Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Hoàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Hoàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

NẮNG CHIỀU VƯƠNG VẤN Lê Hoàng

 

NẮNG CHIỀU VƯƠNG VẤN 
 
Bích La Đông ! một chiều thu vườn tre che nắng
Em đứng nhìn hoa trắng rụng ven sông ,
Vĩnh Định - mây vương đương tìm góc vắng
Đợi gió lùa theo cánh chim bay
Tôi tìm em đã qua bao tháng ngày
Sao chưa gặp ? . Một lần yêu từ đó
Những đêm dài cùng em
nghe tiếng nhạc ngoài ngỏ
Vọng vào hồn hai đứa nhớ nhung .
Ôi ! thương nhớ ngày xưa tình muôn thuở
Trăm năm rồi ! hoa vẫn nở rộ ven sông .
Lê Hoàng.
 
 Ảnh minh họa: Nguồn từ Internet. 




ĐI TÌM CÂU ĐỐI CỦA NHỮNG NHÂN VẬT NỔI TIẾNG Lê Hoàng.

ĐI TÌM CÂU ĐỐI CỦA NHỮNG NHÂN VẬT NỔI TIẾNG 

Lê Hoàng.
 

 

1/Lê Quý Đôn:
Quý Đôn thuở nhỏ tên là Lê Danh Phương, quê ở làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam Hạ (nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Một lần, Lê Danh Phương cùng các bạn thiếu niên thường ra cái ao rộng trước cổng làng để tắm. Bỗng có một vị quan lớn đi qua; có ý hỏi đường đến thăm nhà quan Thượng Thư Lê Phú Thứ. Cậu bé Lê Danh Phương thản nhiên đứng dạng hai chân, dang hai tay ra để cản đường. Rồi cậu nói: “Đố ông biết chữ gì đây? Nếu biết, cháu sẽ đưa ông về nhà, còn nếu không thì đợi đấy!” Vị quan lớn rất khó chịu và không muốn trả lời… Lê Danh Phương liền giải thích: “Chữ Thái (太), thế mà cũng không biết!”… Cuối cùng, vị quan lớn cũng tìm đến được nhà bạn. Ông rất ngạc nhiên khi thấy cậu bé trần truồng hồi nãy, bây giờ lại đang ngồi im trên cái ghế đẩu ở trong vườn nhà quan Thượng. Khi nghe vị quan bạn thuật lại chuyện với một thái độ bực dọc, quan Thượng thư Lê Phú Thứ cảm thấy rất ngượng ngùng, xấu hổ với bạn; lập tức gọi Lê Danh Phương vào nhà để mắng, rồi ra điều kiện: cậu phải làm ngay một bài thơ với đầu đề "Rắn đầu biếng học" để xin lỗi cha và bác; nếu không làm được thì sẽ bị đánh đòn. Chỉ một lát sau, Lê Danh Phương đã viết xong bài thơ và thoát được đòn roi của cha.
Nội dung bài thơ như sau: Chẳng phải Liu Điu vẫn giống nhà, Rắn đầu biếng học lẽ không tha, thẹn đèn Hổ Lửa đau lòng mẹ, nay thét Mai Gầm rát cổ cha, Ráo mép chỉ quen lời lếu láo, Lằn lưng chẳng khỏi vết roi da, từ nay Trâu Lỗ xin siêng học, kẻo Hổ Mang danh tiếng thế gia (Để thể hiện lời tự thú, tự trách, tự hứa của bản thân trước người cha và người bạn của cha mình, ngoài việc sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nghiêm trang, ngắn gọn, chặt chẽ; ngoài việc sử dụng những yếu tố ngôn từ trong một số câu tục ngữ và đơn vị thành ngữ tiếng Việt rất tế nhị; ngoài việc sử dụng kết hợp từ thuần Nôm với một vài từ Hán - Việt và điển cố văn học khá hợp lý, Lê Danh Phương còn chú ý sử dụng nhiều danh từ tiếng Việt chỉ một số loài bò sát, nhất là một số loài rắn độc. Từ rắn là một danh từ chỉ động vật thuộc loài bò sát, thân dài có vảy, không chân, di chuyển bằng cách uốn thân. Trong bài thơ Rắn đầu biếng học của Lê Danh Phương, từ rắn đầu là danh từ đã được chuyển hóa thành tính từ để chỉ từ rắn trong rắn mặt - một khẩu ngữ; nói về hạng trẻ con không chịu nghe theo những lời dạy dỗ của cha mẹ, bất chấp cả sự răn đe của người trên và trở nên rất bướng bỉnh, khó bảo. Tương tự, từ liu điu là một danh từ chỉ loài rắn nhỏ, có nọc độc ở hàm trên, đẻ con, sống ở ao hồ, ăn ếch nhái đã được tác giả sử dụng trong câu phá đề theo biện pháp tu từ ẩn dụ để chỉ hạng người không được học