”. “Em sáng tạo ra cách tận thu lúa vào mùa gặt năm ngoái, trở thành phong trào “điển hình” cho thiếu nhi cả huyện, có giấy khen nữa đó” Tôi tò mò: “Kể cho anh nghe được không?”. Em sôi nổi: “Anh biết không? Quê em miền núi ruộng ít. Những mùa gần đây thất lắm. Học sinh tụi em đến mùa gặt phải ra đồng mót lúa. Người đi mót lại được nhiều hơn xã viên, vì gặt tập thể chẳng ai cần tận thu cho hợp tác. Rứa là tụi em đến những đám lúa người ta không thèm gặt vì gần như mất trắng, nhặt những chẹn lúa chín mọng lẫn trong đó. Đến khi thấy học sinh thu được nhiều lúa, “ trên”  lại “chỉ đạo” phải vô tập thể mót lúa. Rứa là thành một tập thể gọi là “đội học sinh tận thu”. Năm ngoái không có những thửa ruộng mất trắng để chúng em tận thu, phong trào thiếu nhi cũng không còn. Sáng nào em cũng đi ra đồng mót lúa, nhìn những nhúm lúa rụng căng mọng mà không biết cách nào tận thu, em suy nghĩ rồi dùng cục đất sét ướt vắt lại, chấm những hột lúa rụng, như người ta chấm muối mè rứa mà, rồi rửa vào trong thau nước. Ngày đầu tiên em đãi được hai ký, vị chi là năm lon gạo . Lúa rụng là lúa tốt mà anh. Em khoe với bạn bè, rồi cũng đến tai thầy hiệu trưởng. Rứa là lại vô tập thể tận thu theo cách mới. Và em được …giấy khen.” Em cười buồn.
Tàu đến ga Quảng Ngãi. Chúng tôi không màng những con gà vàng rộm chào mời vì túi rỗng. Tôi đem cơm gói trong lá chuối ra ăn và mời em. “Em có khoai lang khô rồi. Em có thể ăn tới Sài gòn lận”. Tôi mời nhiều lần mà em nhất định không ăn cơm. Trời bắt đầu tối. Chuyến tàu mệt mỏi rời ga. Người nằm ngồi la liệt, trên võng dưới sàn xếp như nêm. Em chỉ đứng được một chân, chân còn lại đặt tạm trên cái ba lô giữa hai đùi tôi, tay níu lên giá. Khách trên tàu gà gật ngủ. Mỗi người mỗi phận. Tôi lơ mơ nhớ những ngày qua, những tháng qua, những năm qua. Năm năm với bao biến động của thời cuộc, đời tôi lẫn vào trong đó như bọt nước giữa dòng, khi quay tròn trôn ốc, khi lờ đờ mỏi mệt, khi lao vút xuống thác ghềnh.
                                              

         Long An Ngày 28 tháng 4 năm 1975
      Ba mạ ơi, con đang ở Long An. Mùa khô rát lắm. Những ruộng lúa ở đây mùa này cũng giống quê mình. Không biết người ta gặt từ bao giờ. Con chỉ thấy cánh đồng trống hoác. Ruộng cũng nứt nẻ như cánh đồng làng mình sau mùa gặt, nhưng đường nứt to hơn, thửa ruộng cũng rộng hơn. Trung đội con đang làm nhiệm vụ giải tỏa con đường đất đỏ như con đường hương lộ 68 ở quê mình. Con chuẩn bị tác chiến đây.

Long An  Ngày 29 tháng 4 năm 1975.
Cả ngày này tụi con ăn cơm sấy. Nước sông mùa này mặn, chan vào cơm sấy nên không cần muối. Con nghe đài BBC, biết bà con mình trở về làng rồi.
Con biết tính ba thích làm giàu, không biết làm ruộng ở quê mình có giàu được không? Ngày xưa ba mạ cũng làm ruộng giỏi mà, lo gì. Ruộng làng mình tốt nhất vùng. Ba mà đấu thầu ruộng là nhất, năm nào cũng lãi.

Tối 29 .4 .75
      Chúng con vừa bơi qua sông Vàm Cỏ Đông. Sông gì mà rộng như biển, gần hai giờ mới qua được, có mấy thằng lính vỡ bè chết trôi. Con thương nhất là mấy thằng bị thương còn ở lại bên kia sông.

Rạng sáng 30 tháng 4 năm 1975.
          Tụi con đói lắm rồi, không biết ăn gì đây.
          Đơn độc giữa đồng không mông quạnh hiện ra một căn chòi. Có một bà già đang nấu nồi cơm to. Con ra lệnh cho lính nằm im, không được manh động. Con đến bên bà già, bà không quay lại mà nói: “Chèng đéc ơi, súng nổ dữ quá, tau tưởng tụi bay không về. Cơm chín rồi, kêu mấy đứa vào ăn đi. Có mắm sặc trong khạp”. Con chẳng biết mắm Sặc là gì, có cơm là tốt rồi. Cả trung đội ăn ngon lành.
          Trời sáng ra, bà già nhấp nhem hỏi: “Mấy đứa bay không phải là quân giải phóng hả, mà thôi,  lính Cọng Hòa cũng được, miễn còn sống sót là tau mừng”. Rứa đó, bà mẹ quê mô cũng tốt, chỉ những đứa con là…Con nhớ bài thơ chép lại trong cuốn nhật ký đã trôi mất trên sông:

                   Đêm cuối năm viết cho Má           
         ………………………………..
Hình như cây súng con lạ lắm
Sao nó run lên khi đạn lên nòng
Tâm hồn nó như tâm hồn con vậy
Một kẻ nằm, kẻ đứng , xót xa không?

Trước mặt con những ngọn đồi cát máu
Đêm thì thầm cùng những nắm xương
Ôi! Trái tim con mãi tôn thờ má
Đã dạy con hai  tiếng yêu thương

Từ má lỏng bàn tay con dìu dắt
Con bơ vơ giữa cuộc phù sinh
Dòng nước nào xa nguồn mà không đục
Sợ một mai con lạc dấu chân mình.
            ………………………………………
( Nguyễn Dương Quang)

       10 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975
          Con đang trên đường về Sài gòn trên chiếc xe tải thương dân sự lấy ở chi y tế chi khu Bến Lức, có cắm lá cờ Hồng  Thập Tự ở trước. Mấy thằng lính của con bị thương rên quá chừng. Thằng âm thoại viên lái, con ngồi một bên như một sĩ quan chưa bại trận. Đến gần Phú Lâm gặp một đơn vị bộ đội, họ đón lại, chỉ lấy bản đồ, địa bàn, khẩu súng col rồi cho xe tải thương chạy tiếp.  Hòa hợp dân tộc mà!

   11giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
      Con vừa đưa hai thằng lính bị thương vào bệnh viện. Tội nghiệp, không biết con cái nhà ai. Lạy trời cho tụi nó tai qua nạn  khỏi…

         Tàu lắc lư. Những khuôn mặt mệt mỏi gà gật. Em vẫn giữ thế đứng không đổi,  đầu gục xuống gần tôi. Cái gùi tre em mang có vẻ không nặng lắm, chắc chỉ vài bộ áo quần trong đó. Từ lúc gặp chưa thấy em ăn uống gì, tôi chạnh lòng: “Em ngồi xuống đi, chật một chút , không răng mô”. Tôi với lên gỡ tay em, xoay người em lại ngồi lọt giữa lòng mình, trên cái ba lô đựng quần áo. Em mềm đi, ngoan ngoãn gục lên đùi tôi ngủ. Tàu dừng ở ga nào đó trong đêm. Có vài người ngồi gần xuống tàu. Em ngồi lên bên tôi. Mua cho em ly nước mía, em uống một hơi dài rồi nhìn tôi biết ơn,  lấy khoai lang khô ra ăn và mời tôi. Tôi cũng ăn với em cho thân thiện. Trời tờ mờ sáng, tôi gợi chuyện.
- Em đi vậy ba má có biết không?
Em không trả lời. Sự nhanh nhẩu của em hôm qua không còn, thay vào đó là đôi mắt buồn rượi có ngấn nước, đôi mắt sao mà y như của năm năm về trước tôi gặp ở hành lang bệnh viện Chợ Rẫy:

