Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử các trường tại Q.Trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử các trường tại Q.Trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2023

HÀNH TRÌNH THÁNG TƯ về Nhà thờ Cây Da, Diên Sanh với “thiên tình sử Ô Lâu” Nguyễn Lạp.

 

HÀNH TRÌNH THÁNG TƯ
về Nhà thờ Cây Da, Diên Sanh với “thiên tình sử Ô Lâu”
 

 
Nhà thờ Cây Da hầu như ai cũng biết, nó khá gần gũi với người dân Quảng Trị, nhất là người làm ruộng sâu của vùng trũng Hải Lăng. Chùng tôi đến nhà thờ Cây Da từ 2 hướng chính: anh em ở các xã phía Nam men theo dòng Ô Lâu hiền hòa trong xanh, đến ngã rẽ qua dòng Ô Giang chúng tôi vui mừng vì không lâu nữa chiếc cầu kiên cố nối 2 xã Hải Sơn và Hải Phong sẽ được xây dựng lại với 2 làn đường rộng rãi, đi lại thuận tiện hơn và làm đẹp cho quê hương đổi mới! Còn hướng phía Bắc và trung tâm Thị trấn về sẽ theo đường quốc lộ I cũ rẻ qua đường “xuyên Á” và chỉ hơn một cây số rẻ vào con đường bê tông chạy giữa cánh đồng một màu xanh tràn đầy hi vọng, thể hiện sự no đủ của dân quê Hải Lăng, là vựa lúa của Quảng Trị chúng ta...vừa tròn 1,5 km là đến nhà thờ Cây Da. Điểm tập kết của khóa 8 trong hành trình tháng Tư này!
Hôm nay, một số ban ốm đau do thời tiết thay đổi hoặc đó công việc riêng khg sắp xếp để tham gia được. 8giờ30 về đến Hải Tân có được bạn Tuy, bạn Hương, bạn Tuấn và bạn Lạp. Nhớ lại một thời cơ cực khi mang con chữ đến các vùng Càng. Cực khổ do đường sá, trường lớp tạm bợ... Cực nhất là mùa lũ, cả cánh đồng nước mênh mông như biển cả, từng xóm Càng như những ốc đảo xa xôi, bị cô lập với các làng xung quanh... Hải Lăng là vùng đất có bảy càng bao gồm càng An Thơ, càng Cây Da, càng Hưng Nhơn, càng Hội Điền, càng Mỹ Chánh, càng Câu Nhi và càng Trung Đơn. Mỗi càng như vậy chỉ có trên dưới 30 hộ gia đình sinh sống. Các vùng càng có nhiều cá đồng tươi ngon, có chuột đồng mùa lũ, có vịt đàn và nhiều đặc sản riêng có của vùng càng mà không phải ai cũng may mắn được thưởng thức!
Với con lộ bê tông men theo dòng Ô Giang giúp cho người nông dân thoải mái đi lại với các phương tiện cơ giới. Qua rồi một thời cơ cực đường lầy lội, đi xe đạp còn khó, có khi phải nhắc xe đi bộ! Nay, quê hương ta đẹp quá, không khí trong lành với cánh đồng bát ngát một màu xanh của lúa tốt tươi, hy vọng một vụ mùa bội thu cho nông dân quê hương mình thêm niềm vui ngày thu hoạch vào tháng 5 sắp tới...
Từ Hà Lỗ ra Văn Trị (thuộc Hải Tân cũ) chừng 2 km, đến Cây Da hơn một cây số. Chiếc cầu bắc qua Ô Giang được xây năm 2004 được mang tên cầu Cây Da đã làm cho cảnh quan nhà thờ thêm thơ mộng. Cầu chỉ phục vụ cho xe 2 bánh nối đôi bờ thuận lợi đi lại cho vùng Càng, các xã phía Nam với các xã phía Bắc và trung tâm Thị trấn Diên Sanh...
Đến 9 giờ anh em chúng tôi đón các bạn ở Thị trấn về đường xuyên Á: bạn Ngự, bạn Đồng, bạn Tài ở Quảng Trị cùng về với bạn Tuyết. Bạn Gạc ra Hải Trường, ra đường xuyên Á cùng về với bạn Kiều Thu (ở Huế)... Chúng tôi về Cây Da với thôn Diên Trường của xã Hải Thọ trước đây, có ngôi nhà thờ Cây Da toạ lạc cao chọc trời, hoành tráng xiết bao! Bên dòng Ô Giang tưới mát cho cánh đồng lúa mênh mông xanh một màu xanh của lúa, xanh của sông nước hoà với màu xanh của mây trời tưạ như một bức tranh mà tạo hoá ban tặng. Chính vì thế mà nhà thờ Cây Da tạo nên một sự khác biệt, còn giữ được chút chân chất của cảnh thôn quê thanh bình, yên ả, không khí trong lành với cảnh đẹp mê hồn đã thu hút biết bao du khách gần xa!
Vào thế kỷ thứ XVIII, để tránh những cuộc bắt đạo dưới thời các chúa Nguyễn, các giáo dân theo đường thủy về đây, nguyên là hòn cù lao nổi lên với cây đa to lớn (nay không còn dấu tích nữa). Nhà thờ Cây Da có từ đó với nhà nguyện làm bằng tranh tre nứa lá tạm bợ thôi ... Và nay được xây dựng khang trang, to đẹp và được khánh thành 24/7/2008.
Cha Bênêđictô Lê Quang Viên, gốc An Vân, lại làm Quản xứ Cây Da và Càng Mỹ Chánh (08/03/2002-28/4/2009). Ngoài các công trình trên, Cha còn cho xây dựng công trình nước sạch phục vụ người dân ở đây.
Cây Da thuộc thôn Diên Trường (của xã Hải Thọ) nằm về hướng Đông của làng Diên Sanh. Giáo xứ Cây Da nay thuộc xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Nam giáp xã Hải Trường. Đông giáp sông Ô Giang và Bắc giáp xã Hải Thành.
Cây Da còn lưu lại một bài hò “Cây Đa Bến Cộ” rất tình tứ phát xuất từ lâu đời bởi con sông Ô Lâu là ranh giới của hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên:
 
Trăm năm diều (nhiều) lỗi hẹn hò, (1)
Cây đa bến cộ (cũ) con đò khác đưa.
Cây đa bến cộ còn lưa, (còn lại hay còn đó)
Con đò đã thác năm xưa tê (kia) rồi!
 
