Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HỌC - VĂN NGHỆ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN HỌC - VĂN NGHỆ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2023

CHUYỆN NGÀY ẤY Minh Thúy Thành Nội.

 CHUYỆN NGÀY ẤY

Minh Thúy Thành Nội. 


 

Thủa nớ chiếc áo dài màu đầu đời của tôi mang sắc tím. Mỗi khi mùa thu về, đường trải đầy lá vàng với ngọn gió heo may, gái Huế có đặc điểm chung là trên khắp nẻo đường xuất hiện rất nhiều tà áo tím. Tôi thường nghĩ thầm áo tím nhiều rứa mà răng nhạc sĩ Hoàng Nguyên không chịu khó bước tìm xa hơn, chán chi tà áo tím khác mà lại ngẩn ngơ tha thiết “Để rồi chiều chiều lê chân bên giòng Hương Giang. Mong tìm lại tà áo ấy. Màu áo tím nay thấy đâu. Người áo tím nay thấy đâu. Giòng nước vẫn trôi cuốn mau. Rồi chợt nghe tin qua lời gió nhắn. Người áo tím qua cầu. Tà áo tím phai màu. Để giòng Hương Giang hờ hững cũng nao nao...” Tôi đã từng chết lên chết xuống theo ca từ của bản nhạc” Mặc thời gian dìu đôi cánh biếc. Mặc giòng sông dịu hiền luyến tiếc. Mà chiều thu buồn như gối chiếc. Tôi mơ ...màu áo. Ước mong sao áo màu khép kín tim nhau.” Dù không uống rượu nhưng men nhạc đã làm tôi say khướt và tự hỏi có phải vì bản nhạc mà càng ngày Huế càng xuất hiện nhiều tà áo tím khiến người ta ngất ngư theo “Dường quyến luyến trăng sầu. Chập chờn tâm tư màu áo thoáng chiêm bao”
Một buổi chiều có nắng mơ phai, Đào Khuê mượn xe Honda của ba chạy tới nhà tôi
- Trời đẹp quá mi ơi, lâu rồi tụi mình không đi ăn chè Cồn, mình tới đó luôn tiện ngắm con đường Vỹ Dạ có hoa Sầu Đông rơi vương vãi trên lối đi, chao ơi nghĩ tới răng yêu quá.
Bữa nớ Khuê mặc bộ lụa dài Nha Trang màu ngà, tôi mặc lụa tím đèo nhau từ nội thành qua cầu Trường Tiền, gió lộng mát mặt nước sông Hương bốc lên, làm tóc hai đứa bay theo chiều gió. Tới quán chè Cồn chọn ngồi dưới gốc cây Khế, các trái xanh trĩu xuống trước mặt, những bông hoa nhỏ màu trắng tím rơi trên mặt bàn, trên tóc chúng tôi mùi hương nhẹ nhàng thoang thoảng, hai ly chè đậu huyết ngọt ngào thanh ngon cho chúng tôi cảm giác yên bình của buổi chiều xứ Huế.
Trở về Khuê rủ tôi ghé nhà:
- khi tao đi chị Trâm và mạ đang làm bánh bột lọc trần, nấu bánh canh... hi..hi..con gái ..hư trốn ra ngoài đi chơi

- Rứa có cái mặt tao kè bước vô nhà, mạ mi ghét chung luôn thì răng đây?
Hắn cười ha hả
- Không răng mô, gái út cưng mà, có đời mô mạ la tao.
Đậu xe tắt máy nhẹ nhàng, Khuê và tôi đi băng ra nhà sau, ngang qua nhà trước thấy anh Trọng nó cùng bạn bè khoảng bốn, năm người đang ngồi đàn hát. Vô bếp chị Trâm đi mô, mạ cũng không có, Khuê nhìn nồi bánh canh đã cạn chỉ còn khoảng vài tô, và trên bàn còn mấy dĩa bánh bột lọc trần ớt đỏ trải trên mặt hấp dẫn. Khuê nhìn quanh
- Hình như cả nhà đã ăn rồi, kể cả bạn anh Trọng
Hai đứa tôi lặng lẽ ngồi ăn để ngậm mà nghe cái bánh bột dai dai nhân tôm thịt, chấm nước mắm cay xé của ớt mọi, và tô bánh canh cua tôm đậm đà mùi ruốc quyện, đặc biệt kèm thêm mùi hành ngò, rau răm thơm phức.

Ăn xong thì mạ Khuê cũng vừa về, thấy tôi mạ thân mật:
- Dùng hết đi con, cả nhà ăn rồi kể cả mấy bạn của Trọng, mạ cũng đem qua biếu nhà bác Tần, bác níu lại nói chuyện chừ mới cho mạ về đây.
Huế là rứa đó, cha mẹ luôn chào đón bạn bè của con mình và luôn mở lòng thương yêu theo niềm vui của con cái. Trời chạng vạng tối, bạn chở tôi về nhà, tiếng xe máy nổ từ từ chạy ra ngõ tôi còn nghe tiếng hát của ai đó vọng theo “Chiều nay em ra phố về.Thấy đời mình là con nước trôi. Đèn soi trên vai rã rời. Ngày đi đêm tới. Còn chút hao gầy” (TCS )
Tôi cười thầm, lòng đang đầy tin yêu về cuộc đời này “bậy nà, tui không giống rứa mô, mới được dạo phố, được ăn chè Cồn, được ăn bánh canh ngon thấy mồ, ai hát chi nghe buồn bã rã rời rứa không biết”
Bữa sau Đào Khuê tới nhà tôi dúi vào tay nửa tờ giấy nát nhàu, nói:
- Bạn anh tao gởi cho mi miếng giấy nì, đọc đi…
Khuê lật đật cua xe chạy, miệng nói “mạ sai chở ra chợ Đông Ba mua ít đồ, về lẹ”
Tôi mở nửa tờ giấy xé cũng không được thẳng hàng, nhìn khó cảm tình với dòng chữ viết cẩu thả “Minh, không thể nào tôi thoát được màu áo mà chiều hôm qua Minh mặc, nếu Minh biết ...tôi khốn khổ vô cùng”