hành, bình thường. Từ hổ lửa là một danh từ chỉ loài rắn độc có khoang, màu đỏ như màu lửa được tác giả dùng trong câu thực thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành tính từ thể hiện một phản ứng tâm lý hổ thẹn của con người; ở đây là người mẹ. Từ mai gầm là danh từ chỉ chung loài rắn độc còn có tên là cạp nong, cạp nia. Rắn cạp nong thân có nhiều khoang đen - vàng xen kẽ. Rắn cạp nia thân có nhiều khoang đen - trắng xen kẽ, cỡ nhỏ hơn cạp nong. Từ mai gầm là danh từ được tác giả sử dụng trong câu thực thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành động từ thể hiện thái độ giận dữ, bực tức của con người; ở đây là người cha. Từ ráo trong rắn ráo là danh từ chỉ loài rắn lành, cỡ trung bình, lưng màu nâu, bụng màu vàng, ăn ếch nhái được tác giả sử dụng trong câu luận thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành động từ ráo mép chỉ thói quen nói dối rất xấu của người con trước cha mẹ. Từ lằn trong thằn lằn là danh từ chỉ loài động vật thuộc nhóm bò sát, thân và đuôi dài phủ vảy, bốn chi khỏe, sống ở bờ bụi, ăn sâu bọ được tác giả dùng trong câu luận thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành tính từ để chỉ hậu quả ở việc xử phạt của người cha đối với con mình về chuyện biếng học. Từ trâu là danh từ chỉ rắn hổ trâu - một loài rắn hổ mang rất lớn, rất khoẻ, rất độc, da màu đen được tác giả dùng trong câu kết thứ nhất theo phép chuyển nghĩa thành địa danh chỉ ấp Trâu; quê hương Mạnh Tử (Trung Quốc). Tương tự, từ lỗ là danh từ liên quan đến nơi ở của rắn, được tác giả dùng trong câu kết thứ nhất cũng theo phép chuyển nghĩa thành địa danh chỉ nước Lỗ; quê hương Khổng Tử (Trung Quốc). Từ hổ mang là danh từ chỉ loài rắn độc có tập tính ngẩng đầu, bạnh mang để đe dọa kẻ địch được tác giả dùng trong câu kết thứ hai theo phép chuyển nghĩa thành tính từ chỉ một trạng thái tâm lý của con người (xấu hổ mang danh). Bên cạnh việc dùng hai từ địa danh (Trâu, Lỗ) chỉ quê hương của Mạnh Tử, Khổng Tử; tượng trưng cho Nho học, khi viết bài thơ Rắn đầu biếng học, Lê Danh Phương còn lựa chọn những từ trong một số câu tục ngữ Việt và trong một số đơn vị thành ngữ tiếng Việt để đặt vào những vị trí cần thiết ở đầu đề và cả trong tám câu thơ của bài thơ: từ Rắn đầu trong đầu đề và trong câu thừa đề có trong thành ngữ "Rắn đầu rắn mặt"; từ liu điu trong câu phá đề có ở tục ngữ: "Trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu"; từ giống trong câu phá đề có trong thành ngữ "Giống nào ra giống ấy"; từ đau lòng trong câu thực thứ nhất có trong thành ngữ "Đau lòng xót ruột"; cụm từ nay thét mai gầm trong câu thực thứ hai xuất phát từ thành ngữ "Nay thét mai gào"; từ ráo mép trong câu luận thứ nhất có trong thành ngữ "Ráo mồm ráo mép"; cụm từ năm ba trong câu luận thứ hai bắt nguồn từ câu tục ngữ "Năm bà ba chuyện"; cụm từ siêng học trong câu kết thứ nhất bắt nguồn từ câu tục ngữ "Siêng làm thì có, siêng học thì hay"; cụm từ hổ mang danh trong câu kết thứ hai có trong thành ngữ "Xấu hổ mang danh"; và từ thế gia trong câu kết thứ hai có trong thành ngữ "Thế gia vọng tộc". Nhờ phối hợp sử dụng ngôn từ và thể loại hết sức nhuần nhuyễn, tinh tế, Lê Danh Phương qua bài thơ Rắn đầu biếng học đã nói lên đầy đủ những khía cạnh trong nội dung lời tự thú, tự trách, tự hứa của mình: tuy bản thân vốn sinh ra từ một gia đình có học, nhưng cậu lại ương bướng, ngang ngạnh, khó dạy bảo, không chăm lo học hành; và tự nhận thấy với những lỗi ấy chắc chắn cậu