Câu chuyện kể như sau: Ngày xưa có anh học trò trên đường vào kinh đô Huế ứng thí, khi đi ngang bến đò này, gặp cô lái đò trẻ và đẹp, hai bên đã hẹn hò với nhau. Thế rồi anh học trò thi hỏng nên buồn tình không trở về cố hương nữa. Cô lái đò chờ không được phải đi lấy chồng. Khi anh học trò trở về thì; “Con đò đã thác năm xưa tê (kia) rồi”.
Trong hành trình về xứ Kẻ Lạng trước đây, bạn đọc cũng hình dung: cây đa, bến cũ, (giếng nước, sân đình...) gần như trên mọi miền quê hương VN ta ở đâu cũng có. Lần này về Cây Da, chúng tôi muốn giới thiệu về nhà thờ Cây Da và góp thêm một giả thuyết vào chuyện tình sử năm nao....
Trong một báo cáo của Đức cha Allys (Lý) năm 1923 gởi Hội Truyền Giáo Paris, ngài viết: “Trong số các Giáo xứ đã chịu nhiều đau khổ năm 1885 phải kể đến Kẻ Văn (khi đó Cây Da thuộc giáo xứ Kẻ Văn) mà phần lớn cư dân đã có thể đi vào Huế. Từ con số 619 giáo dân lúc đó, bây giờ (1923) đã lên tới 1,175 người, không kể 5 họ nhánh cách đây ít lâu vẫn còn trực thuộc, và giờ đây đã tách ra làm thành Giáo xứ Bến Cộ.
Qua đoạn trích trên cho thấy Cây Đa , Bến Cộ là có gốc tích ở đây phải không các bạn?!
Ngoài ra, chúng ta thấy rằng ngày xa xưa từ chợ Kẻ Diên vào Bao Vinh (Huế) là đi thuyền. Thuyền đi từ chợ Kẻ Diên qua con hói (kênh) hẹp vào bến Cây Da ở Ô Giang. Ngày ấy đây là bến sông do sông Ô Giang rộng đủ cho nhiều thuyền buôn xuôi vào phá Tam Giang và ngược lên dòng Hương Giang đến với phố thị Bao Vinh sầm uất. Đây là con đường thủy về kinh đô xưa. Phải chăng chàng thư sinh ấy theo thuyền buôn vào Huế để ứng thí. Với khoảng đường dài, với chiếc thuyền buôn đủ cho chàng thư sinh ôn lại bài vở và cũng đủ thời gian cho chàng dệt nên mối “tình sử Ô Lâu”. Các bạn thử nghĩ xem, một chuyến đò ngang mấy tiếng đồng hồ mà có nên thiên tình sử thì khả năng khó thuyết phục?! Dĩ nhiên, mọi việc đều có thể xảy ra! Tuy nhiên, các bạn biết không: như đã nói ở trên ta có Bến cộ, có Cây đa. Ngoài ra, tôi còn tìm thấy các bảng ghi thông tin ở nghĩa địa, ở bia lăng tử đạo ghi CÂY ĐA. Ngoài ra, đâu đó trên trang web nơi thì ghi nhà thờ Cây Đa, nơi thì Cây Da...
Cũng nói thêm, nhánh sông Ô Giang bên nhà thờ Cây Da thì có tài liệu họ vẫn ghi là Ô Lâu. (Ví dụ: “ngày 24-09-1885, đã có 123 tín hữu tử vì đạo dưới bàn tay Văn Thân. Các vị đã bị chém chết tại nhà thờ, sau đó bị vất xác xuống dòng sông Ô Lâu” <trong lược sử giáo sở Cây Đa, ngày 31/8/2019>; hoặc Google Map không gọi Ô Giang mà gọi Ô Lâu ngang qua Cây Đa!)
Mặt khác, sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định thực hiện năm 1807 nói rõ nguyên cớ câu ca dao xưa. Rằng truông Nhà Hồ từng có bọn người chuyên cướp bóc bộ khách trên đường. Còn phá Tam Giang sâu hiểm, có ba con “sóng ma” thường xuyên xô đắm thuyền bè qua lại khiến người chết rất nhiều nên mới có câu: “Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”.
Vậy trên đường vào Kinh, ngoài đường bộ vượt qua truông Nhà Hồ (ở Vĩnh Linh bây giờ) thì còn phải đi thêm bằng con đường thủy vào phá Tam Giang quá các chuyến thuyền buôn từ chợ Kẻ Diên (Diên Sanh bây giờ) vào Cây Đa xuôi Ô Lâu (Ô Giang bây giờ) ra phá Tam Giang ngược lên dòng Hương Giang đến Bao Vinh: một thương cảng lớn nhất của xứ Đằng Trong kéo dài hai thế kỷ XVII – XlX.
Tóm lại, trên đường thiên lý Bắc-Nam: đi bộ qua truông Nhà Hồ, đến chợ Kẻ Diên vào bến Cộ cây Đa (Cây Đa bây giờ) đi thuyền buôn vào Bao Vinh (cách kinh thành Huế 2 km). Sông nước hữu tình, đi cả ngày lẫn đêm,...khung cảnh nên thơ ấy đã dệt nên mối tình của chàng sĩ tử và cô lái đò duyên dáng đáng yêu. Phải chăng giả thuyết này đủ sức thuyết phục hơn là chuyến đò ngang dòng Ô Lâu để rồi vẫn tiếp tục đi bộ vào kinh ứng thí. Thời gian cô cậu gặp nhau trên chuyến đò ngang quá ngắn ngủi chắc chưa đủ chín một cuộc tình phải không các bạn?!!
Tạm biệt Cây Da, anh em chúng tôi lên thị trấn Diên Sanh. Ghé thăm nhà bạn Phạm Bá Nhơn (ven lộ xuyên Á) hôm này đặt móng. Bạn sẽ xây dựng nhà thờ gia đình và khu nghỉ khi về thăm quê cùng tháp bê tông để khoá chặt bạn với quê cha đất tổ, với bạn bè mến yêu!
Do công việc, bạn Nhơn không về Thị trấn cùng chúng tôi, bạn hẹn đầu giờ Ngọ sẽ đến họp mặt chúng vui....
Các bạn Nguyễn Chữ, bạn Vâng, bạn Nguyễn Dẫn, bạn Dương Tỵ, bạn Phước.... đã đón chúng tôi ở 41, BDT. Tay bắt mặt mừng, hỏi han nhau với nhiều câu: răng... rứa... hè...?!
Dự kiến 20 bạn, này được 15 bạn thôi! Chúng tôi bên nhau bàn bạc về nội dung của hành trình tháng Năm vào miền Nam với chủ đề: “Nhóm bạn K8 thăm thầy cô, thăm bạn bè Khoá 8 và thăm quan du lịch”. Dự kiến Đoàn cũng có được trên10 bạn. Chắc hành trình sẽ thành công do được sự động viên và ủng hộ nhiệt tình của bè bạn gần xa. Đây là một trong 2 việc lớn mà Khoá 8 sẽ thực hiện trong năm nay. Do vấn đề sức khoẻ, mùa vụ nên đã hạn chế về số lượng trong cuộc hành trình dài ngày lần này. Mong cho hành trình tháng 5 thành công đạt được các nội dung và ý nghĩa của nó!
Hành trình tháng Tư bạn Bùi Thị Tuyết đăng cai, do nhà có công việc nên đã mượn nhờ nhà 41, Bùi Dục Tài của vợ chồng bạn Ngự. Nhà vợ chồng bạn Tuyết ở thôn 1 (trước mặt trường TH Hải Thọ và Chùa Diên Bình). Chồng của bạn là anh Lê Đắc Hàm cũng là đồng môn Hải Lăng (k4). Anh chị có 4 cháu trai và 2 cháu gái. Hiện đã lo cho các cháu yên bề gia thất, nội ngoại đề huề... Hôm nay anh Hàm không gặp các bạn được, anh em K8 chúc cho gia đình anh chị an vui, hạnh phúc và luôn có những chuyến du lịch cùng cháu con để an dưỡng tuổi già!
11giờ trưa chúng tôi liên hoan. Bạn Tuyết đã gợi lại các món truyền thống của làng Diên Sanh: xôi thịt (heo, gà), cháo...có cải biên đôi chút cùng với “đậm đà miền Trung”. Bạn Nhơn tăng cường một hộp “loon cao” càng làm cho hồi kết của hành trình càng kéo dài.... Anh em chia tay khi trời đã qua chiều với cơn mưa bay bay như muốn níu chân các bạn lại! Cảm ơn gia đình bạn Tuyết và bạn Ngự rất nhiều đã tạo điều kiện cho anh em U70 vẫn còn ‘nghiên cứu' về Tình sử Ô Lâu với độ chín tuyệt vời như cảnh đẹp nên thơ của nhà thờ Cây Da bên dòng Ô Giang thơ mộng cùng chiếc cầu Cây Da nối đôi bờ gắn kết với một đêm trăng! Tuyệt vời! Rất tuyệt vời phải không các bạn!
Mong các bạn ra về bình an, không gặp công an!!! và hẹn gặp lại nhau (trực hoặc gián tiếp) trong hành trình tháng 5 vào thành phố Hồ Chí Minh nhé!
Nguyễn Lạp,16/4/23.

 

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

ÔNG CHA QUẢNG TRỊ Nguyễn Văn Trị, 24-09-2021.

ÔNG CHA QUẢNG TRỊ 
Nguyễn Văn Trị,  24-09-2021.

(Xin viết về một người mang trái tim vĩ đại vừa ngừng đập lúc 9:15’ ngày 21/9/2021 tại Huế. Bài viết này của Anh Tri được đăng trên FB cá nhân 4 năm trước khi trái tim này vẫn còn đập bình an và nay xin phép được bổ sung thêm một vài thông tin từ nhiều nguồn mà người viết tìm hiểu, cũng như được sụ chia sẻ từ những người có liên quan. Xin cám ơn và mong sẽ được quý vị bổ sung thêm tư liệu để bài viết được xác thực hơn.)
 