         Tôi bước ra hành lang bệnh viện lòng đầy hân hoan. Tiếng loa phát thanh đâu đó phát đi phát lại lời tuyên  bố đầu hàng của đại tướng Dương Văn Minh. Thế là hết binh đao chết chóc, tôi sẽ học một trường đại học nào đó như từng mơ ước. Đang phấn chấn với những suy tưởng, bỗng có tiếng hét lớn đằng sau, tôi quay lại. Một họng súng chỉa vào người tôi.
- Tên kia, cởi áo quần ra. Giờ này mà còn mặc đồ Ngụy, muốn chết hả? Lại còn sĩ quan nữa chứ!
      Đó là một tay mặc đồ dân sự, có vẻ như dân Sài Gòn, tay trái  mang băng đỏ,  lăm lăm khẩu M16. Tôi luống cuống. Có giọng nói phụ nữ gần tôi:
- Anh cởi đồ ra đi, tôi có đem theo đồ đàn ông đây,  lẹ lên.
 Tôi  lật khật cởi áo, giày. Đang lưỡng lự thì tay kia hét.
        - Cởi luôn cả quần.
         Hôm qua bơi qua sông, khi thay đồ không còn quần lót nên  tôi lừng khừng, tay run rẩy cởi nịt…
-          Anh lấy cái khăn này quàng vào…
          Lại một giọng nữ. Tôi thao tác vụng về đến nỗi tuột cả khăn, may mà tôi đã kịp kéo cái quần dân sự lên. Tay mang băng đỏ vơ vội áo quần của tôi cho vào sọt rác gần đó,  quay đi. Cái quần rộng quá khổ so với thân hình cao một mét sáu ba,  nặng bốn mươi hai ký, nên tôi cứ giữ hai tay cho nó khỏi tuột. Tôi nghe tiếng cười nhẹ: “cậu lấy nịt nè”,  người thiếu phụ đưa cho cái nịt lúc nãy đã bị quăng vào sọt rác. Nịt xong tôi mới lí nhí được: “Cám ơn chị”  và hoàn hồn nhìn rõ chị.
Đó là một thiếu phụ trạc dưới ba mươi. Da ngăm, tóc bới cao quý phái, vẫn còn chút chân quê trong giọng nói Sài Gòn pha  miền Trung vùng Trị Thiên. Đôi mắt to, lông mi dài buồn một nét  hoang dại. Bên cạnh là bé gái khoảng sáu bảy tuổi, có nét hao hao giống mẹ . “Cậu mặc áo vào đi”. Chị đưa tôi một cái áo cũng rộng quá khổ, nhờ vậy mà che bớt cái quần thùng thình phía dưới.
-Cậu người quê đâu?
- Dạ Quảng Trị.
- Mấy tuổi rồi?
- Dạ hăm mốt.
- Đi lính mấy năm rồi?
- Dạ kể cả ở quân trường là gần ba năm
- Ba mẹ hiện giờ ở đâu?
- Em cũng không biết nữa. Đứt liên lạc từ hồi di tản ở  PLeiku. Theo đài nói thì những gia đình quê em đã hồi hương rồi. Em có gửi thư hàng tuần theo địa chỉ ở quê nhưng không biết nhận được không. Tuần này em viết rồi mà chưa gửi được. Những lá thư trong chiếc ba lô rớt mất trên sông hôm qua rồi.
- Cậu ăn cơm với tôi nghe.
- …
          Bà soạn cơm trên những tờ báo cũ.  Có đủ cơm, canh, đồ xào và một dĩa kho mặn, tươm tất như bữa cơm của gia đình trung lưu. Tôi ngạc nhiên vì có đủ ba đôi chén đũa, như là  đã dự tính có tôi trong đó. Tôi ăn cơm ngon lành.
 Hành lang bệnh viện buổi trưa tấp nập người ra kẻ vào, những khuôn mặt hớt hải thất vọng. Chị bình thản:
- Cậu cứ tự nhiên, tôi coi cậu như em. Mấy ngày nay tôi  chờ ở đây vì có tin em tôi bị thương nặng ở miền Tây, có thể chuyển lên  đây vì các quân y viện giải tán hết rồi.  Nó là em bên ngoại tôi, cũng người Quảng Trị, ba mẹ kẹt lại bên kia sông Thạch Hãn từ năm bảy hai. Nó bị tổng động viên,  học ở Thủ Đức. Tôi thăm nuôi nó suốt chín tháng ở quân trường. Mới ra trường hơn năm nay , đóng quân ở Kiến Hòa. Chắc không còn hy vọng gì nữa.
 Chị lau nước mắt, đôi mắt ươn ướt đen thăm thẳm, nỗi đau lặn vào trong đó…
       Thằng âm thoại viên bước vào giục tôi: “ Đi thiếu úy”. Tôi hoang mang chẳng biết đi đâu. Chị lục xắc tay lấy mấy ngàn đưa cho tôi bảo: “Cậu cầm lấy đi đường, đừng ngại” . “Em còn tiền mà”. Chị cười buồn, “Tiền người ta lấy hết rồi”. Tôi nhớ ra là tôi chẳng còn đồng nào. Hai tháng nay chưa lãnh được  lương. Chị ghi cho tôi địa chỉ và dặn “Nếu chưa ra được thì ghé về chị ở tạm nghe”. Tôi cám ơn chào chị, bước vội lên chiếc xe Hồng thâp Tự . Chị nhìn theo, tay vẫy vẫy,  mắt chớp nhanh, hình như chị khóc.

   - Anh vô Nam lần mô chưa?
   - Trước giải phóng anh ở trong nớ.
- Em cũng rứa, em ở Sài Gòn. Em muốn hỏi là trong đó ruộng rẫy nhiều không, em muốn đến một nơi có nhiều ruộng rẫy. Nghe người ta kể trong trong đó không ai thèm đi mót. Thích hỉ!
   - Anh cũng không rõ. Thì cứ đi rồi biết.
- Anh cho em theo với được không. Em làm thuê cho anh ăn cơm thôi. Lúa nhiều rứa mà em đi mót thì phải biết…
  - Cũng được…
   - Là sao, anh nhận chứ!
- Ừ, nhận…(Tôi phân vân thật sự. Chưa biết nơi mình đến thế nào, mấy đứa bạn có giữ lời hứa không, lo thân mình chưa xong mà cưu mang thêm nữa, liệu có …).
Đôi mắt em rạng rỡ. Em lại tíu tít kể về chuyện bạn bè ngoài quê, về những buổi học trong lớp , về những bài học “chống Mỹ cứu nước”mà bạn bè em thường chọc là “thằng Mỹ có cái mũi cao và đôi mắt to như con Quê”.  Hay “da con Quê đen như thằng Mỹ đen”. Nói vậy chớ các bạn thương em lắm.
Tôi buộc miệng:
- Sao em bỏ đi.
- …
Em lại buồn rười rượi. Tôi nhủ lòng là từ bây giờ không nhắc chuyện đó nữa. Có điều gì đó bí ẩn trong đời em, mà tôi không có quyền tọc mạch.
          Chúng tôi xuống ga Long Khánh, sang xe một lần nữa thì đến nông trường Cù Bị. Tôi mang ba lô còn em mang gùi, đi bộ khoảng ba cây số mới đến nơi những người bạn đã cho địa chỉ.
          Căn nhà tranh bạn bè tôi đã dựng sẵn theo tiêu chuẩn công nhân. Đây là khu rừng già nông trường khai thác để trồng cao su, nơi những người dân quê tôi vào Nam thường gửi phận ở đó. Nông trường đang tuyển người, không cần hộ khẩu, là nơi lý tưởng để chúng tôi, những bạn bè vừa được cho về từ trại cải tạo, chưa có quyền công dân nhập cư. Chúng tôi “được tha” vào năm 77-78, trở về quê làm ruộng hợp tác, là “đối tượng” của chính quyền nên mọi việc nặng nề, nguy hiểm đều phải xung phong đi đầu như gỡ mìn, làm thủy lợi. Cực khổ và đói khát không kém hồi ở tù, bạn bè rủ nhau trốn đi Nam rồi hẹn gặp nhau ở đây. Kha, Lộc cùng tuổi Tỵ với tôi, là bạn thân từ thời trung học, cùng đi lính và cải tạo ở trại Ái Tử. Tụi nó vào đây năm ngoái, gửi thư ra rủ tôi cùng vào. Ba mạ tôi không cản vì thấy con mình ở quê khổ quá. Ngày đi mạ cho tôi năm chỉ vàng rồi dặn: “Coi như đây là quà cưới vợ ba mạ cho con, từ nay con tự lo liệu. Ba mạ già rồi không thể theo con được, còn mồ mả cha ông…”. Mạ tôi khóc. Lại thêm một lần rời xa vòng tay mẹ, không vào cuộc chiến tranh như lần trước, mà chạy trốn cái đói nghèo, gò bó. Lần này tôi không khóc. Tôi trốn đi vào một đêm mưa lớn, thấy làng xóm  nhóe lên trong ánh chớp rồi tắt lịm, đen ngòm bóng tối sau lưng.
         Liên hoan với nhau bằng lít rượu đế, mấy con cá khô.  Khật khưởng say, tôi quên mất là có em đang theo mình. Cuộc nhậu làm thời gian qua mau. Tôi hỏi mấy thằng bạn: “ Con bé đi đâu không thấy”. Cả mấy đứa đang nháo nhác thì em xuất hiện với cái gùi đầy lúa chẹn. Em hồ hởi:” Lúa nhiều quá anh ơi, người ta phí quá, có những chổ người ta không thèm gặt, lúa lẫn trong cỏ nhiều vô kể”.
Đêm đó tôi say, nằm ngủ như chết. Sáng ra thấy nhà cửa của mình gọn gàng sạch sẽ, nồi cơm còn nóng bắc trên mấy cục gạch, có cả dĩa cá khô hấp trong đó. Tôi đói nên ăn sạch, không nghĩ là gạo đâu mà em nấu cơm.
Em trở về với gùi lúa sau lưng, cười lỏn lẻn:
- Lúa nhiều quá anh ơi, nấu cơm ăn xong em lại đi nữa.
        - Hôm qua gạo đâu mà em nấu cơm.
- Em mua ở quán, em còn mấy ngàn ngoại cho để dành.
Tôi lấy tiền trả lại mà em không nhận, còn gửi hết số tiền em có, lấy cớ là đi mót sợ rơi mất. 
          Sáng hôm sau tôi đi đăng ký làm công nhân nông trường, khai với công an nhà có hai khẩu, tên là Trần Văn Minh và Trần Thị Quê.
  Qua một tuần, em gom được khoảng năm thùng lúa, tính ra còn hơn lương công nhân của tôi, mỗi tháng nghe nói quy ra khoảng hai mươi ký gạo. Em gánh đi bán rồi sắm đủ những vật dụng cần thiết. Cứ thế, tháng lương đầu tiên và phụ cấp của tôi lãnh về chưa đụng đến. Hết mót lúa lại đến khoai mì. Qua mùa thu hoạch em lại đi làm thuê. Lúc đầu người ta chê em nhỏ, nhưng với khả năng làm việc, sự siêng năng tận tụy của em làm ai cũng thích. Có nhà trả tiền công như người lớn, em đem về đưa tôi không thiếu một đồng.
           Mấy tháng sau chúng tôi đã có của ăn của để. Một hôm tôi  gọi em lại bảo:
  - Hiện giờ anh em mình để dành được mấy ngàn rồi, phần nhiều là công của em. Em có muốn gửi về nhà anh ra bưu điện gửi cho.
  - Em đã nói là em chỉ làm cho anh ăn cơm thôi mà. Anh    còn cho em tiền sắm áo quần nữa. Không có ai cần tiền của của em mô. Anh cứ để khi mô đủ tiền thì sắm năm phân vàng, để dành cưới vợ.
           Hai chúng tôi ngầm quy ước là không nhắc đến gia đình em. Lần nào tôi lỡ lời là em lườm mắt hoặc tảng lờ như không nghe thấy.
            Mỗi công nhân mới vào được giao phá hai mẫu rừng tre để trồng cao su. Phá rừng tre là công việc nặng nhọc nhất mà tôi từng gặp, dù đã từng kinh qua nhiều công việc lúc còn ở trại cải tạo. “Nhất chặt tre, nhì ve gái”. Có bụi tre phá cả tuần không xong. Tay chân chổ nào cũng có thương tích bởi gai tre. Tối nào về em cũng nấu nước sôi hòa muối rửa cho tôi. Một tối em bảo:
- Mai anh cho em đi theo vào rẫy của mình nghe. Em    muốn giúp anh phá cho mau xong để khô kịp mà đốt trước khi trời mưa. Em nghe người ta nói rẫy “cháy luộc”(1) khó dọn lắm.
- Bà chị có vẻ rành quá há.
- Em còn nghe nhiều chuyện về cách làm rẫy trong ni nữa, khác ngoài mình nhiều lắm. Nào là tỉa đón mưa(2), rẫy mới nên tỉa giống gì … Nhiều lắm. Cái gì không biết em hỏi thêm.