Tôi tìm hiểu qua Khuê được biết anh tên Thanh, học chung với anh Trọng của Khuê bên Đại học sư phạm môn Anh Văn. Khuê kể:
- Anh Thanh giỏi lắm, giữ thư viện cho nên anh đọc hầu hết sách, thầy giảng môn chi anh cũng đứng lên phát biểu dài hơn lời thầy, anh nói thao thao bất tuyệt, thầy phải nể trọng. Thầy nói “tôi không có thì giờ đọc sách nhiều như anh Thanh, cám ơn anh đã bổ túc thêm những điều tôi nói còn thiếu sót, tôi rất vui mừng về điều này vì đã giúp chúng ta cùng nhau học hỏi.” Anh Trọng tao kể rứa đó.
Một ngày trời có nắng tươi đẹp, tôi đang quét sân, quét nhẹ những xác hoa Tigôn vương vãi sân thềm. Một thanh niên có dáng người cao ốm với nét mặt thanh tú dưới gọng kính cận sáng láng. Anh tự giới thiệu và xin lỗi đã đường đột đến, nhờ Đào Khuê cho địa chỉ, tôi mời vào nhà. Mới gặp lần đầu tôi rất khớp và run sợ vì nghe danh anh như người cõi trên, có kiến thức đầy bồ, nên tôi chẳng biết nói chi, câm miệng hến vì sợ nói sẽ loài cái dốt của mình ra. Thấy tôi có vẻ khép nép lúng túng. Anh lên tiếng
- Hạnh phúc đối với Minh là gì?

Tôi rụt rè

- Buổi sáng thức dậy muộn màng, nghe tiếng chim hót, nhìn bầu trời trong xanh, ngắm những tia nắng xuyên qua cửa sổ ...
Anh lắc đầu
- Tại sao Minh không can đảm cầm chìa khóa bước đến mở cánh cửa chính của hạnh phúc
- Sợ bóng tối ùa ra
Anh nhún vai
- Nếu Minh nghĩ nó là bóng tối thì sẽ là bóng tối, nhưng nếu Minh nghĩ nó là ánh sáng thì sẽ là ánh sáng
Tôi bí lối lắc đầu chịu thua. Anh Thanh chẳng hỏi thêm gì nữa, xoay chuyển đề tài về văn chương thi phú, anh thao thao bất tuyệt nhắc tới nhà văn đại diện cho “Đứa con hoang chủ nghĩa hiện sinh” mà nữ văn sĩ đại diện là Francoise Sagan với “Buồn Ơi Chào Mi”, Ernest Hemingway với “Ngư Ông và Biển Cả”, “Chuông Nguyện Hồn Ai”, của bà Pearl Buck mô tả đời sống phong kiến của Trung Hoa, của Angela Gheorghiu với “Giờ thứ 25”, của Mario Puzo với “Bố Già”, của Eric Maria Remarque với “Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết”.
Còn nữa, tôi nghe lùng bùng bên tai những điều thật...xa lạ. Đầu óc rối tung nửa sợ hãi vì thấy sự hiểu biết của mình quá thấp kém, nửa lại thích thú muốn mở rộng tầm hiểu biết phần nào theo bộ óc kiến thức vĩ đại của anh. Về các sách dịch tôi chỉ biết đôi chút như Giờ thứ 25, Cuốn Theo Chiều Gió, Chiến Tranh và Hòa Bình, Thằng Gù nhà thờ Đức Bà, Công chúa Sissi, Nữ hoàng Ai Cập Cleopatra... v..v...vì một số được xem phim và một số có mua sách, nên thỉnh thoảng cũng dặm vài tiếng. Anh lại say sưa chuyển qua thi phú đọc thơ của Nguyên Sa, Đinh Hùng, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, tôi cũng rụt rè đệm theo vài câu mình thuộc. Đến trưa trước khi từ giã, anh giật mình nhìn những mảnh giấy từ bao thuốc lá được xé vụn nát li ti vất đầy bàn, anh đứng lên dọn dẹp
- Xin lỗi Minh, thường tôi nói chuyện với ai, tôi chỉ nghe giọng nói của mình dội lại âm thanh từ ngôi rừng vắng, nhưng khi nói chuyện với Minh tôi lại được nghe hai chiều, nên tôi đã thao thao như Hàn mặc Tử “Tôi điên tôi nói như người dại. Van lạy không gian xoá những ngày.” Hoặc “Tôi cắn lời thơ để máu trào”
Anh đi rồi, tôi toát mồ hôi hột vì căng thẳng với đối tượng có biển kiến thức mênh mông, tôi bị choáng váng vài ngày rồi trả lại sự yên tĩnh bình thường.
Mấy tuần sau có ngày mẹ con tôi đều đi vắng, trưa về tôi thấy có bó hoa Hướng Dương vàng rực cắm nơi ổ khoá cửa giữa nhà, kèm mảnh giấy “Hãy sống như loài hoa Hướng Dương. Thanh “Tôi chẳng hiểu anh chàng này nữa, làm chi cũng lập dị khác người, từ mảnh giấy rách viết thư, xé bao thuốc nát vứt tung toé trên bàn, tặng hoa kiểu này… có phải cái tip nhà văn nhà thơ thường sống khác người như vậy, nói nhẹ chút là “hơi tốc” phải không hè, lạ rứa thê.
Tiếp theo vào một tối mùa đông lạnh lẽo, ngoài trời mưa to gió lớn mù mịt tối thăm thẳm, tôi ngồi đan khăn quàng len chăm chú, chị tôi đang đi tới bỗng dưng hét lên “ui..ui...coi tề ...”Vừa nói tay chị chỉ theo hướng ngoài cửa sổ, tôi ngẩng mặt giật mình thấy người đàn ông tay che dù đứng nhìn, nhờ cặp kính cận tôi nhận ra anh. Mở cửa mời vào nhà, anh dựng dù trước hiên, bước vô ngồi chống cằm nhìn tôi chăm chú, tôi ngượng nghịu muốn phá tan bầu không khí im lặng
- Anh Thanh đi đâu ngang đây tiện ghé ...
Anh chận lời
- Đừng nói gì trong giờ phút này, tôi vừa trông thấy hình ảnh đẹp quá, cho tôi ngồi 5 phút rồi tôi sẽ đi
Nói xong anh lôi trong ngực áo len ra tập thơ “Mộng” với biệt hiệu “ba tên” yếu đuối như con người của anh, cúi xuống ghi lời tặng kèm hai câu thơ:
Mà nay nữa cuộc bôn ba ấy.