Người mà tôi đang kể với quý anh chị là một cố đạo người Pháp đã có quá trình gắn bó lâu dài với Quảng Trị như là quê hương thứ hai của Ngài dù sự gắn bó đó có những giai đoạn lịch sử tưởng như tách Ngài ra khỏi miền đất mà nơi đó Chúa đã tác hợp cho họ như cuộc hôn phối không ai có thể chia lìa được.
Đó là Linh mục Etcharren, người mà giáo dân Đông Hà, Cam Lộ và nhiều người Quảng Trị thương mến gọi Ngài bằng một từ đơn giản dễ phát âm là Cha Ét (âm đầu của tên ông … Etcharren ) hay là Ông Cha Quảng Trị.
Họ tên đầy đủ của người là Jean Baptiste Etcharren J.B , quê vùng Irouléguy tỉnh Pyrenees-Atlantiques miền Tây Nam nước Pháp, kế biên giới Tây Ban Nha. Người sinh năm 1932, thụ phong linh mục từ 02-02-1958 tại chủng viện Thừa Sai Hải ngoại Paris ( tên tiếng Pháp của dòng tu này là Société des Missions Étrangères de Paris được thành lập năm 1653 do sự khởi xướng của cố đạo Alexandre de Rhodes (Cha Đắc Lộ người khai sinh chữ Quốc ngữ) và công lao của các linh mục Francoise de Pallu và Lambert dela Motte).Hội Thừa Sai Paris là nơi điều hành các vị linh mục Pháp đi khắp các nước trên thế giới để truyền đạo (giải thích của thầy Đào Văn Nhẫn – cựu GS trường TH Nguyễn Hoàng là người có mối quan hệ gần gủi với Cha Etcharren). Ngay trong năm đầu tiên được thụ phong, ngày 22-4-1958, Tân linh mục 26 tuổi này đã lãnh sứ mạng qua truyền giáo tại Việt Nam và không ngờ xứ sở này đã cuốn hút cả trái tim và khối óc của ngài như là duyên nợ bền lâu.
Nói như Trần Giuse trong trang FB cá nhân:
“ Cha là nhân chứng Nước Trời,
Con dân đất Pháp, sống đời nước Nam.
Như là vật mọn người phàm,
Quên mình phục vụ hàng ngàn chiên con.
Những nơi hiểm hóc núi non,
Nghèo nàn, thất học Cha còn dấn thân…”
Xin được trở lại câu chuyện của Cha Etcharren với người dân QT:
Mùa hè năm 1972, Quảng Trị trở thành biển lửa, Cha là người đưa giáo dân Đông Hà, Gio Linh, Cam Lộ, và cả dân không phải Thiên chúa giáo vào Đà Nẵng, tạm cư tại trại Hòa Khánh là nơi đóng quân cũ của quân đội Mỹ. Chiến sự ở Quảng Trị vẫn tiếp diễn, nhận thấy không thể để dân hồi cư nên vào tháng 3 năm 1973 cha đã tìm phương kế lâu dài bằng cách liên hệ với nhà chức trách tỉnh Bình Tuy ( nay là Tỉnh Bình Thuận) và Chương trình Khẩn hoang Lập Ấp của CP Việt Nam Cộng Hòa do Quốc vụ Khanh Phan Quang Đán đảm trách để cấp đất ở các vùng Tánh Linh, Động Đền, Hàm Tân cho họ vào canh tác và trang bị trợ cấp vật phẩm, nông cụ…. Thời đó những vùng đất này còn hoang sơ, nghe kể lại ở Tánh Linh, Động Đền còn nhìn thấy voi.
Nhờ tầm nhìn và sự quan tâm của Cha mà một bộ phận người dân Quảng Trị không phân biệt lương cũng như giáo đã vào sinh cơ lập nghiệp tại tỉnh Bình Tuy cũ. Với tính chịu thương chịu khó, siêng năng và sáng tạo , cùng với đất đai màu mỡ họ đã phát hoang, làm rẫy, trồng trọt , góp nhặt tích lũy dần dà đã biến vùng này thành một nơi trù phú, sầm uất như ngày nay. Theo lời kể của thầy Hoàng Đằng, và anh Đoàn Đức, CHS Nguyễn Hoàng (cả 2 đều là cựu Hiệu trưởng trường TH Nguyễn Phúc Chu) Cha Etcharren bằng tài ngoại giao của mình đã xin được 100 lượng vàng mua cho ngôi trường công lập này một khu đất rộng 5 ha để phát triển giáo dục vào tháng 1-1975 thời anh Đoàn Đức làm hiệu trưởng. Khi biết tôi có sự quan tâm đặc biệt đến những việc Cha đã làm cho dân QT, anh Đoàn Đức chia sẻ với tôi qua điện thoại: “ Nghe tin Cha qua đời, ngày 21/9 anh xin lễ ở Giáo xứ Thánh Linh, Tân Hà, Hàm Tân nơi ngày xưa anh gặp Cha. Nguyễn Phúc Chu là ngôi trường công, không dính dáng gì đến Thiên chúa giáo cả. Nhưng khi anh thay anh Hoàng Đằng làm hiệu trưởng, Cha Etcharren qua sự giới thiệu của Cha Audice ( là người rất thân thiết với anh Đoàn Đức thời ở cư xá sinh viên Xavie ở Huế), đã tặng anh 100 lượng vàng để mua 5 ha đất xây trường đệ nhị cấp NPC. Ân tình này của Ngài, anh không bao giờ quên.”
Thời còn sống, thầy Lê Văn Quýt, cựu giáo sư Trường TH Nguyễn Hoàng-Quảng Trị, thường nhăc đến Cha với lòng biết ơn vô hạn về những gì Ngài đã làm cho gia đình thầy và nhiều người dân Quảng Trị vào Bình Tuy theo chương trình di dân này.
Ngày 26 tháng 9 năm 2017, nhân chuyến về Hàm Tân thăm Cha với một số anh trong Ban Điều hành cư xá Sinh viên Quảng Trị tại số 223 Công Lý cũ (nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa) do Cha thuê và tài trợ toàn bộ việc ăn ở, tôi có gặp anh Trương Tuyến, Trưởng ban LL CHS Nguyễn Hoàng Quảng Trị tại Bình Thuận. Khi nói đến Cha, anh Tuyến chia sẻ:” Hiện nay chỉ riêng huyện Hàm Tân đã có 8.416 người Quảng Trị trong đó có 72 anh chị em CHS Nguyễn Hoàng anh Trị ạ. Cuộc sống của chúng tôi ngày hôm nay tương đối đầy đủ, con cháu được ăn học nên người tử tế. Có được như thế là nhờ công lao ban đầu của Cha Etcharren đó”.
Tôi tính nhẩm nếu tính rộng hơn huyện Hàm Tân, số dân QT hiện nay có thể nhiều hơn mấy lần con số của anh Trương Tuyến báo.
Nhắc đến chuyến đi này, xin kể nguyên do mình có ấn tượng về Cha. Số là sau 30 tháng 4 năm 1975, mất nguồn trợ cấp của gia đình nên khoảng tháng 6, 1975 tôi xin vào tá túc tại Cư xá Sinh viên Quảng Trị với mong muốn ở lại SG tiếp tục con đường học vấn. Cư xá này do Cha Etcharren thành lập khoảng 1 năm (?) trước 1975 với mục đích nhân đạo giúp cho con em người Quảng Trị xa nhà, hoàn cảnh khó khăn, không phân biệt tôn giáo, có nơi ăn chốn ở theo học đại học. Cha giao việc điều hành cư xá cho một Ban chấp hành do sinh viên bầu chọn. Hàng tháng Cha ghé hỏi thăm việc học tập và sinh hoạt của sinh viên và chi tiền sinh hoạt. Tưởng đâu mọi việc suôn sẻ, tập thể khoảng 40 sinh viên chúng tôi yên tâm phần nhà ở và ăn uống để theo việc bút nghiên thì chỉ vài tháng sau đó Cha nhận lệnh của nhà cầm quyền buộc phải về Pháp. Cư xá không còn nguồn tài trợ nên đóng cửa, anh em chúng tôi mỗi người tứ tán một nơi, mạnh ai nấy sống để tồn tại trên đất Saigon.
Bẳng đi 42 năm sau, đầu tháng 9 năm 2017 tình cờ đọc trên fb của một anh bạn có post tấm hình của Cha. Mừng quá tôi hỏi thăm để mong có dịp chiêm ngưỡng và vấn an người đã hết lòng với nhiều người, trong đó bản thân mình cũng có một thời gian mang ơn bảo bọc.