          Em theo tôi vào rẫy. Buổi sáng trời còn mát. Dọc đường thỉnh thoảng em dừng lại lượm một khúc củ mì hay là bẻ một trái bắp còn sót lại trên rẫy của ai đó bỏ vào gùi, điều mà chưa bao giờ tôi nghĩ tới. Tôi trêu: “Từ ngày có em vào đây mấy con chim con sóc nó buồn lắm”. Em cười khanh khách, nhảy chân sáo mà rằng: “Nhưng em là con chim khôn ngoan, biết chọn nơi mà đậu”. Thỉnh thoảng em có những câu văn vẽ đến kinh ngạc. Đậu có nghĩa là em sẽ bay, tôi buồn bã nghĩ đến ngày đó.
  Bụi tre đang phá đường kính cả chục mét. Có lẽ từ ngày khai thiên lập địa chưa ai đụng vào, nhánh gai đan vào nhau chằng chịt như mạng nhện. Với “kinh nghiệm” chặt tre ở quê, cứ chặt xong cây nào là kéo xuống, rồi chặt tiếp. Em la lên “Không phải mần rứa”(không phải làm thế). Tôi ngạc nhiên “rứa mần răng?” (thế làm sao?). Em cầm cây rựa khứa vào cây tre làm dấu: “ Em thấy người ta chặt phía trên ni xong, chặt đứt luôn phần dưới, lấy khúc tre ra, cứ rứa chặt dần vô tứ phía, đến lúc còn một ít cây ở giữa. Họ để đó chờ gió lớn sẽ ngã”. Tôi làm theo chỉ dẫn của em, quả thật nhanh hơn nhiều. Em đứng ngoài canh gió. Mỗi lần có gió to em lại la lên, để tôi kịp chui ra. Nghe em kể ở đây có người chui ra không kịp chết kẹt giữa bụi tre. Đến chiều, hai anh em đang ngồi hướng trên gió “giải lao”, một ngọn gió lớn ào tới, cả bụi tre vặn mình kẽo kẹt rồi ngã ào. Em reo lên sung sướng: “Còn bảy bụi, tuần sau mình phá xong, một tháng nữa mưa là vừa”. Vậy đó. Tôi tưởng là tôi cưu mang em , ai ngờ em lại giúp tôi nhiều đến vậy.
          Một tháng chờ rẫy khô để đốt, tôi ở nhà. Không có việc cứ đi vào đi ra. Lại buồn. Đây là thời gian tự do rảnh rỗi sau năm năm bị kềm kẹp. Chiều nào mấy đứa bạn cũng rủ nhậu, ngâm thơ đến say mèm, tối ngủ không dăng mùng. Sáng nào dậy cũng thấy em đã mắc mùng cho tôi cẩn thận. Cơm mắm để dành trên bếp rồi mới đi làm thuê.
Một sáng thức dậy thấy em ngồi thẩn thờ, mắt đỏ hoe. Tôi hỏi:
          - Có chi không Quê.       
Im lặng đi một chặp, em nhìn tôi thật buồn rồi nghiêm giọng:
- Anh có thương anh không?
- Răng em hỏi lạ rứa?
- Ngày mô cũng uống rượu, anh có nghĩ đến lúc bệnh hoạn không? Tối qua em đã nói thẳng với anh Lộc và anh Kha rồi. Các anh hứa là từ nay không rủ anh nhậu nữa. Em xin lỗi anh về điều đó. Hồi hôm thấy anh say mặt không đỏ mà tái mét, tay chân lạnh ngắt. Em xức dầu rồi ôm chân anh khóc cả đêm. Em sợ anh chết…
         Tôi ôm em vào lòng, em gục vào ngực tôi khóc nấc thành tiếng. Nước mắt tôi ứa ra. Tám năm rồi, ngày tiễn tôi đi lính mạ tôi ôm con và cũng khóc như thế. Tôi nghẹn ngào “Anh xin lỗi em, anh vô tâm quá . Từ nay anh hứa là không  nhậu nữa”.
 Ngày hôm sau em đề nghị với tôi là đi mua heo về nuôi. Em nói chi tôi cũng thuận. Tôi đã từng định đi làm thuê mà em không chịu nên ở nhà rảnh, sinh tật. Lộc, tôi và Kha làm chuồng đến chiều thì xong. Em mang về cặp heo bụ bẫm, nói như reo: “Anh Kha ăn khỏe, anh mà thả heo thì phải biết” Thằng Lộc chêm vào: “Hắn là nghề “thả heo” mà”. Biết lỡ lời, cả ba nháy mắt ra hiệu với nhau. Em ngây thơ không để ý đến lời đùa của chúng tôi, đề nghị: “Bữa ni chúng ta liên hoan khánh thành chuồng heo. Anh coi giùm em nồi thịt đang luộc, em ra quán mua thêm ít gia vị”. Em mua về thêm một ít thức ăn và một xị rượu đế. Ba đứa tôi ngồi nhìn nhau không bình luận gì về chai rượu. Uống quen rồi cũng thèm, nhưng cả ba mới hứa hôm qua với em, lẽ nào lại…
Em bưng lên một mâm khá rôm rả, nào thịt luộc, bánh uớt , rau sống…trịnh trọng thưa:
       - Mời các anh liên hoan . Cho em xin lỗi về thái độ hôm tê. Vì sợ quá em nói bậy, mong các anh bỏ qua. Kha hỏi: “Từ nay bà chị cho tụi tui uống mỗi chiều một xị được không?”. Chúng tôi cười vang nhà. Không những tôi mà cả hai đứa bạn coi em như “bà chị” thât sự. Mỗi lần nhậu không bao giờ quá chén.
     
 Mùa mưa sắp đến. 

          Rẫy đốt cháy rừng rực. Tro than theo khói bay lên ngụt trời. Em reo lên trong tiếng nổ lốp bốp “Rẫy cháy đẹp quá anh ơi, người ta nói rẫy tre khó phá nhưng cháy rất sạch, không bị luộc. Rẫy ni mà tỉa bắp đỏ thì phải biết”. Em nói thành thạo như dân bản xứ, có những thuật ngữ tôi chưa nghe lần nào.

          Những buổi chiều mây vần vũ,  trời thấp và đen đến độ như muốn trút cả trời nước xuống những đám rẫy  khô rang nóng bỏng. Em và tôi làm việc quần quật. Vừa dọn rẫy em vừa nói về chuyện trồng tỉa, “Tối qua em đã mua được mấy chục ký bắp giống đẹp lắm. Chắc không tỉa hết nhưng phải phòng, người ta nói có khi phải tỉa đến lần thư ba thứ tư. Mình tỉa một ít bắp nếp  luộc ăn anh hỉ”. “ Tùy bà chị. Bà chị là bí thư, tui chỉ là chủ tịch”. Hai anh em nhìn nhau cười vang, cười nắc nẻ. Em nói trong tiếng cười ngặt nghẽo: “ Có cái gương cho anh soi mặt anh vui lắm”. Tôi mắc cười với cái mặt của em đen những lọ than, “Có cái máy hình chụp hai anh em mình đang hát bội, để mai mốt làm kỷ niệm”. Hóa ra mặt hai đứa đen những lọ than mà không biết.
 Dọn rẫy xong, chúng tôi tỉa “đón mưa”. Bắp tỉa thưa nên mấy ngày đã xong việc. Hai ngày sau trời đổ trận mưa lớn, cả nông trường vui như hội. Những ngày này rảnh rỗi, bà con đi hái nấm về ăn. Lúc này em đã quen biết nhiều, cũng theo bạn bè đi hái nấm. Những tay nấm mối bụ bẫm xào lên nghe thèm uống rượu. Em đi mua rượu, được nửa lít để mừng trời mưa. Em cho chừng  nào thì chúng tôi uống chừng ấy, không dám vượt quá quy định.
          Một tháng sau  bắp lên xanh mướt, rẫy mới nên ít cỏ. Kha, Lộc và tôi đi nhận cây cao su giống về. Ba đứa tôi cùng một tổ, vần công với nhau để trồng. Sau năm năm lao động ở trại cải tạo và ở ngoài quê, đây là lần đầu tiên chúng tôi làm chủ được một đứa vài mẫu bắp xen canh với cao su. Ba thằng độc thân nói chuyện trên trời dưới đất, từ văn học, thời sự, chính trị , nhưng rôm rả nhất vẫn là chuyện yêu đương. Những mối tình thời học trò thơ mộng, những tiểu thư một thưở đã sang ngang. Kha buồn  với mối tình đầu, người yêu của nó đi dạy ở Đông Hà vừa kết hôn với một tay cán bộ văn hóa gần bốn mươi tuổi. Người tôi yêu nghe nói cùng với gia đình vào  đâu ở Bình Tuy, mất liên lạc từ năm bảy hai. Lộc chỉ thích nói chuyện tục và pha trò: “Đừng trách người ta, con gái nó có thì, như cây bầu cây bí ấy, nụ cái đến thì, te hé ra mà không có nhụy đực sẽ teo lại, tàn úa. Chờ tụi bay chỉ có nước phơi khô. Tau sẽ lấy một o nông dân, không biết chữ càng tốt, để chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa. Quên đi cho khỏe người để còn sức mà cày. Cha mạ mình nông dân , mình nông dân, con cháu mình mai mốt cũng nông dân, hạnh phúc tới bốn đời… ha … ha..., hoan hô nông dân , hoan hô giai cấp cơ bản…” hắn nhảy tưng tưng, rồi tiếp, “Còn thằng Minh thì khỏi lo rồi, thằng rim rím mà khôn, hắn nuôi con Quê  năm sáu năm nữa sẽ thành đôi- vợ- chồng- công- nhân- hạnh- phúc- chuẩn- mực- xã- hội- chủ- nghĩa, hoan hô giai cấp công nhân tiên tiến… Còn thằng Kha thì …làm thơ”, hắn diễn và ngâm, “ Nếu biết rằng em đã lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong - Vợ anh không đẹp bằng em mấy, vẫn có  "núi đôi” với một… dzòng”…”. Hắn xuống xề một câu vọng cổ rất mùi, hai tay dang ra, mặt đau khổ như kép cải lương thứ thiệt. Tôi nghiêm giọng, “Đừng nói bậy, con Quê mà nghe được thì đừng có trách”. Thằng Kha lo lắng, “Cái miệng mi ăn mắm ăn muối, chuyên nói phét có ngày cũng đi tù rục xương. Mi để “bà chị” giận là tiêu đời nghe con, chiều rượu đâu mà uống”.  Chúng tôi trở về với vài ba tai nấm cho có lệ. Em “lo” hết rồi. Có em đố thằng Lộc dám nói gì, tôi biết tỏng là nó sợ em hơn mẹ nó.