Đành hẹn cùng người một ước mơ
Đẩy tập thơ về phía tôi anh nói
- Sách tôi bày các tiệm đã bán hết, tôi chỉ còn giữ một tập duy nhất cho mình, nay tặng Minh
Tôi ngẩng lên định cám ơn thì anh đã quay gót bước đi trong mưa gió. Tôi hết ý với mẫu người nghệ sĩ tánh khí ngông nghênh này. Đêm đó tôi không ngủ được theo nhịp tim đập bất thường, trăn trở theo những cảm giác kỳ lạ.
Thế rồi năm 75, cuộc đời thay đổi một sớm một chiều, chẳng ai còn tâm trí nghĩ đến ai. Gia đình Đào Khuê sa sút trầm trọng, cha đi “học tập”, nhà cửa được mượn dùng làm tổ dân phố, gia đình về ở ké nhà bà ngoại. Các anh chị và Khuê không được học, bụng đói đầu gối phải bò. Khuê quan sát phong trào giai đoạn này, bán quần áo cho mấy ông bộ đội miền Bắc là hợp lý nhất, người miền Bắc vào mua đủ thứ, nhờ vậy kiếm chút tiền sống qua ngày.
Bạn mua áo len, nồi niêu son chảo, búp bê, dụng cụ cắt móng tay, khăn choàng, linh tinh đủ thứ. Khuê gọi tôi phụ dùm, hai đứa mỗi sáng xách hàng ra trải tấm ni lông ngồi trước rạp Hưng Đạo bán, trời tối di chuyển tới ngồi đối diện các cửa tiệm trên phố Trần Hưng Đạo. Chúng tôi gặp được anh Thanh đi ngang phố, từ đó lúc rảnh rang anh ra ngồi bên chúng tôi, xem mua bán. Nét mặt anh trầm lắng không còn nói nhiều như trước, thỉnh thoảng anh đi mua 3 ly nước mía bưng lại, hoặc mua 3 gói xôi, chúng tôi cùng vừa ăn vừa bán. Tôi bắt đầu thấy cảm kích thái độ cư xử của anh trong hoàn cảnh bị đát, hình ảnh một thanh niên nho nhã, ăn mặc bảnh bao lại ngồi chen giữa đám người lết la phơi mặt trên đường phố, hoà mình theo nhịp thở của bạn bè, của đời sống hiện tại, có điều dẫu môi cười hoà nhã nhưng không che đậy được ánh mắt buồn bã của anh, chuyện văn thơ cũng không còn được anh nhắc nhở.
Một lần Đào Khuê hỏi tôi
- Mi có cảm tình với anh Thanh không? sau lần anh nhờ tao đưa mảnh giấy, rồi xin địa chỉ mi, hai người có hay gặp gỡ thường xuyên?
Không hiểu sao tôi lại muốn dấu tất cả và nói láo “chẳng có tình cảm, chỉ xem anh như bạn, gặp một lần nghe anh nói chuyện văn chương rồi thôi”. Đào Khuê kể lể
- Thời gian sau ni lúc mi về trước, anh ra dọn hàng dùm, đưa tao tới tận nhà, có hôm anh ở lại ăn tối, chơi tới khuya rồi mới về, tự dưng tao thấy xốn xao tình cảm, nhất là trong lúc đang tủi thân, càng làm tao mủi lòng cảm động
Tôi nghe cũng thấy tim se thắt, có nỗi buồn dâng lên mơ hồ, nhưng đồng thời cũng thương hoàn cảnh bạn đang cần một bờ vai để chia sẻ tâm tình, anh Thanh lại là bạn thân với anh của Đào Khuê, thì sự thương cảm lại càng tăng thêm cũng đúng.
Rồi tới lúc phong trào bán lề đường bị đuổi dẹp, người bán quá nhiều cũng khiến việc kiếm tiền khó khăn, Đào Khuê giải nghệ vào hợp tác xã học thêu, tôi cũng bắt chước theo. Cái nghề bắt trì chí ngồi thêu ngày, thêu đêm vùi đầu vào công việc, chẳng còn ai gặp ai
Khoảng một năm sau, thật bất ngờ một đêm trăng sáng Đào Khuê đạp xe vào nhà tôi rủ đi dạo đường phố một vòng hứng gió mát, vì trời mùa hè quá oi bức. Mừng rỡ lâu ngày gặp nhau, hai đứa đèo chiếc xe đạp nhìn quang cảnh chung quanh, như người vừa được hưởng tự do sau thời gian dài chỉ biết cúi đầu trên khung vải. Chúng tôi chạy quanh nhiều con đường ra cửa Đông Ba chạy vòng vô cửa Thượng Tứ. Ngang trường Hàm Nghi bỗng nhiên tôi thấy hình dáng quen quen đi bên kia đường, Khuê cứ thoải mái đạp xe và kể chuyện huyên thuyên, tôi ngoái cổ chăm chú quan sát người thanh niên đi bên cạnh cô thiếu nữ tóc dài, họ đang chuyện trò và cầm tay thân mật, tôi chẳng nghe Đào Khuê kể gì nữa, kêu giựt nó
- Ê mi ơi, nhìn lui phía bên kia đường, coi ai giống anh Thanh lắm, quay xe lại mi nhìn thử xem
Khuê đang nói chuyện chợt im bặt, ngoái cổ lui và nghe lời tôi, cua xe đi sát gần, Khuê thốt lên giọng run run “đúng anh Thanh rồi”, Khuê vòng lại đi về trước mặt họ, nhưng họ ham nói chuyện không để ý kẻ đi đường. Bạn tôi cười gượng gạo không nói gì. Chúng tôi cùng im lặng trên đoạn đường về. Tôi không dám hỏi điều gì, Khuê bất chợt nói gần như khóc
- Anh vẫn thường đến chỗ tao thêu mời ra quán chè gần đó, nói chuyện đôi ba phút rồi để tao vô làm việc, dù sao ...tao cũng cám ơn anh đã cho tao một thời yêu đương và một thời khổ đau …
Bạn nói ra nỗi buồn, tôi câm nín không nói được. Phải chăng anh là cánh chim trời lãng đãng đó đây với nhiều cảm xúc dạt dào của một thi nhân đa tình lãng mạn, anh không là của riêng ai...
Bảy năm sau, tôi vào Sài Gòn trú ngụ nhà người O. Đêm nọ đang đi trên đường Nguyễn Huỳnh Đức cùng đứa em gái họ, tôi thấy thoáng hình ảnh anh đạp xe ngang qua, tôi quay mặt làm lơ, nhưng anh nhận ra nhanh chóng, quay xe lại gọi “ Minh, Minh...”. Tôi dừng chân làm ra vẻ bất ngờ
- Ồ! anh Thanh, lâu quá rồi anh còn nhận ra Minh giỏi vậy?
Anh nhỏ nhẹ
- Làm sao mà quên được
Anh năn nỉ mời chúng tôi ghé quán nước mía nói chuyện. Hỏi thăm được biết anh ra trường đổi lên vùng Kontum dạy học, nhưng chán nản bỏ dạy, về Sài Gòn hợp tác bạn bè mở các lớp dạy luyện thi môn Toán, Lý Hoá và Sinh ngữ. Em họ tôi nghe vậy sáng mắt tỏ ý muốn ghi tên học. Anh đề nghị học chung chậm tiến hơn là học một mình, anh sẽ đến dạy kèm tận tụy cho em gái. Anh xin tôi số địa chỉ nhà, tôi đang tìm đường vượt biển cần bí mật nên bất đắc dĩ cho số ma.