sẽ bị cha xử phạt nặng. Những lỗi của cậu đã làm cho mẹ rất đau lòng, xót ruột mỗi khi thắp đèn cho cậu học, mỗi lần nhóm lửa nấu cơm cho cậu ăn. Những lỗi của cậu không chỉ gợi niềm đau xót, hổ thẹn âm thầm, thường xuyên ở mẹ, mà còn dẫn đến thái độ bực tức, lo lắng, giận dữ ở cha. Dù mẹ có buồn, dù cha có giận và thậm chí nhiều lần đã bị cha xử phạt nghiêm khắc, nhưng cậu vẫn “lếu láo”; nghĩa là vẫn học bài một cách qua loa, đại khái, cốt cho có, cho xong. Mãi đến lúc này, trước một lỗi rất nặng (vừa biếng học, vừa vô lễ), cậu mới thực sự biết nhận lỗi và biết hứa từ nay chăm chỉ học hành để xứng đáng con nhà quyền thế, để xứng danh với truyền thống học phong của gia đình. Cả quan Thượng và vị khách chẳng những hết giận, mà còn tỏ ra rất thán phục về tài làm thơ của cậu bé)
vế đối: Những muốn Tự Do cho mới nhà, Thơ câu dại ý cóc mò tha, sách lề Đường Luật còng lưng mẹ, thầy thưởng Trường Ca mát bụng cha, Song Thất sao quên câu tuấn kiệt, Tứ Ngôn chăng nhớ bậc tài ba, vững lòng Lục Bát mà vui đạo, kim Cổ Phong lưu thi Việt gia (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Tự Do, Đường Luật, Trường Ca, Song Thất, Tứ Ngôn, Lục Bát, Cổ Phong là các thể loại thơ. Trong bài thơ này,Cóc dùng với nghĩa là con cóc, ý nói thơ dở, thơ con cóc; Song Thất cũng có thể hiểu là cửa sổ (song) trong nhà (thất); Tứ Ngôn có thể hiểu là ý tứ (tứ) cao lớn (ngôn, vì theo từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, "ngôn" còn có nghĩa là cao lớn); Lục Bát cũng có thể hiểu là sông Lục, núi Bát thuộc tỉnh Bắc Ninh (bao gồm Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay) quê hương những làn Quan họ, một cái nôi của thơ ca Việt Nam. Ngoài ra, Lục Bát cũng có nghĩa là "lục tìm chén bát" để ăn cơm, "có thực mới vực được đạo")
Một hôm, một vị quan bên Liêu Xá đến thăm ông Lê Trọng Thứ. Vị quan có nghe tiếng cậu bé con quan Thượng Lê rất hay chữ, muốn trực tiếp thử tài. Nể tình, ông Lê Trọng Thứ cho gọi Lê Quý Đôn tới.
Ông khách nói: "Ta nghe cháu còn bé mà đã hay chữ, nhà cháu gần ngã ba sông, vậy ta ra vế đối là: Tam xuyên (三川)!"
Vế đối giản dị mà hóc búa, chữ tam (三) có ba nét sổ ngang nhưng dựng lên, thành ba nét sổ đứng và là chữ xuyên(川). "Tam xuyên" (三川) lại có nghĩa "ba con sông". Lê Quý Đôn chưa đáp ngay mà cứ trân trân nhìn ông khách có mang cặp kính. Ông khách rất vui vì tìm được vế đối rất hiểm, liền hỏi: "Sao, có đối được không, cháu bé?"
Lê Quý Đôn lễ phép thưa: "Dạ, cháu xin đối là: Tứ mục (四目)!".
"Tứ mục" (四目) có nghĩa "bốn con mắt". Chữ đối lại thật chuẩn, chữ "tứ" (四) viết quay dọc lại, cũng là chữ "mục" (目).
Sinh thời Lê Quý Đôn nổi tiếng là người thông thái, đọc và hiểu không biết bao nhiêu sách vở thời bấy giờ. Ông thi đỗ Khôi nguyên. Lẽ thường, tuổi trẻ thông minh đĩnh ngộ, đỗ đạt sớm thường hay mắc tính kiêu ngạo. Thời trẻ, Lê Quý Đôn cũng không tránh khỏi điều ấy. Chuyện kể, sau khi thi đỗ, ông liền cho treo ngay trước ngõ tấm biển với hàng chữ: "Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn" (Nghĩa là: Ai không hiểu chữ gì thì hãy đến mà hỏi). Lần thân phụ ông qua đời, người đến viếng rất đông. Trong số đó có một cụ già mà Lê Quý Đôn không quen. Cụ tự giới thiệu lai lịch: Cháu còn nhỏ, chứ lão là bạn thân với cha cháu từ xưa. Nhưng vì nhà nghèo, đường xa, lại tuổi già sức yếu nên ít đi lại thăm hỏi nhau. Nay nghe tin cha cháu mất, lão đến để có câu đối viếng. Lão run tay, cháu hãy lấy giấy bút, lão đọc, nhờ cháu viết hộ. Lê Quý Đôn lấy giấy bút. Cụ bèn đọc: "chi". Ông Đôn không biết nên viết chữ "chi" nào bởi trong tiếng Hán có nhiều chữ "chi" viết khác nhau. Ông đành cầm bút chờ cụ già đọc tiếp xem sao, cụ lại đọc "chi". Lê Quý Đôn thấy lạ, liền hỏi: "Bẩm, "chi" nào ạ?" Cụ thở than rằng: "Đến chữ "chi" cũng không biết viết, thế mà treo bảng ngoài ngõ để cho người đến hỏi, thì sao trả lời được kia chứ?" Lê Quý Đôn ngượng chín cả người. Bây giờ cụ già mới đọc luôn hai vế đối:
Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kiên thượng tại Cách hơn ba chục năm, xích huyện hồng châu nay vẫn đó) Tại tại số thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chỉ (Xa ngoài mấy ngàn dặm, đào hoa lưu thủy bác về đâu) Thấy câu đối hay và lạ, Lê Quý Đôn và cả các nho sĩ đến viếng đều kinh ngạc. Còn ông già thì phủ phục trước linh cữu mà khóc rằng: "Ới anh ơi, anh bỏ đi đâu để con anh đỗ đến Bảng Nhãn mà chưa biết chữ "chi" anh ơi". Lạy xong, cụ già chống gậy ra về. Lê Quý Đôn mời mãi nhưng cụ không chịu nán lại, bởi thế nên sau này không ai biết ông cụ hay chữ đó tên là gì. Có thuyết khác nói giai thoại này là do cụ già viết cho Cao Bá Quát.
Tuy bị cụ già làm cho bẽ mặt nhưng Lê Quý Đôn vẫn chưa bỏ được tính kiêu ngạo, sau đó ông đến cầu siêu cho cha ở ngôi chùa làng. Nhà sư trụ trì thấy ông thì mừng rỡ mà rằng: "Quan Bảng vừa tới, may mắn sao. Bần tăng có điều muốn nhờ quan chỉ giáo, chả là đứa tiểu đồng của bần tăng nghe người nào đó đó, về hỏi, nhưng bần tăng nghĩ không ra, nên đành theo lời quan bảng dạy "Nghi nhất tự lai vấn". Câu đối thế này, xin quan chỉ cho:
Hạ bất khả hạ, thượng bất khả thượng (dưới không thể dưới, trên không thể trên)
Chỉ nghi tại hạ, bất khả tại thượng (đúng nên ở dưới, không thể ở trên)
Lê Quý Đôn nghĩ mãi không ra, đúng lúc ấy chú tiểu chạy từ ngoài vào thưa với sư phụ là cậu đã giải được. Lê Quý Đôn giục chú tiểu nói thử xem, thì mới hay đó là chữ "nhất" (một). Đúng là trong chữ "hạ" (dưới), thì chữ "nhất" ở trên chứ không thể viết dưới. Trong chữ "thượng" thì chữ "nhất" nằm dưới và chữ "bất", chữ "khả" thì chữ "nhất" lại ngồi trên. Lê Quý Đôn biết nhà sư đã lấy ngay chữ "Nhất tự lai vấn" ông treo trước ngõ để nhạo.
Qua hai lần gặp cao nhân, Lê Quý Đôn đã bớt kiêu ngạo hơn nhưng cái tính tự mãn chưa thể sửa ngay được trong một sớm một chiều, ông hạ chữ "nghi nhất tự lai vấn" xuống nhưng lại viết mấy chữ: “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn” vào cái bảng, hễ đi đâu thì cho thằng đầy tớ đi trước cầm. Một hôm qua đò, ông lái đò nhìn thấy dòng chữ trên rất khó chịu liền nói: "Tôi ra câu đối ông đối được thì để bảng này cầm đi, nếu không đối được thì đập cái bảng đi!" Lê Quý Đôn đồng ý, thời gian đối là thời gian đò qua sông. Lê Quý Đôn bảo: "Ông xuất đối đi". Ông lái đò nhìn vào khoang thuyền, trên bếp đang nấu thịt con hôn trong nồi ba ông đọc luôn:
Con Ba Ba nấu nồi ba, tam tam chi cửu thật là chín chưng
Lê Quý Đôn nghĩ nát óc cho đến khi đò sang sông mà vẫn không đối được, ông lái đò đập cái bảng ấy đi, từ đó cái tật coi thường người khác của ông mất hẳn vì ông hiểu rằng "mình hay nhưng có người hay nữa". Câu một có lẽ chúng ta đã rõ ông lái đò chơi chữ “Ba ba” với hai nghĩa (số 3 và con Ba Ba) Câu hai chia thành hai phần: “Tam tam chi cửu (chơi tiếng Hán hoàn toàn có nghĩa là : ba lần ba là chín, và cửu vừa là số 9 vừa là tính từ “chín”); “thật là chín chưng” nghĩa tiếng Việt hoàn toàn như “chín ngấu, chín mùi, chín rục...