Biết rằng Cha là một người vĩ đại, nổi tiếng của Giáo hội thì làm sao ngài có thể nhớ đến một nhóm nhỏ sinh viên ngày xưa ỏ một cư xá. Nhất là tôi chỉ là cậu sinh viên vào tá túc chưa tới 3 tháng ngắn ngủi , và chưa một lần được diện kiến Người. Nhưng không sao, sống trên đời chịu ơn ai mà có dịp được gặp để nói một lời CÁM ƠN thì đó là việc nên làm và phải làm! Huống gì đây là một Ông cha Quảng Trị người mà nhiều người dân QT hàm ơn, hoăc nghe nói đến Cha với lòng ngưỡng mộ vô biên thì sao mình lại bỏ quá dịp may trời cho này!
Thế là vào ngày đẹp trời 26 tháng 9, 2017, nhóm cựu SV cư xá QT gồm Trần Phong Dũng, Hồ Thanh, Dương Đức Trị và tôi cùng hẹn nhau đi Hàm Tân, Bình Thuận thăm cha. Nơi Cha nghỉ dưỡng sau khi phẫu thuật xương cột sống là Tu Đoàn Bác ái Xã hội Tân Hà, Huyện Hàm Tân. Trong khi chờ gặp người, chúng tôi đã ra sân vườn của dòng tu để viếng mộ Đức cha Phaolo Nguyễn Thanh Hoan (1932-2014), nguyên Giám mục chánh tòa giáo phận Phan Thiết, đồng sáng lập Tu đoàn Bác Ái Xã hội. Cha Hoan cũng là người ngày xưa dựng nên trường Trung học Đắc Lộ ở Đông Hà, và từ năm 1972 đã cùng chia sẻ ngọt bùi với dân Quảng Trị tại Hàm Tân, năm 1972 người sáng lập làng thiếu nhi Bồ Câu Trắng ở Bình Tuy…Đức cha Hoan qua đời năm 2014 để lại bao niềm mến thương cho mọi người.
Đến 11 giờ chúng tôi vào thăm Cha. Với dáng người uy vệ, phong cách nhẹ nhàng, nói giọng Quảng Trị thật rõ ràng và đặc sệt, người đã tiếp chúng tôi trong tình thương mến vì chúng tôi là người Quảng Trị. Chúng tôi nhắc lại cư xá sinh viên QT số 223 đường Công Lý nơi mà người chọn địa điểm, ký hợp đồng thuê nhà và mỗi tháng một lần lái xe đến thăm viếng và giao tiền phụ cấp cho sinh viên ăn học. Người chỉ cười và trả lời là có nhiều biến cố và việc xảy ra trong quá khứ nên không thể nhớ nổi. Tuy nhiên khi nhắc đến Quảng Trị thì người sinh động hẵn và nhớ rất rõ. Cha kể sau 1975 sau khi bị buộc về Pháp, người đã theo đoàn công tác của Công giáo qua Hà Nội và TP HCM vào những năm 1990, 1994, 1996 và 2010, trong đó có một lần được đi qua thành phố Đông Hà, Quảng Trị. Trong cuộc đời 60 năm làm linh mục , người đã cống hiến 17 năm tuổi trẻ cho Việt Nam (1958-1975) và tuy sau 1975 không còn ở VN, về Pháp người đã có công đào tạo cho các linh mục VN qua Pháp du học. Người kể dòng Thừa Sai Paris ngày xưa gởi qua VN 80 linh mục , hiện nay 70 vị đã về với Chúa còn lại 10 người và chỉ duy nhất người sẽ ở lại với VN cho đến khi mãn phần. Hiện có một linh mục trẻ đang học tiếng Việt để làm người kế thừa của dòng Thừa sai Paris tại VN.
Đến 11g30 dù rất muốn nghe người nói chuyện, nhưng chúng tôi đành tạm biệt do các soeur báo đã tới giờ Cha dùng cơm trưa và nghỉ ngơi. Món quà chúng tôi tặng người là cuốn sách ảnh tựa đề Quảng Trị Đi Nhớ Về Thương của tác giả Phạm Đình Quát với suy nghĩ Ngài đã 85 tuổi, sức khỏe không còn tốt, chắc không thể có chuyến về thăm QT thì với cuốn sách này người có thể lật từng trang nhìn các tấm ảnh về Quảng Trị thân thương sẽ gợi cho người kỷ niệm về năm tháng xưa cũ người đã sống, đã phụng sự đức tin, chăn chiên…
Từ 17 năm gắn bó với giáo dân, rồi QT rơi vào thời kỳ bom đạn chiến tranh khốc liệt , trong người đã phát sinh tình cảm mến yêu miền đất nghèo nàn, gian khổ, nhưng đầy tình người này. Cha Etcharren, ông Tây chính hiệu mà nếu chỉ nghe tiếng nói không thấy người ai cũng nghĩ đó là người Quảng Trị. Chả trách ngài được người dân quê tôi mến thương đặt tên là Ông cha Quảng Trị!
Cuộc đời của Cha Etcharren là một chuỗi thời gian trọn vẹn dành phụng sự đạo và đời với đức tin không hề lay chuyển. Những gì Cha đã làm chỉ có Chúa mới biết rõ! Tôi là người ngoại đạo, có cơ may được diện kiến người một lần trong đời trong chuyến thăm viếng đặc biệt này, nhưng khi nghe kể về những công lao của người chăm lo cho dân Quảng Trị không kể là giáo hay lương, thú thật trong lòng tôi luôn dâng trào cảm xúc của sự ngưỡng mộ và tri ân vô hạn.
XIN LƯỢC KỂ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỐNG HIẾN CỦA MỘT TÔNG ĐỒ CHĂN CHIÊN NHƯ SAU:
15/4/1932: Chào đời tại Irouléguy, Pháp
9/1950: Gia nhập Hội Thừa Sai Paris ( Missions Étrangeres de Paris), viết tắt là MEP.
1952-54: Đi nghĩa vụ quân sự Pháp
2/2/1958: Thụ phong linh mục tại MEP
4/1958: Nhận sứ mệnh truyền giáo tại VN, học tiếng Việt tại Kampuchia
1959: Phó xứ La Vang, Quảng Trị, thuộc Giáo phận Huế
1960: Phụ trách giáo điểm Mai Xá, Q Trị, Giáo phận Huế
1961: Giáo viên trường Providence (Thiên Hữu) và Tiểu chủng viện Hoan Thiện, Huế
1966: Quản xứ Đông Hà và khu vực Quảng Trị
1972: Đưa giáo dân và người QT đi tỵ nạn chiến cuộc tại Hòa Khánh, TP Đà Nẵng
1973: Đưa giáo dân và dân QT vào định cư tại Bình Tuy, Giáo phận Phan Thiết
1974: Đắc cử Bề trên Miền Hội Thừa Sai Paris (MEP)
1975: Bị buộc phải rời khỏi Việt Nam, trở về Pháp
1976: Đặc trách Mục vụ Di Dân toàn Pháp quốc (phụ trách việc tỵ nạn cho dân Việt Miên Lào)
1983: Tổng tuyên úy kiều bào Việt Nam tại Pháp
1986: Đắc cử Trợ phụ tá Tổng Quyền Hội Thừa Sai Paris
1992: Đắc cử Tổng Đại diện Hội Thừa Sai Paris
1993: Phụ trách Sở Tuyên úy đón tiếp các Linh mục Việt Nam sang Pháp du học.
1998: Đắc cử Bề Trên Tổng Quyền Hội Thừa Sai Paris và đảm nhiệm chức vụ này suốt 12 năm
2010: Nghỉ hưu tại Tòa TGM Huế theo lời mời của Đức Tổng GM Têphano Nguyễn Như Thể
9:15’ ngày 21/9/2021 về với Chúa – Hưởng thọ 89 tuổi, 63 năm mặc áo Linh mục
Lễ tiễn đưa và mai táng lúc 15:00 ngày 22/9/2021 tại nghĩa trang Đại Chủng Viện Huế.
KỶ NIỆM VỀ CHA TỪ MỘT SỐ NGƯỜI MÀ TÔI ĐƯỢC BIẾT:
1- Thầy Hoàng Đằng, Cựu Giáo sư NH, và Cựu Chánh thanh tra Sở Học Chánh tỉnh Bình Tuy cũ năm 1975 nhớ lại:
“Năm 1974, dân Quảng Trị vào Bình Tuy ở hai khu Động Đền và Láng Gòn; ở Động Đền, có trường trung học công lập Cam Lộ chuyển vào; ở Láng Gòn, chỉ có trường tư thục Đắc Lộ từ Đông Hà di cư vào, còn trường trung học công lập chưa có; dân Láng Gòn vận động mở trường trung học công lập, Sở Học Chánh Bình Tuy ủng hộ lập thủ tục, chính quyền tỉnh Bình Tuy thoả hiệp, Bộ Giáo Dục ở Sài Gòn đồng ý; qua lời ông Ngô Ngọc Hiệp - lúc đó làm Phó Tổng Thư Ký Bộ Giáo Dục, người quê thị xã Quảng Trị, Bộ không còn chính sách mở trường trung học công lập nữa mà các tỉnh mở loại trường trung học tỉnh hạt, tuy nhiên, Bộ ưu đãi cho trường hợp này với điều kiện địa phương phải dành sẵn đất để xây trường; anh em giáo chức di dân mình trình bày chuyện đó với Cha, Cha bảo mấy thầy khỏi lo, rồi Cha thương lượng mua lại khu lò than của nhà tư sản Phạm Ngọc Né với giá 37 triệu hay 3,7 triệu đồng (lâu quá, không nhớ chính xác). Đất mua xong, trường tạm khai giảng lấy tên trường trung học Nguyễn Phúc Chu (từ lớp 6 đến lớp 12) tại một cơ sở do UNICEF giúp xây dành cho bậc tiểu học. Bộ đang chuẩn bị cấp ngân sách để xây trường trung học thì biến cố 30/4/1975. Người được việc chỉ có ông Phạm Ngọc Né! Nhắc đến chuyện này, tôi muốn tỏ lòng cảm phục Cha - người mà trong giai đoạn đó không những vừa lo ăn, lo ở, lo tương lai ổn định cho dân Quảng Trị mà còn lo trường công lập trong khi đã có sẵn trường Công Giáo là trường Đắc Lộ. Cách đây mấy tháng, bạn tôi - thầy Đoàn Đức - nói với tôi có ghé thăm cha Etcharren ở nhà Chung Huế, tôi vô cùng ngạc nhiên; nay lại nghe anh Trị viết có thăm Cha ở Láng Gòn, thế là chắc chắn Cha đã chọn Việt Nam làm quê hương. Ước gì tôi có dịp thăm Cha một lần!”.
2- Anh F.X Đoàn Hiếu Trung (Trung Đoàn), người đi theo cha vào Hàm Tân trong chương trình khẩn hoang lập ấp hiện ở Giáo Xứ Đông Hà, Hàm Tân viết:
” Ngài là cựu Chánh Xứ Giáo Xứ Đông Hà ở ngoài Đông Hà, Quảng Trị, cùng dân các quận Đông Hà, Gio Linh, Cam lộ vào Bình Tuy.Ngài là vị chủ chăn hết lòng lo cho đàn chiên. Không những chỉ tín hữu thôi, nhưng tất cả, kể cả các tôn giáo bạn... Không chỉ đồng bào Đông Hà, nhìn chung cả dân Quảng Trị. Có những dự án của Ngài thực tế và hiệu quả! Như:Thuê nhà cho anh em Sinh Viên trú ở Sài Gòn(trước 75), mua bò về cho các người nghèo nuôi luân phiên trong Giáo xứ (kể cả người ngoài Công Giáo nếu đủ điều kiện Ban Mục vụ xét), cụ thể là hồ chứa Tân Hà, có nước làm ruộng được mấy năm! Hiện giờ Ban Thủy Lợi quản lý... Rất tiếc nước không về được, dân bỏ ruộng phần nhiều trồng bạch đàn và keo...
Tui xin mạo muội kể sơ về ba dự án đặc trưng , còn rất, rất nhiều dự án của Ngài…” .
3- CHÂN DUNG MỘT THỪA SAI HOÀN HẢO- Lê Cẩn FX61
Cha J.B. Etcharren đã đi vào cõi vĩnh hằng ngày 21.9.2021, kết thúc 89 năm hành trình dương thế và 63 năm linh mục. Chúng tôi biết ngài vào năm lớp 5eme tại chủng viện Hoan Thiện, thường gọi ngài là Cố Êt. Cha giáo J.B. Etcharren dạy môn francais. Lần đầu tiên chúng tôi học tiếng Pháp, nghe tiếng Pháp với người Pháp. Cố dùng cuốn sách Grands Coeurs – Ông Hà Mai Anh rất khéo dịch Tâm hồn cao thượng , diễn tả hết ý nghĩa- của Edmond de Amicis làm thủ bản. Sách giàu từ ngữ và mỗi trang sách là một bài dạy làm người, dạy cách ứng xử văn minh, lễ độ, tế nhị với cha mẹ, thầy giáo, bạn bè; là lời người cha dạy con đầy tình cảm. Bản dich từ nguyên bản tiếng Ý sang tiếng Pháp rất tốt ( theo nhận xét của Cha giáo). Sau môt năm học với Cha, ngoài nhưng bài học về giáo dục nhân bản, tiếng Pháp của học trò tiến bộ vượt bực, có thể viết bài văn tiếng Pháp xuôi chảy. Qua năm lớp 4eme tại trường Thiên Hựu, ngài dạy môn geographie và cathechisme.
Là dân xứ núi Basque miền Nam nước Pháp, thể hình cao lớn như những vị đồng hương là Đức Cha Urrutia, Cha Oxarango, xứng hợp với vóc dáng của Cố là chiếc xe môtô Harley dềnh dàng. Mỗi khi nghe tiếng nổ bành bành lớn/nhỏ là biết Cố đi hay về mà cảnh giác, loạng quạng bị bắt lỗi luật là Cố xuất cho một chưởng nên thân. Nói thế mà nhắc nhở nhau chứ chưa thấy Cố xuất chưởng với chú nào.
Tính tình Cố vui vẻ, thân thiện, dễ mến. Giờ giải lao chúng tôi hay lên phòng ngài, đôi khí có kẹo Tây ăn. Cố thường có một câu để động viên học trò trong lớp Vouloir c’est pouvoir, muốn là có thể được, phải biét khát khao và làm hết khả năng. Chú Lê Đình Tường PX 59, vào giờ làm vệ sinh nhà cửa hằng tuần, đang quét hành lanh trước phòng Cố, gặp Cố bước ra khỏi phòng liền thưa với Cố thưa Cha Vouloir c’est pouvoir bây giờ trở thành vouloir c’est couloir, ước muốn giờ là hành lang( đang lau quét). Cố cười thich thú kiểu chơi chữ và hay nhắc lại.
Cố là người nghiêm túc về đúng giờ, rất khó chịu khi bị sai giờ. Có một lần chú chấp lệnh đã để cho giờ chơi quá 5 phút mà chưa kéo chuông. Cố làm thay chú chấp lệnh. Nhiệt tình quá , chuông ré lên khác thường một hồi dài , tức tối nhảy khỏi chỗ gắn, rơi tự do xuống. Tạ ơn Chúa, sém qua vai ngài.
Cố rất chịu khó học tiếng Việt, cho ăn kẹo để gần gũi nói chuyện với thanh thiếu niên, thế mới xảy ra chuyện dở khóc dở cười. Thời gian năm 1959 bề trên đặt Cố làm phó giáo xứ La Vang để có cơ hội học tiếng Việt, Cố nghe chúng nói với nhau nhưng câu đại loại như Tổ cha mi, Ông nội mi ...mi mậc đồ đẹp hè, mi đi mô mà không kêu tao Cố nghe lạ tai bèn hỏi lại, chúng thưa đó là câu chúng con thân mật chào nhau. Cố thực hành bài tiếng Việt với Cha xứ, mấy dì phước. Ái chà , ai nấy đỏ mặt tía tai, giải thich cho Cố đó ngôn ngữ bụi đời tụi trẻ nói với nhau- bây giờ gọi là đám trẻ trâu- người lớn thanh lịch không sử dụng. Xem như Cố bị việt vị.
Cố rất tình cảm, yêu thương học trò. Anh bạn cùng lớp, dù đã xuất tu, du học Pháp , được ngài mời về quê nhà xứ Basque thăm quan, ở cùng gia đinh ngài cả tuần lễ. Có lần ngài ghé lại nhà tôi, nghe tiếng heo kêu, mạ tôi có nuôi mấy con nái, ngài xin ra coi, ngài xổ một từ mà tôi mới nghe lần đầu “ con nái ni đã phủ chưa?” , tiếng bình dân là chịu đực. Từ ngữ chính xác và thanh nhã.
Khi Cố Valour tử nạn vì xe bị mìn, Cố rời trường Thiên Hựu ra thay thế làm chánh xứ Đông Hà năm 1966. Trong môi trường mục vụ giáo xứ và truyền giáo, ngài như cá gặp nước, hết lòng vì con chiên bổn đạo và lương dân. Đúng là một “ mục tử mang lấy mùi chiên”, rất được dân yêu mến. Số phận mục tử gắn liền với đàn chiên. Năm 1973, Quảng Tri-Đông Hà là vùng chiến cuộc nên ngài đem dân vào tỉnh Binh Tuy. Sau biến cố 1975, ngài bị buộc về Pháp. Hai nhiệm kỳ làm bề trên tổng quyền Hội Thừa Sai Hải ngoại Paris, là khuôn mặt lớn của Hội. Ngài đã trở lai Việt Nam khi thời thế cho phép.
Con chim phượng hoàng của những dãy núi Pyrenees hùng vĩ xứ Basque đã bay về miền viễn đông xa lạ, chọn sông Hương núi Ngự và miền Dinh cát (Quảng Trị) làm quê hương. Nay chim phượng hoàng đã ngưng vỗ cánh. Và quê hương thứ hai đã ôm lấy thắm thiết Vị thừa sai đã hoàn thành sứ mệnh. Ngài an nghỉ trong nghĩa trang Đại chủng viện, ngôi mộ thứ 58 bên cạnh quí bậc đàn anh 25 vị cùng Hội dòng, cùng chí hướng, cùng tình yêu Việt Nam , yêu Giáo phận Huế với các Cố L. Cadiere, Roux, Cressonnier ...những người vì Tin Mừng cứu độ đã giã từ quê hương ông bà tổ tiên và mãi mãi gởi nắm xương tàn nơi mảnh đất xa lạ đã trở thành thân yêu.