Đường đời trăm ngã, sau này có nguồn tin anh đã mất, không biết đúng? Nếu anh còn sống tình cờ đọc được bài viết này, xin anh vài phút quay về dĩ vãng, ngày đó có hai người con gái một thời đã ...yêu anh.
Minh Thúy Thành Nội

Tháng 2/2023

***
HƯƠNG YÊU BỒN MÙA

Bên nhau dạo phố Xuân
Nhìn pháo đỏ bâng khuâng
Nắng hoà chim én lượn
Nụ Đào Mai rộ dần

Đêm hạ dạo thuyền tình
Vầng trăng chiếu lung linh
Hương tóc em bay nhẹ
Bến mộng chỉ đôi mình

Hồ thu tắm gội thơ
Giẫm lá vàng dệt mơ
Rộn lòng cung nhạc ái
Kề nhau mắt môi chờ

Ngoài tuyết phủ mênh mông
Con tim thắp lửa hồng
Soi bến bờ hạnh phúc
Mềm say giọt rượu nồng


Bốn mùa ta yêu nhau
Tình dâng đủ sắc màu
Mình gối mây thưởng Nguyệt
Vẫn như thủa ban đầu
Minh Thuý Thành Nội,02/14/2023.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Tranh lụa Việt Nam

NHỮNG BỨC TRANH LỤA VIỆT NAM 

Tranh Thập Mục Ngưu Đồ

 

  http://img13.imageshack.us/my.php?image=98430056.jpg
http://img13.imageshack.us/my.php?image=58991466.jpg
http://img13.imageshack.us/my.php?image=10129648.jpg
http://img13.imageshack.us/my.php?image=47700802.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=83605268.jpg
http://img13.imageshack.us/my.php?image=88224393.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=46567228.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=35569115.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=27480033.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=64668589.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=54046291.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=63708882.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=86688302.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=42272975.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=23615599.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=49930538.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=82972715.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=34841208.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=79700850.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=19biz.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=25604460.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=84443969.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=46294551.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=50528502.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=76881954.jpg
http://img15.imageshack.us/my.php?image=56888770.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=62161090.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=77147097.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=91432596.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=57572904.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=52165891.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=64076768.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=18429473.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=35504909.jpg
http://img7.imageshack.us/my.php?image=40025694.jpg


http://img7.imageshack.us/my.php?image=75304424.jpg

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

Hát nói và luật vần

LUẬT CỦA BÀI HÁT NÓI:
(của anh Lê Văn Thanh cung cấp )