          Cơm chiều, cả bốn cùng ăn. Im lặng. Ậm ừ. Em cười cười vì hôm nay lại trở về tiêu chuẩn “một xị”. Lúc em đi xới thêm cơm, thằng Lộc nhìn theo, mắt láo liên và cười đểu, “ Con Quê nhổ giò rồi đó, vài năm nữa đẹp phải biết”. Thằng Kha trừng mắt, “Người quân tử không được nói sau lưng người ta, có ngon lát nữa nói, hay tau nói giùm mi”, thằng Lộc bỏ đũa xuống, hai tay vái lia lịa. Một xị rượu mới hai tua xoay vần đã hết. Thằng Lộc buồn rầu, “Hôm nay có tâm sự của Kinh Kha (hắn nhìn thằng Kha), kính xin bà chị cho tụi này thêm một xị để chia buồn trong tình huynh đệ”. Thằng Kha cười văng cả cơm, “Thèm uống thêm thì nói đại cho rồi, bày đặt cải lương. Bà chị ơi, nó đang buồn thiệt đó,  nó muốn khen người ta mà không dám nói, cho hắn thêm một xị nữa nghe bà chị”. Thằng Lộc đứng lên, cầm chai xị trước ngực cúi xá em như trong phim kiếm hiệp, đi giật lùi. Em cười, cùng vui lây với chúng tôi. Tôi xin qua tua mấy lần, em tần ngần nhìn như thầm bảo “Anh uống đi kẻo buồn, miễn đừng say là được”. Ngà ngà say chúng tôi ngâm lại những bài thơ một thời yêu mến. Ngâm thơ ít bị để ý như hát nhạc vàng. Em cũng phụ họa vài bài dân ca, làn điệu bài chòi với giọng Quảng Nam đặc sệt, có khi làm chúng tôi xúc động, cũng có khi cười chảy nước mắt:
“Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu Hồng Đào chưa nhấm đã say
Đối với ai ơn trọng nghĩa dày
Một hột cơm cũng nhớ,
Một gáo nước đầy cũng chưa quên”.

Khi nào hát bài này em cũng nhìn tôi rưng nước mắt. Ngạc nhiên nhất là em còn hát được nam ai, nam bình, hoặc cao hứng hò vài câu hò giã gạo giọng Quảng Trị  khá chuẩn. Em bảo ngoại hát hò hay lắm, em nghe hoài nên thuộc.



          Ngày tháng qua nhanh, chúng tôi lấy nương rẫy làm vui. Bắp tốt cao quá đầu người, có cây tới ba trái. Bắp nếp ngắn ngày hơn, đã có bắp tươi để luộc. Buổi sáng em đi làm thuê cho ai đó cũng mang theo gùi , bây giờ cây trồng lên cao mới thấy cái gùi của em lợi hại thế nào. Dân nông trường hầu hết từ vùng đồng bằng Hải lăng, Triệu Phong -  Quảng Trị, không có ai mang gùi như em. Họ dùng quang gánh nên khá bất tiện với công việc và địa hình ở đây. Chiều về em ghé rẫy bắp, loáng một cái đã đầy cái gùi nặng hơn trọng lượng cơ thể mình, đi thoăn thoắt như con gái sắc tộc Gia Rai.
          Em lãy bắp ra xào với nước mắm, tiêu hành, làm một dĩa thật là bắt mồi. Bắp luộc cả nồi sôi sùng sục. Chúng tôi lại lai rai và ăn bắp trừ bữa. Thằng Lộc đùa “ Tính ra một sào bắp nếp của gia đình thằng Minh phải ăn tới ba tháng bắp luộc, khỏi đi chợ”. Em hồn nhiên “ Được một tuần thôi, tuần sau bắp già rồi, để khô lợi hơn. Nhà anh Lộc có bắp nếp tỉa muộn, tuần sau qua nhà anh Lộc xin đỡ tốn tiền”
 Mùa thu hoạch thật bận rộn. Trên xà, dưới nhà, ngoài sân vàng một màu bắp. Người và heo cùng ăn bắp. Bắp là quà trời cho nên ai cũng phổng phao ra. Cặp heo lớn trông thấy, dễ chừng trên bốn chục ký. 
  Buổi chiều thứ bảy, ba đứa tôi ngồi trước sân nói chuyện. Hình như ai cũng có ý đợi em về. Từ đầu xóm, với cái gùi nặng sau lưng, em đi vững chải, nhịp nhàng, ngực ưởn ra như một sơn nữ mãn khai. Thằng Lộc nói bâng quơ “ăn bắp mau phát dữ”. Kha nhìn trời mơ màng hát, “sơn nữ ơi, làm chi cho đớn đau lòng trong một thời gian , rồi thương rồi nhớ…”.  Hai mươi sáu tuổi đầu, chúng tôi  vẫn còn là những thằng trai tân, hồn bồng bềnh, lãng tử khói sương.
   

           1973. Mãn khóa ở Thủ Đức, tôi chọn tiểu khu Pleiku vì…  bài hát “còn một chút gì để nhớ” . Lên tới đó mới hay thị xã miền núi này không nên thơ như tôi tưởng. Ở vài hôm với phố núi, chưa gặp được em “má đỏ môi hồng nào”, tôi phải mang ba lô ra đơn vị.  
 Tôi nhận một trung đội toàn người sắc tộc, chỉ có thằng âm thoại viên tên Luôn là người kinh. Trung đội đóng quân trong một buôn nhỏ, khoảng năm mươi nóc nhà sàn. Buổi chiều đầu tiên, tôi thắc mắc với Luôn là sao buôn làng chỉ toàn người già và trẻ em. Luôn cười bảo “lát nữa đi tắm chuẩn úy sẽ biết vì sao”. Độ năm giờ chiều tôi theo Luôn xuống suối. Hắn chọn một bụi rậm kéo tôi vào đó, bảo “phải đừng để cho các cô thấy mới hay”. Tôi hỏi “các cô nào?”, “trả lời”  tôi là một toán sơn nữ độ hai chục cô, ngực trần, mang gùi theo đường mòn xuống suối. Dưới ráng chiều vàng, những đôi ngực rắn chắc màu cua đồng rung rinh theo nhịp đi. Tôi lặng người với vẽ đẹp hoang sơ đầy ấn tượng. Lần đầu tiên tôi thấy ngực thiếu nữ. Họ tắm hồn nhiên, trần truồng với chỉ một tay, tay còn lại bụm chặt “chổ ấy”. Nằm sấp xuống trên lá mục, kiến vàng cắn đau điếng, nước miếng tôi ứa ra, răng cắn chặt hít hà. Tôi rùng mình, bặm môi xa xót trở thành “đàn ông”. Thằng Luôn cười rất đểu. Chiều đó tôi không tắm suối, theo thằng Luôn về buôn, đêm trằn trọc không ngủ.
         Tinh sương. Nghe tiếng chày, tiếng cười rúc rích, trong ánh sáng tờ mờ, tôi định thần nhìn ra sân: các sơn nữ ngực trần đang giã gạo. Họ cũng giã chày tay như quê tôi, nhưng thế đứng rất lạ: Hai chân chụm lại, khi vung chày lên xuống, đôi vú cũng bật theo, mông tròn lẳn trong những chiếc váy hoa, nhấp nhô, khêu gợi.
         Tôi lân la làm quen, tưởng mình là người “khai phá”. Các cô cứ cười khúc khích, tay bụm miệng. Tôi tức cười nhớ chuyện chiều hôm qua dưới suối, bàn tay các cô lợi hại thật, chỉ cần bụm lại là xong chuyện. Một cô nói tiếng kinh lơ lớ,  như muốn cho mọi người cùng nghe “Hồi hôm kiến vàng cắn có đau không chuẩn úy?”, các cô cười rộ lên. Hóa ra chuyện  “bí mật” của tôi và Luôn các cô đã biết tỏng. Những ngày sau đó tôi không dám đi rình các cô tắm nữa. (Sau này mấy  người lính sắc tộc cho biết là các cô biết mấy ông người kinh hay rình, nên  treo ổ kiến vàng ở bụi cây bên bờ suối).
Buổi sáng chúng tôi rút quân đi, các sơn nữ không còn cười rúc rích, chỉ nhìn theo, buồn. Những đôi mắt mờ sương núi ám ảnh tôi mãi những ngày tháng sau đó.  

     
Mới bảy tám tháng mà trông em khác hẳn. Em hay nhờ tôi đo chiều cao hằng tháng, lấy cái thước để trên đầu rồi làm dấu vào cột nhà. Em reo lên “Em cao thêm được năm phân rồi, vài năm nữa sẽ cao bằng anh cho coi”. Tôi đùa, “Cao bằng thằng “còi” mần chi, phải cao hơn anh mới đẹp”. Em nũng nịu “Không cần đẹp, chỉ cần thấp hơn anh một chút”. 