Giờ đây, ngài đã về quê hương vĩnh hằng để diện kiến Đấng hằng sống, gặp lại bạn cố tri Cha bề trên PX. Nguyễn Văn Thuận, Cố G. Lefas ...
Nhớ về Cha cố J. B. kính yêu, vị ân sư , học trò chúng con nguyện cầu : “ Cửa công chính hãy mở cho tôi vào, cho tôi vào tạ ơn Chúa nơi cung điện ngợp quang vinh. Chính đây là chính đây là cửa công chính hãy mau tiến vào .. “ TV 118"
—-
4- BIẾT ƠN CHA -Đoàn Đức
Xã Tân Hà nói chung, và riêng Giáo xứ Đông Hà (Bình Tuy) rất biết ơn Cha J. B. Etcharren! Vì, mùa hè đỏ lửa 1972, ngài đã đưa các gia đình chạy loạn ở vùng Đông Hà-Quảng Trị, lương cũng như giáo, di tản vào Hòa Khánh, Đà Nẵng; rồi qua năm 1973, ngài lại dẫn họ vào định cư lập nghiệp tại Bình Tuy. Ngài lo lắng cho mỗi gia đình tỵ nạn, lương cũng như giáo, có nhà cửa, vườn tược, đất đai và dụng cụ canh tác. (Tôi nghe nói, lúc đó, cả thị xã Đông Hà Quảng Trị , cả chục ngàn người theo ngài vào Bình Tuy? Vì thế, lo cho họ nơi ăn chốn ở thuở ban đầu là rất vất vả!)
Ngài làm nhà nguyện đầu tiên ở Đông Hà năm 1974. Xây nhà xứ. Xây trường Tiểu học Tân Hà và Trạm xá. Ngài xây trạm xá xong, đã chuyển thuốc men từ Pháp về trạm xá đầy đủ, để chuẩn bị mở cửa thì đất nước biến chuyển (bây giờ nơi đây là trường Quân đội nhân dân)!
Sau ngày 30-4-1975, ngài vẫn ở Đông Hà với giáo dân của ngài, nhưng chỉ được ít tháng, rồi ngài phải lên đường hồi hương Pháp, quê hương của ngài.
Giáo hội Việt Nam cũng rất biết ơn ngài, vì từ năm 1998 đến năm 2010, trọn 12 năm làm Bề trên Tổng Quyền Hội Thừa Sai hải ngoại Paris, liên tiếp 2 nhiệm kỳ, ngài đã dành rất nhiều học bổng, để các Giáo phận gởi các thầy, các cha qua MEP du học.
Năm 2010, khi không làm bề trên nữa, ngài muốn về Việt Nam để gởi thân xác ngài trên quê hương Việt Nam, mà ngài rất yêu mến và muốn chọn làm quê hương thứ 2 của ngài. Và ngài đã được nhà nước chấp thuận cho về nghỉ hưu tại Toà Giám mục Huế.
Ngài nói tiếng Việt rất giỏi (tiếng Quảng Trị, Huế), nếu không thấy ngài và chỉ nghe ngài nói tiếng Việt, thì chúng ta không thể ngờ đó lại là một ông Tây! Ngay cả tiếng lóng Quảng Trị - Huế, ngài cũng khá rành rọt!
Hôm nay, ngài đã đi hết chặng đường của một vị Thừa Sai nhiệt thành trên quê hương Việt Nam, đặc biệt trên quê hương Đông Hà, Quảng Trị và Bình Tuy (Tân Hà - Hàm Tân)
Xin được thắp nén hương lòng kính nhớ và cảm phục vị tiền nhiệm đã hết lòng vì con chiên bổn đạo – ngay cả với anh chị em lương dân!
Và xin Chúa sớm đưa Linh hồn Gioan Baotixita về hưởng hạnh phúc bên Chúa!
5- CÒN TRONG KÝ ỨC - Đinh Quang Lê nhớ lại lúc còn là cậu bé theo gia đình trên chuyến xe đưa dân QT tạm cư tại Đà Nẵng làm tiếp chuyến di dân vào Bình Tuy:
…”Đầu năm 1974- Những chuyến xe khách 45 chỗ của các hãng xe chạy đường dài: Sài Gòn- Đà Nẵng: Phi Long, Tiến Lực, Thuận Thành, MIền Trung… chở nhiều gia đình Đông Hà- Quảng Trị từ trại Tạm cư Hòa Khánh Đà Nẵng sau khi họ rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn của mình ở QT vào lánh nạn tại Đà Nẵng rồi vào phương Nam theo chương trình “ khai hoang lập ấp” do Quốc Vụ Khanh Phan Quang Đán của chính phủ VNCH đặc trách, dưới sự dẫn dắt của các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo, đặc biệt là các Linh mục Công giáo đến khu nhà lá buông (lá kè) (*) sơ sài dựng tạm tại Tân Hà (Láng Gòn, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy cũ). Anh Đinh Quang Lê kể lại: “Sau hành trình khá dài – hơn 30 tiếng đồng hồ, xe xuất phát từ Hòa Khánh: Từ 9 giờ sáng, nghỉ qua đêm tại Sông Cầu, Phú Yên và vào khoảng 5 giờ chiều ngày hôm sau đến Láng Gòn, Hàm Tân, Bình Tuy cũ .
(*) Khu nhà dành cho chúng tôi là một khu nhà lợp bằng lá buông (lá kè) đơn sơ, kề cận đường tỉnh lộ (cách ngả ba 46, QL 1 khoảng 15 km) ở giữa một khu rừng chủ yếu là cây dầu rái thân thẳng, to và cao, lác đác có vài loại cây khác như mai rừng, xoài rừng. Khu nhà được xây dựng tạm bợ trước để đón các hộ đa số là dân tỵ nạn Quảng Trị trong đó có gia đình tôi đi khai khẩn đất hoang di dân và tạo dựng quê hương mới tại Bình Tuy. Đức Cha Etcharren là người đã có công đưa dân QT tỵ nạn chiến cuộc từ Đà Nẵng vào lập nghiệp tại Bình Tuy…”
6- Cảm nghĩ của Thầy Đỗ Trinh Huệ, PX 53, Cựu GS Trường TH Nguyễn Hoàng, người được trao Sắc Phong và Huân Chương Hiệp Sĩ Tòa Thánh, về Cha Etcharren:
“ Có lẽ đây là người Pháp cuối cùng nói tiếng Việt y hệt như người dân Quảng Trị, với đủ âm săc và phương ngữ vùng miền.
Cũng như Cadiere, ước nguyện cuối cùng là được chết và chôn ở Việt Nam: người vừa được mai táng ngày 22-9-2021 (89 tuổi) cùng một nghĩa trang với Cadiere (chết tuổi 86) tại Huế.
Ước nguyện thứ hai là được trở thành công dân Việt Nam; ước nguyện chưa thành ... nhưng tâm tư tình cảm và mọi cách thế ứng xử đã minh chứng 100% đã thanh người Việt!
Có thê nói đây là một Cadiere thứ hai bằng hành động và cuộc sống.
Những cựu sinh viên, giáo chức ,
phần nhiều không đồng tôn giáo, từng tiếp xúc gần gũi đã nghĩ gì về con người xưa nay hiếm này?
Xin phép chia sẻ những cảm nghĩ của họ ( cám ơn anh Anh Tri là người trong cuộc đã có bài viết rất cảm động và tôi xin shares theo đây)”
7- Cảm nghĩ của TS. Lê Đình Cai người QT định cư tại HK:
Dear chú Trị ,
Anh đọc rất kỹ bài viết "ÔNG CHA QUẢNG TRỊ ". Bài viết hay và rất chân thật.
Cha Etcharren đã làm việc ở các họ đạo thuộc Đông Hà ,Cam Lộ,Gio Linh ...Vai trót của cha nổi bật nhất trong lòng dân Quảng Trị,lương cũng như giáo ,là đã giúp mọi người ổn định cuộc sống buổi đầu trên đất Bình Tuy khi phải di tản vì chiến tranh.Rồi Ngài còn giúp anh chị em sinh viên gốc gác Quảng Trị có nơi ăn chốn ở tạm thời khi theo học ở Sài Gòn ...Những công việc Ngài làm thật cao quý ...Anh vì rời xa Quảng Trị kể từ đầu thập niên 1960 ,nên không được biết về Ngài . Cám ơn Trị đã viết về công ơn Ngài rất rõ nét để con dân Quảng Trị thế hệ sau được biết về người đại ân nhân một thời trên vùng đất địa đầu giới tuyến khốn khổ này...Quê hương mình chịu đựng quá nhiều thương đau của cuộc chiến Quốc Cộng vừa qua .
Thời gian trôi qua đã hơn nửa thế kỷ, nhưng quê hương khốn khổ ngày ấy nào dễ có ai quên...
Quý mến,
Lê Đình Cai