1. Bố cục: Không kể mưỡu tiền mưỡu hậu (thơ lục bát). Bài hát nói có 3 khổ chính:
      - Khổ 1 (Lá đầu) : Có 4 câu
      - Khổ 2 (Xuyên thưa): 4 câu (2 câu đầu là câu đối thơ)
      - Khổ 3 (Xuyên mao): 3 câu  (câu cuối 6 chữ). Câu 1 gọi là: Dồn; câu 2 gọi là: Xếp; câu 3 gọi là: Keo
2. Luật và Vần:
* Thanh luật (luật bằng trắc): Mỗi khổ có 4 câu. Chữ cuối câu 1 và chữ cuối câu 4 là thanh trắc, chữ cuối 2 câu giữa thanh bằng. Riêng khổ 3 (chỉ 3 câu) chữ cuối câu đầu thanh trắc, chữ cuối 2 câu cuối thanh bằng.
* Cách gieo vần: 
- Vần liền: Chữ cuối của câu 2-3 cùng vần, câu 4-5, 6-7, 8-9,10-11.
- Vần lưng: Chữ cuối của câu 8 cuối phần mưỡu tiền cùng vần với chữ thứ 3 kể từ chữ cuối của câu 1 khổ 1. Chữ cuối của câu 3 mỗi khổ cùng vần với chữ thứ 3 kể từ chữ cuối của câu 4 mỗi khổ.
* Dôi khổ: Bài hát nói  có thể dôi 1 hoặc 2, 3...khổ ( mỗi khổ 4 câu) trước khổ 3. chỉnh sửa để làm mẫu. Bài sửa như sau:
                             
CHÚC NĂM MỚI
 Nguyễn Văn Tương
Mưỡu
Mỗi năm có một mùa xuân
Đời người có được mấy lần thong dong
Bon chen rồi lại hoàn không
Vui cùng non nước cho lòng thảnh thơi
 
Nói:        
  Say mùi danh lợi
 Mơ giàu sang mỏi gối chồn chân
 Đam mê ngụp lặn trong bể trầm luân
Rồi một cái hắt hơi... bỏ hết

Phạn Thục Thái Hương ,bát phương xuân tiết
Song minh kỉ tịnh, tứ quý tân niên
Gặm nhắm làm chi bao nỗi ưu phiền ?
Tâm rỗng lặng kìa xuân tiền ngấp nghé !
 
Thuật dưỡng sinh quyết tâm sống khỏe
Đời thêm vui, lòng nhẹ, hát nghêu ngao
Rãnh rỗi giao lưu thơ phú cùng nhau
Xuân đến , xuân đi  thấy đầu bạc trắng
 
Xuân tới ngoài kia rợp trời xuân nắng
Mong ước năm nầy thắng lợi thật to
Muôn nhà hạnh phúc ấm no
Khắp nơi rộn rã câu hò vang đưa
Hân hoan biết mấy cho vừa.            
               Nguyễn Văn Tương
                       21/8/2010
    

Phép đối trong câu đối

 PHÉP ĐỐI TRONG CÂU ĐỐI

Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối (對) ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Trung Quốc và Việt Nam .


[sửa] Nguồn gốc

Câu đối có nguồn gốc từ người Trung Quốc. Người Trung Quốc gọi câu đối là đối liên (對聯) nhưng tên gọi xưa của nó là đào phù (桃符).

Câu đối được xem là tinh hoa của văn hóa chữ Hán, người Trung Quốc quan niệm: "nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa"[1].

Ðối liên có lịch sử ra đời cách đây khoảng 3000 năm, nhưng theo Tống sử Thục thế gia (宋史蜀世家), câu đối đầu tiên được ghi lại do chính chúa nhà Hậu Thục (934-965) là Mạnh Sưởng viết trên tấm gỗ đào vào năm 959[2].

Nguyên bản:

新年納餘慶

嘉節號長春


Phiên âm:

Tân niên nạp dư khánh

Gia tiết hiệu trường xuân


Dịch thơ:

Năm mới thừa chuyện vui

Tiết đẹp xuân còn mãi
[sửa] Những nguyên tắc của câu đối


Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối hay đối cân.

[sửa] Ðối ý và đối chữ

* Ðối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau.
* Ðối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại.

- Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại.

- Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây...) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru...) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ; nếu vế đối này có đặt chữ Nho thì vế kia cũng phải đặt chữ Nho...

[sửa] Vế câu đối

Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trên và vế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ra và vế đối.

Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.
[sửa] Số chữ và các thể câu đối

Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

* Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.
* Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
* Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:

- Lối câu song quan: là những câu 6 đến 9 chữ, đặt thành một đoạn liền

- Lối câu cách cú: là những câu mà mỗi vế chia làm 2 đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài

- Lối câu gối hạc hay hạc tất: là những câu mỗi vế có 3 đoạn trở lên.

[sửa] Luật bằng trắc

* Câu tiểu đối:

- Vế phải: trắc-trắc-trắc

- Vế trái: bằng-bằng-bằng

* Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thực và câu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.
* Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắc hoặc trắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.