Gần đây có người là Diên Minh đối như sau: Chim Đa Đa đậu nhánh đa, vô vàn trú thất khéo mà lạc nhau (Vế một dùng “Đa đa” với hai nghĩa (chim Đa Đa và nhiều), đạt tiêu chuẩn của vế xướng. Vế hai với phần một: “Vô vàn/trú thất”với từ Việt là “vô vàn”, từ Hán là “trú thất” (Thất : động, lều, chỗ trú đơn giản - còn có nghĩa là mất, thất lạc); phần hai thuần Việt “khéo mà lạc nhau”. Vô vàn:(无穷多: nhiều nhiều, đọc trại ra cho dễ nghe của nguyên từ “vô vạn” là từ Hán. Do đó, câu đối của Diên Minh có thể nói là đạt yêu cầu được 90% (vế một 50% + vế hai 40%)
vế đối khác 1: Chim cô cô đáp nhà cô, đơn đơn như nhất líu lô một mình (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng) (Theo Wikipedia, chim cô cô có 2 loại: Cô cô đầu xám (Cochoa Purpurea ) và Cô cô xanh (Cochoa viridis). Cô cô đầu xám được tìm thấy ở Bangladesh, Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Thái Lan, và Việt Nam. Chim Cô cô đầu xám là một loài chim màu sắc rực rỡ, thích sống yên tĩnh, nó thường hay đứng bất động một mình trong các tán cây. Chữ cô được dùng trong từ "nhà cô" có thể hiểu theo nghĩa danh từ (như cô giáo, cô gái, cô cậu...) hoặc theo nghĩa tính từ (cô thân độc mã, cô quạnh...). Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, chữ "cô" còn có nghĩa là một mình, chữ đơn cũng còn có nghĩa là một mình. Đơn đơn như nhất dùng ý nghĩa 1x1=1 để đối với 3x3=9 của vế ra. Có thể thay cụm từ "Đơn đơn như nhất" bỡi "Nhất nhất như nhất" mà vế đối không thay đổi ý nghĩa. Vế đối tả một con chim cô cô đậu một mình trên một ngôi nhà cô độc (hoặc ngôi nhà của cô giáo "hay cô gái, bà cô" chỉ ở một mình)
vế đối khác 2: Biển mười mười cấp anh mười, thập thập đẳng bách sướng cười trăm vui (Thiền Long) ("Con ba ba" là danh từ chung chỉ con vật thuộc loài ba ba. "Nồi ba" cũng là danh từ chung; Phần đầu vế đối: "Biển mười mười" là danh từ chung chỉ biển số đăng ký cho các xe có số thứ tự 1010. Trên thực tế Biển số 1010 được gọi theo các cách: "một không một không" hoặc "mười mười" hoặc "một nghìn không trăm mười"; "Anh mười" chỉ chung người anh thứ 10; Phần hai vế đối (số hán việt) : thập = 10; bách = 100; thập thập đẳng bách: 10X10=100, phần thuần việt "sướng cười trăm vui" : diễn tả trạng thái đạt niềm vui lớn "trăm vui" vì biển số đẹp, chữ "trăm" lặp lại nghĩa chữ "bách" đối chữ "chín" lặp lại nghĩa chữ "cửu")
vế đối khác 3: Đường hai hai qua nước hai, nhị nhị thành tứ đúng bài tư duy (Hoài Anh Võ Quang Thạch) (Đường 22 là quốc lộ Xuyên Á từ Tây Ninh qua Cam pu chia là nước thứ hai sau Việt Nam) 
vế đối khác 4: Mười mười đúng cả vừa mười. Thập thập như bách đúng rồi trăm nguyên. (Nguyễn Sư Giao)
******
2/ Quang Trung và Lê Ngọc Hân Vua Quang Trung tên thật là Nguyễn Huệ, khi còn nhỏ, Nguyễn Huệ thường được gọi là chú Thơm. Dưới quyền của Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc, ông được phong làm Long Nhương tướng quân. Khi đem quân ra Thăng Long lật nhào họ Trịnh, Nguyễn Huệ tỏ ý tôn phò nhà Lê. Cùng với thuộc tướng là Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ vào điện Vạn Thọ tiếp kiến vua Lê. Lê Hiển Tông mời Nguyễn Huệ ngồi ở sập bên giường ngự mà hỏi thăm yên ủi, Nguyễn Hữu Chỉnh mối lái nên nhà vua ưng lời gả Ngọc Hân công chúa và nhờ ông này dò ý Nguyên soái Nguyễn Huệ, Chỉnh bèn thay mặt nhà vua mời Nguyễn Huệ vào triều kiến diện.