8- Kỷ niệm về các cố Linh mục Nguyễn Thanh Hoan và Etcharren của Thầy Lê Hữu Thăng, cựu GS trường TH Nguyễn Hoàng, Cựu Trưởng Đại diện Hội Hồng Thập Tự miền Trung ( trước 1975):
“Tui đã đọc và biết được 2 linh mục phục vụ cư dân Quảng Trị qua những năm chiến tranh:
1/ Cha Hoan - Cha Xứ quản hạt Đông Hà, Hiệu trưởng trường TH Đắc Lộ Đông Hà, có chương trình cấp học bổng cho sinh viên ( Công giáo ) cũng hay lắm. Tài trợ HB cho SV, sau khi ra trường phục vụ tại quê hương 1-2 năm.
Thỉnh thoảng đi cứu trợ Cùa, Cam Lộ đều ghé thăm Cha, mùa mưa ghé thăm Cha anh em uống rượu Lễ cho ấm bụng… Cha hiếu khách lắm.
2: Tui gặp Cha Etcharren vài lần về họp ở Sài Gòn của Chương trình Khẩn hoang Lập ấp của Phó Thủ tướng Phan Quang Đán. Tui là dân Q Trị ,Hội Hồng Thập Tự được mời họp, thì tui đại diện HTT miền Trung đi họp. Tui tìm làm quen để nghe ngóng nhu cầu mà báo cáo TƯ xin cứu trợ. Việc thực hiện thì có HTT địa phương lo. Tui còn nhớ cha Đỗ Bá Ái làm tốt việc xã hội…
9- Ấn tượng lần gặp Cha Etcharren của TS. Trần Kiêm Đoàn, cựu Gs trường TH Nguyễn Hoàng, định cư tại HK:
“Cám ơn Anh Chị Em Quảng Trị đã chuyển tiếp cho đọc một thiên bút ký rất cảm động về Cha Etcharren.
Năm 1972 trên đường tản cư vào Đà Nẵng và dạy trường Nguyễn Hoàng tại Hoà Khánh, tôi đã có được một lần diện kiến Cha Etcharren. Giọng Quảng Trị của cha thật lưu loát và ấm áp như người bản xứ. Tôi không tìm thấy ở Cha phong thái một linh mục chăn chiên mà là một mẫu người nhân văn và từ ái đáng quý.
Là một Phật tử thuần thành, tôi xin được cầu nguyện cho linh hồn Cha được an nghỉ và hưởng phúc đời đời bên Hồng ân Thiên Chúa. TKĐ”
10- Học trò Đào Văn Nhẫn, cựu GS trường TH Nguyễn Hoàng QT, kể câu chuyện gặp lại thầy Etcharren sau 30 năm tại Pháp. Chuyện giữa 2 người nhưng thấm đẫm tình cảm và đầy tính nhân văn về một người nước ngoài trót phải lòng quê hương Quảng Trị thể hiện qua tiếng nói của ông! Xin mời xem một phần của bài viết:
“…May mắn thay, ngay tại cổng tôi được biết hiện có Cha J.B Etcharren, một Cha từng dạy tôi Sử hồi còn Trung Học, đang có mặt tại đó với chức Tổng đại diện Hội Thừa Sai Paris.
Khi từ cổng vào để đến phòng Cha, vừa hồi hộp, vừa xúc động nên tôi cũng không biết mình sẽ làm gì, nói gì trong những giây phút đầu tiên sau khoảng 30 năm Thầy trò mới gặp lại , mà ở một nơi xa cách nơi thầy trò biết nhau trước đây nửa vòng trái đất!
Đúng là một cuộc gặp gỡ đầy bất ngờ và xúc động !Cha đã vui vẻ và ân cần tiếp tôi trong căn phòng làm việc rộng lớn và đầy cả sách vở.Thú thật tôi và Cha chỉ quen biết và gần nhau hồi tôi học với Cha và gặp gỡ Cha hàng ngày khi tôi là học sinh nội trú trường Thiên Hữu vào cuối thập niên 50, sau đó Cha đảm nhiệm công việc khác phải rời trường nên tôi và Cha cũng ít khi có cơ hội gặp nhau trực tiếp và cứ sợ Cha sẽ không nhận ra mình !
Như khi tiếp xúc với các người nước ngoài có biết ít hay nhiều tiếng Việt, tôi có thói quen dùng trước tiên tiếng nước họ như là một thái độ bày tỏ sự thân thiện,vừa là để có dịp rèn luyện thêm tiếng nước ngoài, và nhất là vấn đề tế nhị không làm lúng túng người không rành và không quen nói tiếng Việt .i
Song với Cha Etcharren thì khác, lúc bước vào cửa phòng tôi đã theo thói quen chào bằng tiếng Pháp và tự giới thiệu. Cha đã vui mừng khoát tay và nói bằng tiếng Việt , với chất giọng đặc trưng Quảng Trị ,rõ ràng và dứt khoát –“Khỏi cần, tôi nhớ anh mà” ! và thế là bao kỷ niệm lại ùa về giữa hai chúng tôi. Cha đã thăm hỏi tình hình hai trường Thiên Hữu và Tiểu chủng viện Hoan Thiện tại Huê, nơi cha đã từng ở và giảng dạy cùng những người mà Cha đã từng quen biết .Thỉnh thoảng vì phản xạ đôi lúc tôi dùng tiếng Pháp thì Cha lại đối đáp bằng tiếng Việt,kéo tôi trở lại với tiếng Việt, hoặc đôi lúc thấy Cha có vẻ tần ngần dừng lại câu đang nói , tôi định xen vào giúp Cha thì Cha lại tiếp tục nói ngay bằng tiếng Việt và tôi đã hiểu : Cha bị xúc động nên không thể nói hết câu chứ tiếng Việt của Cha thật sự quá dồi dào và phong phú ! cách dùng từ, tiếng lóng địa phương,các địa danh , tên người liên quan mà cha quen biết đã được Cha dùng một cách nhuần nhuyễn trong suốt câu chuyện. Điều Cha quan tâm nhất là đời sống và tình hình dân chúng nói chung tại Việt nam và các người dân Quảng Trị mà có một thời gian dài Cha đã sống cùng họ .
Ngạc nhiên thay ! Gần 20 năm xa Việt Nam tiếng Việt của Cha và giọng nói Quảng Trị của Cha vẫn không thay đổi, vẫn là chất giọng ấm áp,truyền cảm, vẫn là giọng Quảng Trị dể nhận biết làm cho tôi có cảm tưởng như đang tiếp chuyện với Cha ngay tại Việt Nam,tại Quảng Trị, tại vùng nghèo khổ , nhiều tai ương của những năm về trước.
Vì học chương trình Pháp và ở nội trú trong trường công giáo nên tôi có điều kiện quen biết nhiều Cha nước ngoài , thật sự có hai Cha làm tôi cảm phục về khả năng nói tiếng Việt : Cha Etcharren nói tiếng Việt giọng Quảng Trị và Cha Champou (dòng Tên ) một thời là Giám Đốc Trung Tâm Sinh Viên Xavier Huế thì nói tiếng Việt với giọng Bắc hoàn toàn.Cả hai Cha đều nói đúng giọng địa phương mà có thể khi quay lưng lại ta có có cảm tưởng như hai người Việt Nam, một người gốc Quảng Trị và một người gốc Bắc đang nói chuyện với nhau !Chỉ có những người thương dân Việt Nam với một tình cảm đặc biệt nào đó, thông cảm , chia sẻ và giúp đỡ tân tình người Việt nam như thế nào đó mới có nghị lực và quyết tâm học giỏi tiếng Việt !Bởi lẽ,bên cạnh đó, cũng có nhiều Cha ở Việt Nam lâu hơn Cha Etcharren và cha Champou nhiều nhưng tôi chưa bao giờ nghe các Cha đó nói một câu hoặc một chữ tiếng Việt nào. Đáng tiếc thay !
Cuộc nói chuyện suốt cả buổi sáng với Cha tại MEP, ngay tại thủ đô Paris nước Pháp đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng về một con người suốt cả cuộc đời quên mình gắn bó với đất nước Việt nam để khi phải rời Việt Nam hành trang mang theo là những kỷ niệm , những tình cảm và đặc biệt nhất là tiếng Việt với giọng nói Quảng Trị mà Cha đã không bao giờ quên ! Nhà Văn Pháp Alphonse Daudet cũng như nhà sử học Việt nam Vương Hồng Sển đã từng ví von sức mạnh của tiếng nói : “Tiếng nói là chìa khóa mở được bất kỳ cánh cửa nào”.Cánh cửa khó khăn để mở nhất là Cha đã trở về và chết trên quê hương Việt Nam theo ước nguyện !
DVN, SG ngày 1 tháng 10 năm 2021
 