[sửa] Phân loại câu đối
[sửa] Câu đối Trung Quốc

Người Trung Quốc phân loại câu đối theo cách dùng và đặc điểm nghệ thuật:

[sửa] Phân loại theo cách dùng

* Xuân liên (春聯): Câu đối xuân, chuyên dùng vào dịp Tết, gắn ở cửa.
* Doanh liên (楹聯): Câu đối treo ở cột trụ, dùng trong nhà, cơ quan, cung điện của vua và những nơi cổ kính.
* Hạ liên (賀聯): Câu đối chúc mừng, thường được dùng để chúc thọ, chúc sinh nhật, hôn giá, thăng quan tiến chức, có con, khai nghiệp v.v.
* Vãn liên (挽聯): Câu đối than vãn, dùng trong lúc ai điệu tử vong.
* Tặng liên (贈聯): Dùng để tán thán, đề cao hoặc khuyến khích người khác.
* Trung đường liên (中堂聯): Câu đối dùng để treo ở những khách đường lớn, chỗ nhiều người lưu ý, và được phối hợp với bút hoạch (thư pháp).

[sửa] Phân loại theo đặc điểm nghệ thuật

* Ðiệp tự liên (疊字聯): Một chữ xuất hiện liên tục.
* Phức tự liên (複字聯): Hai vế có chữ giống nhau nhưng không xuất hiện một cách trùng phức liên tục.
* Ðỉnh châm liên (頂針聯): Chữ nằm phần đuôi của câu đầu lại là chữ đầu của câu sau.
* Khảm tự liên (嵌字聯): Bao gồm số, phương vị, tiết khí, niên hiệu, họ người, nhân danh, địa danh, vật danh (ví như tên thuốc) v.v.
* Xích (sách) tự liên (拆字聯): Mỗi hợp thể tự bên trong câu đối tách thành bao nhiêu chữ đơn thể, có người phân ra tinh tế hơn nữa là mở chữ ra (xích tự 拆字), hợp chữ lại (hợp tự 合字), tách chữ ra (tích tự 析字) v.v.
* Âm vận liên (音韻聯): Bao gồm đồng âm dị tự, đồng tự dị âm cùng với điệp vận.
* Hài thú liên (諧趣聯): Hàm dung ý nghĩa khôi hài, ẩn kín.
* Vô tình đối (無情對): Ý nghĩa trên dưới không tương quan một mảy may nào, chỉ chỉnh những chữ, từ. Phần lớn Vô tình đối này ít thấy ý vị, hoàn toàn có thể quy nhập vào Hài thú liên bên trên.
* Hồi văn liên (回文聯): Ðọc xuôi (thuận độc 順讀) hay đọc ngược (đảo độc 倒讀) ý tứ hoàn toàn như nhau.

[sửa] Câu đối Việt Nam

Câu đối Việt Nam được Dương Quảng Hàm phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau:

* Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới...

Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc.

Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm

(Nguyễn Khuyến, viết mừng một chánh tổng trước bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.)

* Câu đối phúng: làm để viếng người chết.

Nhà chỉn nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng,

tất tưởi chân nam đá chân chiêu, ví tớ đỡ đần trong mọi việc

Bà đi đâu vợi mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,

gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.

(Nguyễn Khuyến: câu đối khóc vợ)

* Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa...về dịp Tết Nguyên Ðán.

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.

Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

(Nguyễn Công Trứ, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)

Tết đến không tiền vui chi Tết / Xuân về kết gạo đón chi Xuân.

(Tác giả, câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.)

* Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.

Tuế hữu tứ thời xuân tại thủ.

Nhân ư bách hạnh hiếu vi tiên.

(Dịch nghĩa: Năm có bốn mùa, mở đầu bằng mùa xuân. Người ta có trăm tính nhưng tính hiếu thảo là cần trước hết) hoặc:

Mở rộng phương Tiên, công tế thế cao bằng Thái lĩnh

Sống nhờ của Phật, ơn cứu người rộng tựa Cẩm Giang

(Câu đối thờ Tuệ Tĩnh ở đền Bia)

Tùng thanh, trúc thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại.

Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không.

(Câu đối khắc ở chùa Diệu Ðức, Huế).

* Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.

Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.

Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm, thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh

(Nguyễn Công Trứ, câu đối tự thuật)

* Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.

Nếp giầu quen thói kình khơi, con cháu nương nhờ vì ấm

Việc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng

(Lê Thánh Tông, câu đối đề ở một hàng bán giầu (trầu) nước)

* Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.

Giơ tay với thử trời cao thấp

Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

(Hồ Xuân Hương, vịnh cảnh trượt chân, ngã xoạc cẳng)

* Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách chữ Hán hoặc chữ Nôm ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.

Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con nấy?

Vu (于) là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?

* Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.

Cung kiếm ra tay, thiên hạ đổ dồn hai mắt lại.

Rồng mây gặp hội, anh hùng chỉ có một ngươi thôi

(Câu đối tặng một người chột mắt mới đỗ khoa thi võ)

* Câu đối tập cú: là những câu lấy chữ sẵn ở trong sách hoặc ở tục ngữ, ca dao.

Gái có chồng như rồng có vây, gái không chồng như cối xay không ngõng.

Con có cha như nhà có nóc, con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

* Câu đối thách (đối hay đố): người ta còn nghĩ ra những câu đối oái ăm, cầu kỳ rồi người ta tự đối lấy hoặc thách người khác đối. Lối đối này thường sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm dị nghĩa...