Lê Ngọc Hân còn gọi bà là Bà Chúa Tiên khi bà ở Phú Xuân vì dinh phủ lập ở chùa Kim Tiên. Lúc vua cha và Nguyễn Huệ nói truyện, bà đứng sau bức bình phong, nghe tiếng Nguyễn Huệ ngân như chuông, lời lẽ quang minh chính đại. Đến khi thấy Nguyễn Huệ mắt phượng mày tằm, ánh nhìn như chớp, tướng mạo phi phàm thì trong lòng sinh ra cảm phục. Bà bước ra thi lễ và xin ra một vế đối và nói: "Nếu Chúa công đối được ấy là Chúa công đã trao lễ vật vậy". Nguyễn Huệ nhận lời, Ngọc Hân công chúa đã chuyển nguy thành an, chuyển thế bị động thành chủ động. Đang là kẻ bị ép duyên, Ngọc Hân công chúa trở thành chủ động tuyển phò mã.
vế ra là: Chúa công Công chúa hội ngộ Ngọc Hân công chúa tuyển phò mã bằng phương pháp thanh tao nhất, một vế đối thích hợp cho cả hai. Chàng là chúa công, nàng là công chúa cành vàng. Vừa hợp tình hợp cảnh, vừa nhắc khéo đến địa vị của nàng.
Nguyễn Huệ đối: Một mai mai một anh hùng
Nguyễn Huệ tự cho mình là anh hùng mà không đối được với giai nhân hay sao, thành anh hùng mai một hay sao? Do nghĩ như vậy nên câu đối Nguyễn Huệ có chữ ‘anh hùng’, ‘mai một’ , và chỉ gồm hai chữ này thôi. Đây là cái mà người xưa gọi là khẩu khí, khi đối, khi làm thơ
Vế ra của công chúa Lê Ngọc Hân rất khó và sẽ khó hơn nếu khoảng thời gian đối đáp là rất ngắn ngủi trong một buổi gặp gỡ cho Vua Quang Trung, có lẽ do tình thế bắt buộc lúc đó nên tuy vế đối của vua Quang Trung chưa chuẩn nhưng công chúa Lê Ngọc Hân cũng buộc phải chấp nhận. Năm 2014, Thiền Long Nguyễn Phước Thạnh đưa ra hai vế đối khác là: 
Vế đối 1: Đạo gia Gia đạo liên quan (Đạo gia là danh từ chung chỉ người theo đạo giáo; Gia đạo là danh từ chung chỉ các nguyên tắc trong gia đình. Liên quan là động từ có nghĩa là có mối quan hệ với nhau có thể đối với hội ngộ (gặp nhau); Toàn ý của câu đối là đạo gia và gia đạo có liên quan với nhau ở các nguyên tắc của đạo và gia đạo). Việc kết duyên đó cũng thuộc chủ đề gia đạo)
Vế đối 2: Quốc vương Vương quốc chiến thắng ("Quốc vương" là vua một nước, "vương quốc" là một nước có vua). Vế đối muốn tôn vinh những chiến công lẫy lừng của người anh hùng áo vải mà sau đó trở thành vị hoàng đế lừng danh thiên hạ)
Vế đối khác 1: Sư thái Thái sư trùng phùng (Hoài Anh Võ Quang Thạch)
Vế đối khác 2: Nhà nước Nước nhà độc lập hoặc Nhà nước nước nhà thống nhất (Hoàng Thành Ân tự Trọng Khoa) (Nhà nước là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình, nước nhà là nước của dân tộc mình, nước của chúng ta không phải của chủng loại khác. Câu này nói nên nhà nước ta là của chúng ta, do dân ta xây dựng nên một cách độc lập tự do chớ không còn bị áp bức bóc lột dưới gông xiềng nô lệ của ngoại bang nữa. Còn câu sau nói nên rằng nhà nước của nước ta là 1 nhà nước thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, không chấp nhận sự chia cắt đúng sách của chủ tịch Hồ Chí Minh "đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi")
Vế đối khác 3: Hoàng thượng Thượng hoàng tương tri (Trường Văn Nguyễn Phước Thắng)
Vế đối khác 4: Học sinh Sinh học thực tập (Đỗ Đình Bao)(Học sinh là người học tập tại các trường lớp có đào tạo quy củ, thường ở cấp độ tiểu học và trung học. Ở cấp độ cao học, đại học, cao đẳng gọi là sinh viên. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một hoặc nhiều ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Sinh học là một môn khoa học về sự sống, tập trung nghiên cứu các cá thể sống, mối quan hệ giữa chúng với nhau và với môi trường. Nó miêu tả những đặc điểm và tập tính của sinh vật, cách thức các cá thể và loài tồn tại...vế đối nghĩa là Học sinh môn Sinh học đi thực tập).
Ảnh minh họa: Nguồn từ Internet.