Một sáng dậy, không thấy em đi làm mà ngồi khóc. Tôi bối rối tưởng mình làm gì để em buồn, hỏi: “Chuyện chi rứa Quê?”. Em nói trong tiếng nấc, “Em bị bệnh rồi, nặng lắm”. Tôi luống cuống, “Bệnh chi nói cho anh biết để còn lo liệu chớ”. Em ngước nhìn tôi, mắt nhòe nước, ngập ngừng “ Máu ra nhiều lắm, chắc em chết. Em thức cả đêm, không dám gọi anh. Có lúc sợ quá, em mê đi, thấy ai đó về rủ em đi theo ngoại. Em chết rồi ai nấu cơm cho anh, ai dăng mùng lúc anh say rượu, heo đói ai cho ăn...còn cả mẫu rẫy chưa làm cỏ xong…”. Tôi hiểu ra , vừa tức cười vừa thương em đến xót xa. Tôi làm mặt bình thản, nghiêm nghị “Anh biết rồi, em không có bệnh chi hết. Con gái lớn lên ai cũng rứa, anh đọc sách biết rằng đó là kinh nguyệt. Để anh đi mua ít vải mùng về, em băng vài bữa là hết. Đừng lo”. Đoạn tôi chạy ù ra cửa hàng mua cho em mét vải mùng. Bản năng phái nữ giúp em làm những việc còn lại, tôi không phải chỉ dẫn thêm. Mà tôi có biết gì ngoài những điều trong cuốn “tuổi dậy thì” đọc từ hồi học lớp đệ tứ.

Những cơn mưa cuối mùa ầm ào trút nước. Hai vụ mùa bội thu bắp lúa đầy nhà mà giá bán rẻ mạt. Em tiếc không bán nên nhà không còn chổ chứa.  “Phòng” của em che bằng thân tre đập dập, chất đầy lúa. Bắp treo kín xà nhà. Chỉ còn duy nhất bộ phản của tôi là nơi vừa dọn ăn, tiếp bạn và ngủ. Tôi ái ngại về chổ ngủ của em. Trong bữa cơm tối , em nói tỉnh bơ: “Bộ phản còn rộng , em ngủ ngoài này cũng được. Mai mình kêu người bán heo, mở rộng chuồng rồi mua ba cặp heo về nuôi. Để bắp nuôi heo lợi gấp đôi. Còn lúa ra tết mới bán. Được không anh?..”. Tôi ngậm ngừ: “Cái chi cũng được, riêng chuyện anh em ngủ chung thì…kỳ quá. Hay là anh treo võng ngủ trước hiên… cho mát”.  Em có vẽ không vui, nói “tùy anh”.
 Cơn mưa vẫn không dứt. Trước hiên mưa tạt chưa thể treo võng. Tôi bảo “em ngủ đi, anh sẽ ngồi đọc sách đến sáng, mai chủ nhật ngủ bù cũng được”. Em bối rối như muốn nói điều gì đó, nhìn tôi ngập ngừng rồi lại thôi. Tôi nhẹ nhàng “Em định nói chi phải không? Anh coi em như em gái, có chi cứ nói”. Trầm ngâm một chút,  rồi em  nói, giọng run và nhỏ: “Tuần sau là đúng một năm giỗ ngoại, anh cho em làm mâm cơm cúng ngoại nghe”. Tôi nghiêm giọng “Nhà này của em một nửa. Không những em có quyền cúng giỗ mà phải lập bàn thờ ngoại. Em nên kể với anh về gia đình. Đã kết nghĩa anh em thì phải chia sẻ buồn vui với nhau chớ, phải không?”.  Em xúc động thút thít khóc, quay đi lấy mấy chén chè đậu nấu sẵn đặt lên tấm phản: “Câu chuyện dài, có thể đêm nay anh em mình không ngủ.  Anh ăn chè đi, em sẽ kể…”
- Lúc gặp ở trên tàu, em mường tượng như đã từng gặp anh mô đó. Linh cảm mách với em rằng anh là người tử tế. Sau đó biết thêm anh Lộc và anh Kha, và biết rằng các anh từng là lính Ngụy. Năm năm đi học ở quê, ngày nào cũng có nhắc đến Mỹ Ngụy, Những phim ảnh chúng em xem thấy tên Ngụy nào cũng ác. Em cũng căm thù mẹ em vì từng cộng tác với Mỹ, đẻ ra em mang dòng máu của kẻ thù, vứt em lại cho ngoại rồi vượt biên. Ngày nào đi học em cũng bị bạn bè chọc ghẹo là con lai. Mấy lần em định tự tử nhưng nghĩ đến ngoại nên không đành. Ngoại biết suy nghĩ của em, một đêm mưa như thế này, em nằm bên nghe ngoại kể, giọng Quảng Trị của anh: Mẹ em là con út của ngoại, con khác cha với với các cậu. Ông ngoại mất lúc bà bốn mươi tuổi. Thời đó chiến tranh loạn lạc. Cậu Hai và cậu Ba đều đi du kích. Thời hai cậu còn hoạt động nằm vùng, ngoại khổ cực trăm bề. Trong một lần lính Tây tràn qua làng bắt ngoại đi vì có liên hệ với Việt Minh. Mặc dầu đã trên bốn mươi ngoại vẫn còn nhan sắc, được ông đội người gốc Ấn bảo lãnh làm vợ, rồi sinh ra mẹ em. Nhớ quê ở huyện Quế Sơn , ngoại đặt tên mẹ là Ân thị Quế, (có lẽ  hàm ý là con của người Ấn,  làm chi có họ Ân, phải không anh?). Ngoại kể là năm 1954 ông người Ấn (tức ông ngoại ruột em) về Pháp, hằng tháng vẫn gửi tiền về cho ngoại, đến năm 1960 thì mất liên lạc. Hồi đó ngoại và mẹ ở Sài Gòn, có lẽ lúc đó mẹ cũng bằng tuổi em bây chừ. Mẹ em học trường Tây đến năm 1961 chuyển qua chương trình Việt, đậu tú tài năm 1964, nói thông thạo cả tiếng Anh lẫn tiếng Pháp. Rồi mẹ được tuyển dụng làm nhân viên gì đó trong tòa đại sứ Mỹ. Năm 1967 em ra đời. Ít khi mẹ nhắc đến ba em. Có lần em hỏi  thì mẹ nói cha em chết rồi. Em gần ngoại hơn mẹ.
 Em còn nhớ là hồi đó gia đình em ở trong một chung cư, phần nhiều là người nước ngoài. Một hôm trước hành lang thấy người ta chất đầy va li, người nào cũng có vẻ lo lắng. Buổi sáng mẹ bảo đi gặp cậu  Khang đang nằm bệnh viện. Cậu Khang thương em lắm,  mỗi lần đến thăm hay hôn em và bảo: con gái của ba ngoan, mẹ chỉ cười và nhìn đi chổ khác. Nghe nói cậu đang là sinh viên thì bị tổng động viên đi sĩ quan gì đó. Ngoại nhận cậu làm con nuôi chứ không bà con chi cả. Hôm đó không gặp cậu Khang, mẹ đưa em về nhà cho ngoại, tối đó mẹ không về. Ngày hôm sau bộ đội đến tiếp quản, hẹn trong ba ngày mọi người phải rời khỏi chung cư, lý do đây là khu quân sự. Ngày thứ ba, mẹ vẫn không về. Ngoại khóc quá chừng. Hai bà cháu bơ vơ giữa thành phố, ở tạm trên hiên nhà người ta gần một tháng rồi về lại Quế Sơn. Đến chừ em cũng chẳng biết mẹ đi mô. Cậu Hai nói là mẹ đi theo địch…
Lần đầu em gặp cậu Hai vào ngày giỗ ông ngoại cuối năm 1975. Cậu mang cái xắc màu đỏ, đi xe đạp, có cái đèn pin và cái đài tòn ten bên hông. Ngoại và em đã lo mâm cỗ từ đầu hôm. Ngoại đứng chắp tay chờ cậu làm lễ. Cậu chỉ thắp nhang rồi nhìn bà cháu từ đầu đến chân, ra dắt xe đi không chào hỏi. Năm ngoái cậu lại về, nhân ngày giỗ cậu Ba. Trong câu chuyện với ngoại, em nghe cậu nói: “ Sổ liệt sĩ của chú ba tôi đã trả lại cho bên thương binh xã hội, bà không có quyền hưởng.  Bà và con Quế làm gì ở huyện này ai cũng biết.  Còn từ nay bà cũng không có quyền cúng giỗ cha tôi nữa”. Cậu quày quả bỏ đi, nhìn em với ngoại như kẻ thù. Mâm cơm không ai ăn. Ngoại quỵ xuống, đôi mắt trắng giả rồi tắt thở. Em ôm ngoại cả đêm, càng lúc ngoại càng lạnh. Chôn ngoại xong em như người điên, tối mang chiếu ra mộ ngủ với ngoại. Gần một tuần đêm nào cũng nằm bên mộ, em mộng thấy ngoại hiện về bảo “Quê ơi, ngoại về Quảng Trị với tổ tiên rồi, không còn ở đây nữa. Cháu đừng ngủ đây mà bệnh.  Cháu đi vào phía Nam đi, trong đó ruộng rẫy nhiều lắm, cháu  giỏi giang tốt bụng thế nào cũng có người giúp đỡ ”. Thế là em về nhà lấy một ít khoai khô, mấy bộ áo quần, mấy ngàn ngoại để lại bỏ vào gùi rồi lên tàu. Em biết thế nào lời ngoại cũng linh thiêng , cho nên em gặp anh.
            -  Ngoại có kể là quê làng mô ngoài đó không?
            - Ngoại không nói rõ, chỉ biết làng ngoại ở bên một khúc sông rất đẹp. Lớn lên trong tiếng hò thương hồ hằng đêm não nuột. Mười sáu tuổi ngoại đẹp như trăng. Những mái chèo ngừng nhịp, xao xuyến mỗi lần ngang khúc sông lấp lán nụ cười o Nhan (tên của ngoại). Ông quan nhà Nguyễn hào hoa  trong một lần ra thăm Quảng Trị  bằng đường sông, ngang bến nhà ngoại, neo thuyền rồi tổ chức mấy đêm liền hò đối đáp trên sông. Ông quan ba mươi tuổi phải lòng người đẹp hò hay nhất làng. Ngoại từ biệt bến sông thời thơ ấu theo ông quan vào Huế làm vợ lẻ. Năm 1945 ngoại theo chồng và hai con về Quảng Nam, ông ngoại mất vào năm đó.