Con cóc leo cây vọng cách, nó rơi xuống cọc, nó cạch đến già

Con công đi qua chùa kênh, nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại

(Câu đối có bốn chữ : cóc cách cọc cạch đối với bốn chữ công kênh cồng kềnh)

Có những vế câu đối rất khó đối như:

* Cha con thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.

Vế này khó đối vì hồi hương (cũng có nghĩa "về quê") và phụ tử (cũng có nghĩa "cha con") đồng thời lại là tên gọi các vị thuốc.

* Vào vụ đông trường nam bón phân bắc trồng khoai tây, Sang xuân hạ quyết tâm thu hàng tấn củ.

Vế này cũng khó đối vì đông, tây, nam, bắc (chỉ hướng địa lý) và xuân, hạ, thu, đông (chỉ các mùa ở Việt Nam )

* Da trắng vỗ bì bạch

Vế đối này của Ðoàn Thị Ðiểm, hiện nay, có khá nhiều người đối nhưng chưa chỉnh, câu đối đã được đăng ở quyển Thế giới mới được coi là tạm ổn nhất.

Câu này là " Tay sơ sờ tí ti" có thể coi là được chăng,câu này có trong "Thế giới mới" Tí cũng là tay, tí ti là một chút xíu, cũng là một từ láy âm tay sơ là tay còn trong sạch, nguyên vẹn. Xin đóng góp thêm một câu đối về câu: "da trắng vỗ bì bạch" "rừng sâu mưa lâm thâm" hay "trời xanh màu thiên thanh" Hiện nay có một câu đối mới đó là: 'con thầy bắt sư tử" do một học sinh cấp 3 vừa tìm ra. Xem ra câu này chuẩn hơn những câu hiện có.

[sửa] Tham khảo

Trong các thể cổ văn, câu đối được dùng rất phổ biến. Ở đây có ba vấn đề chúng ta cần lưu ý.
Vấn đề thứ nhất, người Trung Quốc gọi câu đối là “đối liên”, và chia làm ba loại. Loại thứ nhất là “Tiểu đối”, tức mỗi vế có từ 4 chữ trở xuống. Loại thứ hai là “Thi đối”, mỗi vế là một câu đối ngũ ngôn hoặc một câu thất ngôn, cũng có khi gồm cả hai câu ngũ ngôn và thất ngôn. Loại thứ ba là “Phú đối”, tức là câu đối viết theo niêm luật của thể phú, là một thể cổ văn. “Phú đối” được chia thành: Câu đối “Song quan”, mỗi vế có từ 6 đến 9 chữ, ghép lại thành một đoạn; Rồi câu đối “Cách cú”, mỗi vế chia thành hai đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài; Rồi câu đối “Hạc tất”, mỗi vế có từ ba đoạn trở lên.
Vấn đề thứ hai, trong câu đối người Việt, ta có thể chia làm mấy loại sau đây. Thứ nhất là câu đối Tết. Thứ hai là câu đối bày tỏ sự chung vui, ví dụ như chung vui lễ hội hay chung vui trong các cuộc giao lưu. Thứ ba là câu đối chia sẽ, ví dụ như chia sẽ về những tổn thất trong thiên tai địch họa, vì đau ốm hay trong các đám ma chay. Thứ tư là câu đối để chúc mừng, như câu đối mừng tân gia, mừng tân hôn, mừng đỗ đạt, mừng thăng quan, mừng sinh quý tử. Thứ năm là câu đối để ghi nhớ một sự kiện hay một vấn đề, ví dụ như trùng tu chùa chiền, đình miếu, tôn tạo hay xây dựng một số công trình công cộng, dựng bia…
Vấn đề cần chú ý thứ ba, đó là câu đối người Việt thường được viết bằng nhiều loại chữ khác nhau, trong đó nổi bậc lên có ba loại chữ. Một là câu đối viết bằng chữ Hán. Với loại câu đối này, bạn đọc là những người trẻ tuổi, chưa có điều kiện tiếp xúc với chữ Hán, thì phải có người dịch ra mới hiểu được. Thứ hai là câu đối viết bằng chữ Nôm. Chữ Nôm là chữ viết của dân tộc, nhưng không phải ai cũng đọc được. Ngày nay, số người Việt đọc được chữ Nôm là quá ít. Thứ ba, là câu đối viết bằng chữ Việt hiện đại, và là câu đối phổ biến nhất hiện ngày nay. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, rồi trên các công sở hiện nay, câu đối viết bằng chữ Việt rất phổ biến.
Các loại câu đối Tết tại Việt Nam
Lê Phước : Trong các loại câu đối đó, thì câu đối Tết có vai trò như thế nào, thưa giáo sư ?
GS. Nguyễn Khắc Thuần : Trong tất cả các loại câu đối, nổi bật hơn cả vẫn là câu đối Tết. Câu đối Tết trở thành sinh hoạt văn hóa rất phổ biến và lâu đời. Ngày nay tuy không ai dùng chữ Hán và chữ Nôm nữa, hay nói đúng hơn là quá ít người dùng chữ Hán và chữ Nôm, nhưng không phải vì thế mà câu đối ít đi. Xưa cũng như nay, câu đối trở thành một món quà không thể thiếu.
Xem lại, câu đối Tết của người Việt có 07 loại sau đây :
1) Loại câu đối Tết dùng chung cho tất cả mọi nhà, ai treo cũng được, gia đình sang hèn, nghèo giàu đều treo được. Ví dụ như câu :
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh
Đây là câu đối viết bằng chữ Nôm. Rồi cũng có câu đối viết bằng chữ Hán mà nhà nào treo cũng được :
Lộc tiến vinh hoa gia đường thịnh
Phúc sinh phú quý tử tôn vinh