 

THÚ VỊ CỦA CUỘC SỐNG Lê Hoàng


THÚ VỊ CỦA CUỘC SỐNG

Khi chén rượu, khi cuộc cờ,
khi xem hoa nở lúc chờ trăng lên
( Nguyễn Du - Kiều ) 
Lê Hoàng.
Thao khảo : Epochtimes ..
 

 
Ngày Xuân nào có thể thiếu mai, đào. Những cánh hoa chúm chím báo Xuân sang. Nhưng mà nghề chơi cũng lắm công phu. Gặp khách tri kỷ đến nhà có thể ngồi cả ngày bên ấm trà để nói về cây, về đời và về Đạo. Đó là sự giao cảm tinh thần rất thi vị của văn nhân tài tử, phong lưu tiêu sái thời xưa mà ngày nay đã trở nên vắng bóng. Bài viết về hoa mai này người viết tặng cho người sành chơi và các tâm hồn đồng điệu. Dù cuộc sống có quay cuồng đến mấy, thì tinh thần ung dung tĩnh tại này cũng không thể mất…
Khi chén rượu, khi cuộc cờ.
Khi xem hoa nở, lúc chờ trăng lên .
Đất trời vào Xuân và lòng người dù còn bao muộn phiền của năm cũ, cũng thắp lên hy vọng Xuân đến sẽ là một khởi đầu mới trong cuộc hành trình đến hạnh phúc. Đó đã là một quy luật của thiên nhiên và lòng người. Bởi vậy mà nhà ai cũng cố gắng có cành đào, cây mai, chậu quất…
“Khi chén rượu, khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở, lúc chờ trăng lên”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du) 
Cây hoa mai được nhắc đến trong bài này là hoa mai trắng hay Nhất chi Mai, (Bạch mai, Hàn mai, Lưỡng nhị mai, nhị độ mai). Tên khoa học là Prunus mume Sieb. & Zucc, thuộc họ hoa hồng (Rosaceae). Gọi là mai nhưng lại cùng họ với đào, anh đào, mơ, mận. Nó hoàn toàn khác với giống mai vàng (Hoàng Mai) miền Nam có tên khoa học là Ochna integerrima thuộc chi Mai (Ochna), họ Mai (Ochnaceae). Tuy nhiên, trong bài viết có đoạn thì nói về giống mai trắng nói chung. Vì thực ra mai trắng cũng có nhiều loại, nhưng cái thần của mai trắng là giống nhau.
- Mai trắng không dành cho tục khách : Nhất Chi Mai sinh trưởng rất chậm, vài năm mới cao chừng mấy chục phân, lại kén người chăm. Người chơi mai cũng không đại trà như đào, quất vì chơi mai mà không hiểu được cái hồn của mai thì cũng phí hoài. Khi chọn mai thì theo tiêu chí là: bộ rễ và củ đen, thân cây già nua, gân guốc, bong tróc. Dáng thế có chủ đề riêng. Hoa và lộc vừa phải. Hoa mai lúc còn nụ màu đỏ, khi nở thì cánh nhiều tầng và càng nở càng trắng, khi nở rộ cũng là lúc đẹp nhất thì hoa trắng muốt, tinh khiết. Lúc tàn lại chuyển đỏ. Mai trắng là một bộ trong tứ quý tùng, cúc, trúc, mai. Tùng là sự vững chãi, cúc là đức khiêm tốn, trúc là sự thẳng thắn cương trực, còn mai là sự thanh khiết trinh bạch trong sáng vô ngần. Đây là những đặc điểm của người quân tử thời xưa.
Hoa mai nói chung có vị trí rất cao trong lòng người Việt cổ. Tên mai đã đi vào địa danh. Có thể bạn không để ý, Hà Nội có những địa phương xưa là nơi trồng rất nhiều mai, nên mới có tên là Hoàng Mai (Mai Vàng), Bạch Mai (mai trắng), Mai động, Tân Mai, Tương Mai. Xưa những vùng đất đó đã từng là thái ấp của danh tướng Trần Khát Chân, một người rất yêu mai và đã trồng nhiều mai ở đó, vì vậy mà đi vào tên gọi.
Từ nhành mai của thiên nhiên lúc xuân về:
Mai như người quân tử Mai trắng có một đặc tính là nếu chăm bón quá tốt, cành lá sẽ xum xuê, hoa sẽ nhỏ mà thưa, cành cũng nhẵn nhụi. Nhưng nếu trồng cằn, ở nơi nắng gió thì cành sẽ gân guốc, hoa lại to mà dày. Thời tiết giá lạnh khắc nghiệt không khuất phục nổi mai. Khi các loài cây hoa khác run rẩy thui chột vì gió sương lạnh giá thì mai vẫn rắn rỏi ngang tàng, càng phô ra cái sắc trắng tinh khiết như tấm lòng trinh bạch của người quân tử. Mai trắng là như thế, như người quân tử đứng giữa trời đất, chịu nỗi đau khổ mà thiên hạ không chịu nổi, từ trong gian khó mà thể hiện một khí phách hiên ngang bất khuất. Mai đã Nhẫn mà lại là Dũng.