        Mạ tôi năm nào cũng giỗ dì tôi. Mỗi lần đốt nhang bà khấn: “Chị ơi sống khôn thác thiêng, về đây với ông bà tổ tiên. Ngày này chị bỏ nhà đi, em không biết chị còn sống hay đã chết. Hồi đó em còn nhỏ nhưng luôn hãnh diện về chị. Chị đẹp người đẹp nết, hò hay nhất vùng. Từ ngày chị đi em không dám ra bến. Nhớ dáng lưng ong trong chiếc áo nối(3) vải đà, nhớ buổi chiều chị bước xuống thuyền quan là em khóc ngất. Mỗi lần nghe ai đó hò trên sông là em bịt tai lại, vừa giận chị lại thương cho kiếp hồng nhan. Mạ không cho em theo trai bạn hò đối đáp như chị. Năm em mười sáu tuổi, mạ gã chồng làng bên để còn lo mồ mã nhà mình. Nhà cửa  chiến tranh cháy hết, cha mạ cũng qua đời rồi. Bến nước chị hay ngồi nhìn sông vẫn thế. Em có lập am thờ chị ngay bến nước ngày xưa, dân làng vẫn gọi là “bến O Nhan”. Chị về đi,  hương hồn cha mạ đang chờ.”
      Đêm rờn rợn. Gió nơi nào cũng như nhau. Đêm nơi nào cũng như nhau, ếch nhái kêu cũng thế. Cũng buồn thê thiết như  bài thơ Đường của Bà Huyện Thanh Quan, lao lung như tiếng Nam Ai  Huyền Trân công chúa, “Nước non ngàn dặm ra đi…”, cũng xa, gần như EM và TÔI. Đầu em nghiêng xuống, chao đi trong ánh đèn dầu. Hồn tôi nghiêng xuống, gần em hơn. Trời thì cứ gầm rú. Tôi thì chao đảo như ngọn đèn, chợt lóa lên rồi chực tắt. Ngoại ơi, dì ơi, chị Quế ơi, Quê ơi. Bản đồ đất nước mình cong như đứa con gái khòm lưng gánh câu hò chạy dọc đường Cái Quan. Có ai xuôi vạn lý . Có ai về với nhau. Câu hát bài chòi ơi! Câu  hò “ân tình”, “đâm bắt” ơi! Em cứ khóc đi. Tôi cứ khóc đi, cho thỏa. Ngoại dẫn em về cho tôi theo tiếng hò da diết, “Đi mô cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp theo”.
                                                
Nguyễn Đăng Mừng                       
Sài gòn  (Đêm 25.10.2007)

       (1)Rẫy cháy luộc: Phá rẫy xong phải phơi nắng đủ khô mới đốt. Nếu đốt sớm hơn cây sẽ không cháy hết, rất khó dọn.
      (2)Tỉa đón mưa: Rẫy đốt xong mà trời sắp mưa, tỉa hạt trên đất khô chờ mưa xuống, mầm hạt sẽ lên nhanh, cỏ không kịp chụp.
 (3) áo nối: Thời đó chưa có vải in hoa, phụ nữ thường mặc áo nối hai màu cho đẹp, thường là màu đen và đà.

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2009

MÃI HOÀI NHƯ RỨA - NĐM



MÃI HOÀI NHƯ RỨA             

Nguyễn Đăng Mừng

Kính tặng chị TKL
           Từ ngày Nhan trốn đi ngày tháng dài ra. Mối tình đầu của tôi tội nghiệp như cọng khoai lang sau mùa lũ. Nhan đi đâu mấy tháng rồi bặt vô âm tín.
       Làng xóm xác xơ trong cái rét tháng giêng. Mùa giáp hạt cả làng đều đói. Một ngày gánh phân đi trồng khoai sau rú về, tắm rửa xong, cầm cây đàn ghita ra vườn sau , hát khe khẽ một mình. Đang lãng đãng với Dư âm, Suối mơ…thì nghe tiếng Thanh - em gái  tôi lên tiếng: “không được hát nhạc vàng, có cán bộ tới kiểm tra nì”.  Tôi gật đầu chào cô gái đứng bên. Thanh giới thiệu: “Đây là Nghi Đông học lớp sư phạm với em mới ra trường, cùng về dạy trường làng mình, một giọng hát vàng, chuyên gia hát chui của lớp đó. Còn đây là anh Bình, anh trai của Thanh mới cải tạo về, một tay ghita có hạng, hai người hát với nhau đi. Thanh đi ngước cho mạ một khúc, hôm nay mạ đi bứt cỏ cho trâu”. Thanh đi rồi hai đứa ngồi im, cây đàn trên tay rạc rời từng nốt. Tôi ngừng lại một chút, hỏi:
- Đông ở mô trong Huế?
-  Dạ An Cựu
-  Ra dạy đây có buồn không?
-  Hồi đầu thì buồn, nhưng chừ quen rồi, lại thương.
Làng quê nghèo khổ của tôi  toàn cát với cát, mưa gió lụt lội, một cây đu đủ cũng không sống nổi, chỉ còn cây tre khẳng khiu chịu đựng, có gì đâu mà em “lại thương”. Tôi bối rối hỏi một câu, mà sau này nghĩ lại thiệt là vô duyên, quê mùa:
- Có thương ai chưa.?
- Dạ thương học trò, đứa mô cũng siêng học và lễ phép. Chỉ tiếc là nhà trường không cho mặc áo dài, một lần lên lớp dị òm.
- Răng mà không cho mặc, áo dài là quốc hồn quốc túy mà?
- Họ noái mặc áo dài có vẻ tiểu tư sản, yểu điệu quá. Quan điểm giáo dục của xã hội mới là gần gủi nhân dân, giáo viên nhân dân mà. Đông chỉ chừa lại hai cái làm kỷ niệm, còn chừng mô là cắt làm áo ngắn hết. “Một áo dài thành hai áo ngắn, tình yêu mình là sắn là khoai”.
Cả hai cùng cười. Tôi dạo một khúc nhạc  “Em đến thăm anh một chiều mưa”. Đông bắt giọng nhịp nhàng. Tay tôi run lên, lòng  xốn xang theo giai điệu  một thời không được hát. Giọng ca ngọt lịm, dịu dàng rồi vút lên cao vời mơ ước “ Ta ước mơ một chiều thêu nắng, em đến chơi quên niềm cay đắng và quên đường về”. “Niềm cay đắng” của thế hệ tôi và em, dệt bao nhiêu là mộng, đến nay một chiếc áo dài cũng cắt ra thành áo ngắn. Chiếc áo dài  e ấp mà trang nghiêm, ước mơ của bao  giáo sinh sư phạm đã bị bức hiếp phũ phàng. Đông ngước  nhìn lên, giọng em vời vợi, lá tre rung rinh dưới ánh trăng xao động. Tôi mường tượng một khuôn trăng non nào ai hoài xa tít. Buổi chiều chạng vạng trong vườn đầy tiếng ve, bứt rứt dậy thì.  Lời ca và mắt Đông nói hộ em, và cả tôi nữa, biết bao điều sóng sánh, ngạt ngào.
            Chiều nào Đông cũng ra nhà tôi, phụ với mạ và Thanh những việc nhà nông. Có khi cùng ăn khoai lang với gia đình. Rồi cùng hát với tôi, hát cũng là một cách “chống đói”, đến giờ ngủ mới trở về trường. Mạ tôi hay đùa: “con gái Huế danh gia vọng tộc, có chịu nỗi cực khổ ngoài ni không. Cũng nên chịu cực cho quen, không thôi mai mốt lỡ ưng (yêu) thằng mô rồi khổ…  Nói rứa chơ làm du (dâu) nhà ni cũng không đến nỗi…”. Đông cũng đùa: “Mạ dạy cho con sàng sảy lúa gạo cho quen, mai mốt làm dâu không lẽ để bà gia (mẹ chồng) làm hết việc…”. Nhìn Đông tập sàng gạo cả nhà cười vang, tôi cũng đùa “Đông sàng gạo như bánh xe đạp bị cong niềng, cứ lảo đảo như sắp bổ (té, ngã) đến nơi, cứ sàng đi, bổ thì anh đỡ.” Đông “ứ” một tiếng, nhìn tôi đỏ mặt.
            Mùa hè đến. Đông sắp vào Huế nghĩ hè. Ve bắt đầu hát trên những rặng tre sau vườn nhà. Một tối sáng trăng, chỉ có hai đứa , tôi hỏi Đông:
             -Ba mạ Đông hiện làm chi?
   Mắt Đông gợn buồn rồi kể:
            - Mạ em mất hơn mười năm rồi. Ba đi theo cách mạng về có bà vợ khác.  Hai chị em không thích ở chung nên từ năm 75 về ở bên ngoại. Chị  Đông  đang dạy ở trường Quốc học. Còn một anh trai nữa đi cải tạo ngoài Bắc chưa về.
- Anh cấp bậc chi, ở đơn vị mô?
- Đông cũng không biết, chỉ có lần nghe anh nhắc tên làng này.
- Phải tên Hy không?
- Sao anh biết?
- Còn Đông tên là Bo, chị là Xuân phải không?
- Còn anh là…
- Là anh chi đó.
- Anh chi đó ... bạn anh Hy. Ôi trời! Trái đất tròn...
 Hai đứa cười ngỡ ngàng xa xót. Rồi Đông khóc, nước mắt lăn trên má, đẹp hơn cả chị Xuân ngày đó.  “Người ơi còn nhớ mãi trưa nào chiều nào vàng bướm bên ao...”. Tôi hát lớn, không cần giữ ý tứ gì nữa: “Ôi những đêm dài hồn có mơ hoài một giấc ai mơ, buồn sớm đưa chân cuộc đời…” . Bài hát dứt. Đông lúng túng đứng lên, em sợ. “Thôi Đông về, khuya rồi”. Em bước lùi, tôi bước tới, bóng lá tre theo ánh trăng lao xao trên khuôn mặt đẹp đến não nùng. Tôi hôn em, lần đầu trong đời, vụng về run rẩy: “Lần đầu ta ghé môi hôn, những con ve nhỏ hết hồn kêu la”(Thơ Trần Dạ Từ). Tiếng ve theo em, theo tôi khản giọng suốt đêm hè.
                                             