(Tài lộc dẫn đến sự vinh hoa, nhà thì ngày một thêm thịnh đạt
Phúc sinh ra sự phú quý, con cháu trở nên vinh hoa)
2) Loại câu Tết thường để ở các đình làng hay công sở. Chẳng hạn như :
Chúc Tết đến trăm điều như ý
Mừng xuân sang vạn sự thành công

(Câu đối viết bằng chữ Nôm)
Hoặc câu đối viết bằng chữ Hán:
Sơn thủy thanh cao xuân bất tận
Thần tiên lạc thú cảnh thần tiên

(Núi sông thanh cao, mùa xuân bất tận
Thần tiên vui vẻ lạc thú cảnh thần tiên ở nơi trần thế)
3) Loại câu đối Tết thường để ở đền chùa miếu mạo. Ví dụ câu đối chữ Nôm sau đây :
Mừng xuân hỉ xả thêm công đức
Đón Tết từ bi bớt não phiền
Hoặc câu đối chữ Hán:
Pháp luân vô ánh oanh thiên hạ
Tâm niệm vô thanh chấn tứ phương

(Pháp luân tuy không có tỏa sáng nhưng có thể làm run cả trời đất
Tâm niệm tuy không phát ra thành tiếng nhưng nó có thể gây chấn động cả bốn phương)
4) Loại câu đối Tết thường có trong các nhà quyền quý. Ví dụ như :
Xuân tái đáo, môn tiền phúc đáo
Hoa hựu khai, thiên ngoại thi khai

(Xuân lại đến, trước cửa phúc lại đến
Hoa lại nở, ngoài trời thơ lại mở ra)
Hoặc câu :
Tiên tổ phương danh lưu quốc sử
Tử tôn tích đức hiển gia phong

(Tổ tiên để lại tiếng thơm trong sử sách
Con cháu tích đức thì gia phong được hiển hách)
Hay là :
Nhập môn tân thị kinh luân khách
Mãn tọa dai đồng cẩm tú nhân

(Vào cửa khách toàn là người hiểu kinh luân
Ngồi đầy nhà toàn là những bậc mặc áo gấm áo thêu, tức là những người sang trọng quyền quý trong xã hội).
5) Loại câu đối Tết thường có trong các gia đình nghèo khó. Chẳng hạn như câu :
Tết đến gượng cười, mong con cháu chăm ngoan, nhà có dư gạo thóc
Xuân sang gắn vui, cầu vợ hiền mạnh khỏe, vườn đủ quả đủ rau
Hay là câu :
Nợ nần theo gió lạnh bay đi, vợ lại tươi như hoa nở thắm
Của cải cùng khí ấm tràn vào, lòng chồng vua tựa trống hội vang
Ta thấy ở đây là những ước muốn bình dị, thể hiện ước nguyện giản dị nhưng cũng rất sâu sắc và mãnh liệt của những người bình dân nghèo khó trong xã hội.
6) Loại câu đối Tết viết theo lối tự trào, viết để cho vui, ai nghe cũng được, không phải treo ở đâu cả, mà để gắn vào tâm tưởng của mỗi người, kích động suy nghĩ của mọi người, và cùng vui với mọi người. Ví dụ như câu đối sau đây của Nguyễn Công Trứ :
Chiều ba mười nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông phúc vào nhà
Hoặc là câu đối sau đây của Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ lừng danh cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19:
Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt kẻo Ma Vương đưa quỉ tới
Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang cho thiếu nữ rước xuân vào
7) Loại câu đối Tết thường thấy trong các gia đình Việt Kiều.
Tôi có dịp đi nhiều nước trên thế giới và gặp gỡ các Việt kiều, thấy trong gia đình họ cũng có những câu đối Tết. Đọc qua tôi thấy rất cảm động, chẳng hạn như :
Nghi ngút tỏa khói hương, xa đất mẹ vẫn nhớ về nguồn cội
Tôn nghiêm mâm ngũ quả, chốn quê người nặng trĩu nghĩa cố hương
Hoặc như câu :
Xuân tha hương, vấn vương thương đất mẹ
Tết xa nhà, xao xuyến nhớ quên cha
Đó là những lời thể hiện tình nghĩa nồng nàn đầm thắm của những người con xa quê, thực sự xứng đáng là dòng giống con Lạc cháu Hồng. Đó không chỉ là lời bày tỏ tình cảm, mà quan trọng hơn đó còn là lời thể hiện một truyền thống viết câu đối của người Việt dù ở bất cứ nơi đâu.

[sửa] Xem Thêm

Câu Ðối Sưu Tầm, Bộ Sưu Tầm Câu Ðối Việt Nam

Nguồn:
Câu đối: 
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Văn học Việt Nam.png

Văn học dân gian:

Thần thoại
Truyền thuyết
Cổ tích
Truyện cười
Ngụ ngôn
Vè, Tục ngữ
Thành ngữ
Câu đố
Ca dao
Văn học dân gian dân tộc thiểu số
Sân khấu dân gian

Văn học viết:

Văn học đời Lý
Văn học đời Trần
Văn học đời Lê Sơ
Văn học đời Mạc
Văn học đời Lê trung hưng
Văn học đời Tây Sơn
Văn học đời Nguyễn
Giai đoạn 1900–1930
Giai đoạn 1930–1945
Giai đoạn 1945–1954
Giai đoạn 1954–1975
Giai đoạn sau 1975

xem thêm

Tác giả - tác phẩm:

Nhà thơ - Nhà văn
Nhà báo - Nhà viết kịch
Tư liệu văn học Việt Nam