Càng sương gió giá lạnh, mai càng đẹp, cành càng rắn rỏi, đen bóng xù xì, hoa càng nổi bật lên sắc trắng có thể so với tuyết, hương thơm càng dịu dàng thanh khiết và kín đáo.Mai không phô phang, cũng giống như đức khiêm cung của người quân tử, nhưng “hữu xạ tự nhiên hương”, ai tinh ý đều phải chú ý đến mai, đều yêu cái trinh bạch, cao khiết của sắc mai, cái mạnh mẽ rắn rỏi của dáng mai, hương thơm nhẹ nhàng mà thu hút khó cưỡng của hoa mai. Mai như người quân tử. Hãy nghĩ mà xem bao bậc quân tử, danh sĩ xưa nay, có ai được hưởng hạnh phúc đủ đầy của thường nhân, mấy ai được toại nguyện thỏa chí bình sinh với đời? Tài năng càng cao, đạo đức càng lớn thì cuộc đời lại càng mưa dập gió vùi. 
Tô Đông Pha, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thi Nại Am, Ngô Thừa Ân, Tào Tuyết Cần, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát…những bậc tài cao, đạo đức siêu việt có ai là không tránh khỏi trầm luân? Vậy mà đời tư càng thống khổ họ lại càng miệt mài đóng góp cho nghìn đời sau những tác phẩm bất hủ mà thế gian còn ca ngợi mãi. Mưa gió cuộc đời không động được đến tâm của họ. Khí chất ấy chẳng giống như mai hay sao? Vì thế, người ta mới gọi là mai cốt cách Trong Kiều, để tả về hai nàng Kiều, Vân, đại thi hào Nguyễn Du viết: “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”. Cốt cách cao thượng như mai, tinh thần trắng trong như tuyết, con người được ví von như thế là đến bậc thượng thừa rồi, không thể cao hơn được nữa. Trong một đoạn khác, cụ lại tả nàng Kiều: “nét buồn như cúc, điệu gầy như mai”. Dù nàng có buồn đau, gầy guộc vẫn giữ nguyên khí chất cao quý trong điệu gầy của mai, nét u hoài của cúc, không phải là sự tàn tạ, bệ rạc.
Hình ảnh mai được sử dụng trong Kiều rất nhiều lần. Mai trong cổ văn, cổ thi chắc chắn là mai trắng trong văn hóa của đất Bắc Hà, chịu ảnh hưởng của phương Bắc, nơi có nhiều mai trắng. Có một câu thơ miêu tả sự yêu hoa mai của cụ Nguyễn Du, được cụ viết trên đường đi sứ phương Bắc trở về. Ngang qua Từ Châu cụ đã chịu đựng giá rét suốt ba tháng cốt chỉ để được ngắm mai nở đầu non, chờ đợi thế có khác gì đợi người tri kỷ.
Nhượng tận khổ hàn tam duyệt nguyệt.
Lĩnh đầu lạc đắc khán mai hoa
(Trích Từ Châu Đạo Trung)
Dịch nghĩa:
Ba tháng khổ chờ qua giá rét.
Hoa mai đỉnh núi ngắm muôn vàn.
Cao Bá Quát bái lạy cành mai
Mai cao quý, cốt cách thanh kỳ thế nên ngay cả một hạng người thông minh tuyệt đỉnh, tài năng quán thế, cốt cách phi thường nhưng cũng hết sức ngạo nghễ ngang tàng như cụ Cao Bá Quát cũng phải bái lạy cành mai.
Cao Bá Quát thông minh, học giỏi, văn hay chữ tốt nức tiếng một thời, cùng với Nguyễn Siêu là hai danh sĩ được tôn lên hàng Thần Siêu, Thánh Quát (văn như Siêu Quát vô Tiền Hán). Quát từng nói với Siêu là: “Thiên hạ có bốn bồ chữ, Quát có hai bồ, Siêu một bồ, còn lại người trong thiên hạ chia nhau một bồ”. Khẩu khí thật là lớn. Cả đời ông chưa từng thấy cần phải bái lạy ai, vì con người không xứng để ông bái lạy. Ông chỉ bái lạy Hoa mai mà thôi, hãy xem thơ ông nói gì:
“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”
(Mười năm lưu lạc tìm thanh kiếm cổ
Cả đời kẻ hèn này chỉ biết cúi đầu bái lạy hoa mai.)
 
Ảnh minh họa:  nguồn từ Internet.