***
             Năm đó tôi học đệ ngũ ở một trường quận cách Huế năm muơi cây số. Đạp xe từ làng đến trường cũng non mười cây nữa. Đi qua những làng xóm ruộng đồng heo hắt,  đoạn  thì gặp du kích, đoạn  lại gặp lính Cọng hòa. Mấy anh cứ dặn là không được báo với đối phương của họ. “Đi cúi mặt xuống đất, về cất mặt lên trời”, mẹ tôi dặn thế. Có lúc lại gặp những xác chết của cả hai bên, chúng tôi cúi đầu đạp xe không dám nhìn.
              Có một đại đội địa phương quân đóng đồn gần nhà . Gia đình tôi có hai chị gái khá xinh đẹp, các ông sĩ quan thường tới lui tán tỉnh. Tôi được các ông cưng chìu lắm, vì thường làm chim xanh chuyển thư cho họ đến các chị. Có lần bị chị đánh vì cái tội thày lay. Anh  trung úy Hy không bao giờ nhờ  chuyển thư, cũng chẳng tán tỉnh ai. Anh chỉ “chơi” với tôi, khi thả diều, khi đi bắn chim, tát cá. Anh có chiếc Honda 67 mới toanh, một lần anh cho cưỡi chạy một vòng là sướng mê ly. Tôi hay mượn sách anh để đọc, thường là những cuốn sách dịch khó hiểu. Anh bảo khi nào cùng anh đi Huế chơi một bữa, mấy cô em của anh ấy có tủ sách Tự Lực Văn Đoàn đầy đủ lắm. Tôi mừng rơn. Từ nhỏ tôi chưa bao giờ cầm được cuốn sách của Khái Hưng, Nhất Linh mà trong chương trình học thường trích dẫn.
      Chiều chủ nhật anh Hy xin với chị tôi cho thằng Bình đi Huế. Chị đồng ý với điều kiện sáng mai phải có mặt ở nhà, để chiều còn đi học. Ngồi sau lưng anh Hy, những cánh đồng, xóm làng khuất nhanh. Thành phố Huế trong mơ mồn một trước mắt. Con gái con trai ai cũng đẹp, cũng thanh thoát, chẳng bù vào những người quê tôi, lam lũ, luộm thuộm.  Tưởng tượng mình làm thi sĩ lạc bước vào chốn thiên thai mà sướng ngất. 
Anh Hy chở về nhà. Nhà anh Hy buổi chiều không có ai, anh dặn: “Bình ngồi chơi, anh đi đến bạn anh một chút, anh về liền”. Tôi ngồi đợi. Anh Hy không về. Đèn điện đường đã sáng, anh cũng không về. Ngồi trong phòng tối mờ mờ, toàn là sách với sách, tôi lấy vài cuốn ra coi, phần nhiều là sách tiếng Pháp, tôi lại chẳng biết chữ nào. Hoang mang.  Im ắng quá, tôi đi ra vườn. Sắp đến mùa hè, ve kêu ran. Tiếng ve nhà vườn ở Huế khác tiếng ve trên những rặng tre ở quê tôi, giọng nó khàn hơn, như giọng con trai bể tiếng, còn giọng ve ở làng tôi như giọng con gái dậy thì, nó the thé, rất con gái.
 - Ê, ai cho vô đây?
Cô gái tóc dài chợt xuất hiện lên tiếng hỏi làm tôi giật mình lúng túng,  đứng lên nói như sắp khóc:
- Anh Hy chở tui vô đây rồi đi mô mất. Chị chỉ đường cho tui về nhà, chừ còn xe ra Quảng Trị không chị.
- Cậu là chi của anh Hy?
        - Dạ thưa chị, anh Hy đóng quân ở làng em, chủ nhật nên anh cho em đi Huế chơi. Biết ri thì em không đi mô.
        - Cái ông Hy ni đoảng thiệt. Thôi cứ ở đây ăn cơm với chị, tối chị dẫn đi chơi. Đoạn chị nói lớn: “Bo  ơi, có bạn đây nì, ra chơi với anh để chị đi nấu cơm”.
  Có tiếng dạ rất ngọt, thanh như tiếng ve ngoài làng:
 - Ai rứa chị?
 - Bạn của anh Hy.
 Cô bé tóc đuôi gà nhìn tôi thất vọng, đôi mắt đen láy chớp  chớp, ngần ngừ:   
- Bạn anh Hy chi mà nhỏ rứa?
- Nhỏ cũng bạn anh mình.
  Rồi chị quày quả đi vào bếp, nói với lại.
- Nấu cơm ăn xong, Bo dẫn anh chi đó ra phố chơi nghe.
    Í da, tôi sợ phát run lên, răng chị không cùng đi, bé Bo mà trở chứng thì tôi biết cậy ai đây, hởi trời!
 - Chị Xuân ơi, cơm chín chưa, đói quá rồi nì.
             - Người chi mà xấu máu đói. Mới ăn chè khi chiều mà la đói rồi. Mời anh chi đó  vô ăn cơm luôn.
Bo dạ, rồi lí nhí:  “Vô ăn cơm hè”.
Mâm cơm có dĩa rau khoai luộc, một chén nước ruốc  và một dĩa cá bống kho khô. Đặc biệt nồi cơm nhỏ xíu, tôi nghĩ xới vài chén là hết. Hồi trưa được chị cho đi Huế, mừng quá nên chỉ ăn một chén, đang đói cồn cào, nồi cơm này ngoài nhà tôi ăn một mình cũng chưa no. Nhưng  là khách, nhớ câu mạ dặn “miếng ăn là miếng xấu” nên tôi từ chối chén thứ hai. Thế mà khi ăn xong trong nồi vẫn còn cơm. Hai chị em ăn như mèo. Chắc họ ăn vặt cả ngày, tôi nghĩ thế.
Chị Xuân vừa dọn bàn vừa nói.
- Em thông cảm, thứ hai bài vở nhiều quá, chị phải ở nhà làm bài. Bo nhớ đưa anh ra coai sông Hương nghe, ban đêm đẹp lắm.
 Bo dắt chiếc xe đạp mini ra, giọng rành rọt:
- Anh chở tui nghe, có biết đi xe đạp không đó?
Gì chứ đi xe đạp là nghề của tôi mà. Bo ngồi lên phía sau, hai chân một bên, ý tứ như người lớn. Chúng tôi đèo nhau đi qua cầu Trường tiền, rẽ về Thương Bạc, lên cầu mới rồi quay về nhà chưa đầy nửa tiếng. Dọc đường không ai nói với ai tiếng nào. Chị Xuân hỏi:
-  Đi chi mau rứa?
- Thì anh ưng đi mô thì đi chớ Bo có ý kiến chi mô.
- Bo hướng dẫn viên kiểu chi lạ rứa, phải chỉ cho anh chổ ni chổ tê để anh biết chớ.
Chị Xuân hướng dẫn cho tôi ngủ ở phòng khách, trên chiếc sập cổ. Tôi nằm nghe ve kêu, mơ màng như lạc vào khu vườn nào đó trong truyện cổ.  Tôi nghe loáng thoáng tiếng hai chị em nói gì đó lẫn trong tiếng ve, thỉnh thoảng lại cười rúc rích. Chị Xuân nói vọng vào:
  - Lấy sách mà đọc đi em.
  - Sách tiếng Pháp em không đọc được.
  - Em thích đọc sách chi?
  - Chị có cuốn mô của Khái Hưng hay Nhất Linh cũng được. 
Chị đem cuốn sách vào rồi bật đèn sáng lên, Bo bưng chén chè hạt sen theo sau, đặt lên bàn và “mời anh ăn chè”. Tôi nhìn chén chè bé tẹo, nghĩ đến cơn đói nếu đêm này đọc hết cuốn sách kia. Mà tôi phải đọc hết, vì nó là Hồn Bướm Mơ Tiên, cuốn sách mà tôi hay nghe thầy tôi …kể.  Tôi đọc một mạch đến hết cuốn sách, đồng hồ điểm năm giờ sáng. Ve giờ này im hẳn. Tiếng hai chị em nói chuyện nghe rỏ hơn:
- Bo mặc áo ni vô trong cho đẹp, chị mới may cho Bo đó.
- Em không mặc mô, nóng lắm.
- Con gái lớn rồi, người ta dòm dị chết. Mạ bắt chị mặc áo lót từ lớp đệ thất, năm nay đệ lục rồi, Bo không sợ mạ buồn răng.
Im lặng. Có tiếng khóc thút thít: “Dạ, Bo mặc.”.
 Tiếng ve kêu. Bắt đầu chỉ vài con cất tiếng rồi dần lan ra, râm ran cả vườn cây. Có tiếng gõ cửa, Bo bước vào với chiếc áo dài trắng trông lớn hẳn lên, lí nhí: “mời anh ra ăn sáng”.
            Chị Xuân mới rạng rỡ làm sao. Ngoài quê tôi chưa thấy ai đẹp như thế, chị tròn lẳn trong chiếc áo dài trắng, đôi guốc cao gót cũng màu trắng làm chị cao hơn. Tóc chị dài phủ quá eo, đen mượt. Chị  ngồi vào bàn sau khi duyên dáng hất mái tóc về phía sau. Bo thì không thế vì tóc cột đuôi gà. Bữa ăn sáng là ba chén cháo đậu đỏ,  dĩa cá bống thệ kho khô như hồi hôm. Ăn cháo xong thì anh Hy về, dựng xe rồi nói lớn.
            - Xin lỗi nghe, hôm qua gặp mấy đứa bạn ở xa về nói chuyện và uống bia vui quá nên quên mất.
            Chị Xuân háy anh trai: “ Chưa có ai đoảng hậu như anh, mời người ta đi Huế chơi mà bỏ đi chừ mới về. Anh ở chơi với anh chi đó, chị em tui đi học đây.”.
Tôi nhìn theo hai tà áo dài khuất sau bình phong màu rêu. 
Anh Hy vào thắp nhang trên bàn thờ rồi quay ra, đèo tôi chạy một vòng quanh thành phố Huế rồi thẳng ra Quảng Trị.
Tôi hỏi:
- Ba mạ anh ở mô?
- Ba anh đi theo bên tê từ lúc bé bé Bo mười tuổi. Mạ anh mất năm ngoái.
- Bên tê là Việt Cộng phải không? Răng anh lại đi lính bên ni, lỡ hai cha con gặp nhau…
- …
 Từ đó về làng tôi không dám hỏi thêm câu nào, chắc anh đang buồn lắm.
                                      
                                                ***
             Giáo viên quê tôi từ hai nguồn, một số từ phía Bắc vào, gọi là khung, còn lại là tốt nghiệp ở trường sư phạm Huế. Giáo viên ở tập thể trong trường. Hiệu trưởng tên Lung, dáng người thấp đậm. Em tôi kể “Tay Lung này ghê lắm. Giáo viên nữ mệt với hắn. Đêm nào cũng bị gõ cửa phòng, chỉ có nhóm tụi em là  hắn không dám đụng”. Có lần  thấy hắn đứng lắc theo sau mông một cô giáo đang sảy lúa, học sinh vỗ tay cổ vũ theo nhịp sảy, hắn hứng chí lắc mạnh hơn. Làng tôi nổi tiếng làm quan, nghe nói các đời trước có nhiều người vô làm quan trong dinh (Huế). Lớn lên tôi chẳng thấy ai làm quan là mấy, đến đời tôi  trong làng chỉ còn ba đứa, cao nhất là thiếu úy. “Di sản” của “làng quan” là giọng nói gần như giọng Huế và sáu họ đều là họ Nguyễn, chỉ khác chữ lót. Dù vậy dân làng vẫn còn giữ nét phong hóa làng quê tốt đẹp. Thấy cảnh “biểu diễn” của “ông thầy”, các phụ huynh đi gặt dừng lại xem, lắc đầu ngao ngán.
             Nhà tôi ở sát bên trường. Những đêm họp nghe rõ mồn một. Họ hay cãi nhau, thường là chuyện phân phối lương thực, thực phẩm. Họ cũng làm ruộng, gọi là cải thiện.
             Một tối tôi nghe giọng nói trịnh trọng của hiệu trưởng Lung “Hôm nay chúng ta họp kiểm điểm tư tưởng của cô Đông. Theo báo cáo của quần chúng là hằng đêm cô Đông thường ra nhà của cô Thanh để hát nhạc vàng với anh trai cô ấy, một sĩ quan cải tạo về chưa có quyền công dân. Là một giáo viên nhân dân, cô  phải tường trình và làm kiểm điểm trước hội đồng giáo viên”. Tôi lạnh toát cả người, thương em đứt ruột. Một giọng Huế nghe không rõ, chắc là của Đông, tôi chỉ nghe được câu cuối, “...thưa thầy, em nhận lỗi”.
             Từ đó Đông không ra nhà tôi nữa.
             Tôi cũng bị đưa ra trước hội thanh niên, cũng tường trình, cũng viết kiểm điểm. Cả ngày làm việc cật lực, tối về nhớ em quặn lòng. Cây đàn cũng bị tịch thu rồi.
            Tôi trốn làng đi lúc nửa đêm, nhìn lại ngôi trường buồn tênh, em chắc cũng đang nằm khóc trong đó.
             Ngồi chờ tàu trên ghế đá khuất cuối hành lang, nơi năm ngoái chia tay với Nhan. Nhớ Nhan, nhớ nụ hôn đầm đìa nước mắt trên má. Nhớ Đông, nhớ nụ hôn luống cuống dưới bóng tre, chập chờn ánh trăng ma quái, như chiêm bao thời mới lớn. Tôi trùm cái mền dạ lủi lên tàu. Tàu ầm ầm mang tôi chạy trốn  quê cha đất tổ, lủi dần vào đêm tối. Các em đến với đời tôi thơ dại như búp bông khoai tội nghiệp, tim tím mơ hồ, lao đao trong gió bấc tháng hai. Tôi hứng các em bằng vòng tay vụng về, lơ ngơ dây khoai ngoằn ngoèo trên đất cát, không biết bám vào đâu. Cát trắng tinh tuổi thơ tôi chăn trâu bắt cá, có hương hoa ép chặt vào giấc mơ, có bông hoa dẻ ép vào vở học trò, thơm huyễn hoặc da diết. Tôi ôm theo tình yêu các em, như hồi nhỏ ôm bịch trái sầu đâu chơi ô làng. Tôi ăn gian rồi không cho lại, không nghĩ đến con bé hàng xóm khóc thút thít vì đánh ô làng thua tôi sạch tay. Giờ đây, tôi và các em cùng sạch tay như nhau, trong cuộc đời ảo này.
***
            Tôi đi nhiều nơi, từ miền Đông đến miền Tây Nam bộ, từ cao nguyên đến đồng bằng, làm đủ nghề để sống. Mỗi lần mùa hè đến nghe tiếng ve, lòng lại  rạo rực như thời mới lớn, cháy bỏng nụ hôn đầu đời. Năm năm sau tôi lấy vợ, sinh con. Cuộc sống lao đao cùng cực, chẳng còn hơi sức đâu mà nghĩ đến đàn địch hát hò.
    Ở vùng kinh tế mới miền Đông Nam bộ, vợ tôi bị sốt rét nằm liệt giường cả tháng. Chúng tôi đã bán đến thùng lúa cuối cùng để chỉ mua thuốc ký ninh. Con tôi vừa dứt sữa, vì còn sữa đâu mà bú. Cháu khóc ngằn ngặt đòi bú. Tôi bón cháo loãng cho cháu, tay run lên nghĩ đến ngày mai. Ngày mai là tương lai, là đẹp, nhưng với vợ chồng tôi thì … Ngồi ru con bằng những bài hát ru ngày xưa mạ hát “Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội, huống chi người xa người tội lắm người ơi. Chẳng thà không biết  thì thôi, biết rồi mỗi đứa …ơ ơ..biết rồi mỗi đứa mỗi nơi…sao đành.” Thấy tôi khóc, vợ hỏi “Anh có mối tình nào trước khi gặp em không?”, tôi nói có. “Sao không nghe anh kể?”. Tôi kể lại thật lòng không thêm bớt. Đến đoạn tiếng ve và ánh trăng xuyên cành lá tre…tôi hát não nề “Ôi những đêm dài hồn có mơ hoài…” Vợ tôi khóc nức nở. “Răng anh hát bài “Hương xưa” hay rứa mà chưa khi mô nghe anh hát.” Tôi ngậm ngùi, “Cái chi qua rồi thì thôi, nhắc lại làm chi, cho buồn em, tội anh…” Nàng cầm tay tôi run run, đôi mắt chân thành “Em không buồn, em hạnh phúc…”. Tôi ôm nàng vào lòng, cơn sốt làm nàng run lên bần bật, mặt tái đi, “Em chết thì anh tìm chị Bo đi nghe, em biết chị ấy nhân hậu vì em cũng là con gái Huế, em cũng có một mối tình…Chị ấy mạ chết sớm chắc cũng thương con mình như con chị ấy”.
 Vài ngày sau thì vợ tôi qua đời, trước khi trút hơi thở cuối cùng môi nàng mấp máy, thì thào “..Bo….Bo…”.
***
             Tôi cõng con đi học qua hai ngọn đồi. Cha con tôi ngược lại thuở bốn mươi năm trước, hồi đó cha tôi cũng cõng tôi đi học như thế này trên đường quê Quảng Trị. Dọc đường nghe con kể chuyện học hành, bạn bè và khoe cô giáo mới. “Cô hát hay lắm ba ơi, có nhiều bài lạ cô giáo năm ngoái không tập”. “Bài chi vậy con” con tôi nỉ non hát “Trường làng tôi cây xanh lá vây quanh, muôn chim hót vang lên êm đềm…”. Tôi hát theo, song ca hai bè, con tôi cười vang:
  - Ba tập khi mô mà thuộc rứa.?
              - Ba được tập từ hồi lớp hai như con bây chừ.
  - Cô giáo ba có hát hay không? Bằng cô giáo con không?
- Chắc không hay bằng, vì cô giáo của con còn trẻ.
- Cô lớn tuổi rồi, tên rất lạ: Tôn Nữ Nghi Đông… chủ nhiệm lớp con.
 Tôi để con xuống, ngồi bệt bên đường. Con tôi hỏi “Ba mệt để con chạy ù là đến trường ngay thôi, ba về đi”. “ Không, ba không mệt, con cho ba xin tờ giấy cây viết”. Con ngạc nhiên đưa giấy viết cho tôi. Tôi viết nhanh.: “Nghi Đông ơi, phải em không? Nếu phải thì mời em trưa nay ghé nhà anh ăn trưa. Anh đợi. Anh: Nguyễn Đăng Bình” rồi xếp lại đưa cho con, dặn: “Con đưa cho cô giáo, nếu cô hỏi thêm gì thì nói mời cô về nhà hỏi ba con, nghe chưa.” Nó dạ rồi ù chạy.
Tôi thẩn thờ. Tôi chờ đợi. Tôi đau đớn. Tôi hạnh phúc. Thắp nhang lên bàn thờ, di ảnh vợ nhìn tôi cười như mãn nguyện. Cuộc đời biết bao dan díu, đau đớn nghẹn ngào quyện vào nhau, muốn rứt ra cũng không được…
Thiếu phụ áo dài tím, dắt tay con tôi đến ngõ. Cô giáo nhìn tôi không chớp mắt “Phải anh Bình đây không?”. Giọng Huế không lẫn đâu được của bé Bo, của cô giáo Nghi Đông làng tôi ngày đó.
 -Có phải Nghi Đông đó không?
 - Chơ ai nữa, trời cho Nghi  Đông gặp lại anh…”.
  - Để anh thấy được Nghi Đông mặc áo dài.
Nghi Đông nhìn xuống vạt áo lấm tấm đất đỏ, cười ngượng ngùng.
- Ở vùng này mặc áo dài thiệt bất tiện, nhưng Đông chưa khi mô mặc đồ Tây đi dạy. Để  những ngày dạy học ở làng anh…
- … Một áo dài thành hai áo ngắn…Lên lớp dị õm…
Cả hai cười gượng. Nghi Đông xin phép thắp nhang lên bàn thờ vợ tôi. Cây nhang trong tay Đông run run, ngoằn ngoèo sợi khói vương lên đôi mắt rơm rớm nước. Xong Đông cùng tôi ngồi xuống bàn, sau khi hất mái tóc dài kiểu chị Xuân thời con gái. Nếu gặp đâu đó một cử chỉ như thế, dù không nghe giọng nói, tôi vẫn chắc rằng  đó là phụ nữ Huế.
 Bàn tay nông dân sần sùi nhiều vết sẹo ấp lên bàn tay trắng xanh của cô giáo trường làng:
             - Ở đây có ve không anh.
         - Có.  Nhưng hết mùa hè rồi
             - Tiếng ve kêu giống con gái dậy thì hay con trai bể tiếng.
             - Giống tiếng trung niên và thiếu phụ
 - Em chưa là thiếu phụ, em chưa yêu ai ngoài anh.
         - Thì giống tiếng anh chi đó và bé Bo
         - Giống tiếng ve đêm trăng vườn nhà anh, mãi hoài như rứa.
                                              
                                              Sài Gòn. (22giờ đêm 10.11.2007)