/














.






Thứ Hai, 27 tháng 12, 2021

ĐÔI NÉT VỀ TRƯỜNG TRUNG HỌC TRIỆU PHONG (1960 - 1975). Nguyễn Văn Quang.

ĐÔI NÉT
VỀ TRƯỜNG TRUNG HỌC TRIỆU PHONG, 
TỈNH QUẢNG TRỊ (1960 - 1975).
Nguyễn Văn Quang .
 
( Bài viết & hình ảnh tư liệu trích từ Đặc san " KÝ ỨC TRƯỜNG XƯA I " NXB Thuận hóa năm 2010 ; từ trang 11-20,. Xin hân hạnh được chia sẻ lên trang để quý Thầy cô cùng ACE Đồng môn cùng quý thân hữu đọc và biết thêm về một ngôi trường THTP , khởi đầu là một phân hiệu của trường Trung học Nguyễn Hoàng Q. Trị).
 

I/- HOÀN CẢNH RA ĐỜI
Từ năm 1951 tại tỉnh lỵ Quảng trị có một trường Trung học tư thục duy nhất cho học sinh con nhà khá giả toàn tỉnh đến học. Đến năm 1952 được công lập hoá và đổi tên thành Trường Trung Học Quảng Trị, rồi đến năm 1954 thì lại đổi tên thành Trường Trung học Nguyễn Hoàng và tồn tại cho đến tháng 3/1975 .
Từ năm 1951, trong vùng kháng chiến của huyện Triệu Phong cũng đã hình thành một trường Trung học có tên là Trường Cấp Hai Triệu Phong, học theo hệ 10 năm. Trường hoạt động được 2 năm, địa điểm học lưu động theo tình hình chiến sự, đến đầu Xuân năm 1953 trường giải tán và lên Cùa, nhập với Trường Lê Thế Hiếu, hoạt động cho đến ngày đất nước bị chia cắt.
Hiệp định đình chiến Genève tạm chia Việt Nam thành 2 miền, tỉnh Quảng Trị ta cũng bị cắt làm hai! Dòng Hiền Lương chỉ có một, nhưng đôi bờ Hiền Lương lại theo hai miềnBắc v Nam. Trong tình hình thực tế của đất nước, con em ở vùng nông thôn phải chịu thất học rất lâu, khi mà các trường vùng kháng chiến đã giải tán và chính quyền miền Nam chưa mở trường Trung học ở các quận (huyện). Mãi đến năm 1960, bộ Giáo dục của miền Nam thời bấy giờ mới cho mở 01 lớp Đệ Thất (tức lớp 6 bây giờ) tại các quận Triệu Phong, Gio Linh, Cam Lộ, Hải Lăng và thị xã Đông Hà. Các lớp này đều đặt dưới quyền quản lý của ông Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị.
Trường Trung Học Triệu Phong được khai sinh từ đó.
II/- SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Lớp đầu tiên (năm học 1960 -1961) phải qua một cuộc thi tuyển rất gay go. Học sinh nộp đơn dự thi là 492, nhưng chỉ lấy 50 người. Số thí sinh thi vào có độ tuổi chênh lệch nhau rất lớn. Có người đã 19, 20 tuổi phải làm khai sinh lại để được đi học! Thí sinh từ các địa phương trong huyện, một số xã của huyện Hải Lăng và Thị Xã Quảng Trị cũng về dự thi.
Lớp học đầu tiên đặt tại nhà thờ Họ Đỗ thôn Bích Khê, Triệu Long. Thầy giáo đầu tiên là Thầy Lê Công Trình, người quê ở Ninh Hoà, Khánh Hoà. Một mình thầy dạy tất cả các môn, ngoại ngữ của lớp là Pháp văn. Thầy lm cơng tc chủ nhiệm.
Qua năm học 1961-1962 trường được mở thêm 2 lớp đệ Thất, một lớp học ngoại ngữ Pháp, một lớp học Anh văn. Đầu năm học này có thầy Lê Công Trình, thầy Trịnh Ngọc Phòng (dạy Pháp văn), thầy Tơn Thất Ph dạy Nhạc, Tốn …Năm này, thầy Lê Công Trình quản lư trường trong khi chờ đợi bổ nhiệm Hiệu trưởng. Có thêm hai lớp nên phải mượn đình làng Cổ Thành và đình Hậu Kiên (xã Triệu Thành) cho có đủ chỗ học, chờ khi trường xây dựng xong trong khi chờ đợi trường đang xây dựng. Qua học kỳ 2, các lớp được chuyển về học trường mới đặt tại xóm Bèng, thôn Nại Cửu, Triệu Đông. Trường gồm có 05 phòng, 4 phòng dùng làm phòng học, 1 phòng ngăn hai cho Ban Giám hiệu và nhân viên văn phòng làm việc. Trường quay mặt ra tỉnh lộ 4. (Về sau, cùng với sự tăng lớp, trường xây thêm hai dãy nhà mỗi dãy gồm 4 phòng phía bên trái của dãy nhà chính, quay mặt ra sân). Cuối năm học này (1961-62) và đầu năm học sau, trường có thêm các thầy Đỗ Thanh Quang (dạy Toán), Thầy Nguyễn Quang Kế (Pháp văn),Thầy Hồ Văn Kham (Toán, Quôěc văn), cô Phan thị ngọc Tỉnh (Hoá), cô Phạm Thị Như Hoàn (Lý, Địa), cô Bùi Thị Gái (Toán, Sử), thầy Trương Quý Nghi (Vạn Vật), thầy Tôn Thất Văn (Vẽ), thầy Nguyễn Thiện Lữ (Vạn vật) ... Cuối năm 1962 thầy Lê Công Trình thuyên chuyển vào quê. Thầy ra đi, để lại nhiều tình thương mến trong lòng những học sinh hai khoá đầu tiên.
Năm học 1962-63 trường phát triển thêm 2 lớp Đệ Thất, như vậy có cả thảy 5 lớp: Hai Thất, hai Lục, một Ngũ. Và từ tháng 10 năm 1963 trường đã được tách khỏi sự quản lý của Hiệu trưởng trường Trung học Nguyễn Hoàng. Thầy Đỗ Thanh Quang được cử làm Hiệu trưởng. Cuối năm học 1962-63, thầy Quang được thuyn chuyển đi trường khác, tạm thời bàn giao việc quản lư cho thầy Kham. Năm học 1963-64, tuyển thêm 2 lớp Đệ Thất; vậy là trường có tất cả 7 lớp. Thầy Phan Thanh Thiên được cử về làm Hiệu trưởng. Cô Phạm Thị Diệu Thanh (vợ thầy Hiệu trưởng) về dạy Vạn vật, thầy Trần Sĩ Tiêu dạy Quốc văn, thầy Tôn Thất Quỳnh Nam dạy Sử Địa. Thầy Phan Thanh Thiên làm Hiệu trưởng 6 năm học (từ NK-1963-64 đến NK-1968-1969). Cuối năm học này, thầy được thuyên chuyển vào Huế. Khoảng thời gian này việc học tập, sinh hoạt cũng như sự phát triển của trường rất ổn định và tốt đẹp. Tiếp đến có các thầy Đào Xuân Hịa (Quốc văn), Hoàng Ngân Hà (Anh văn), Tôn Thất Anh Thơng (CDGD), Thầy Văn Phong về trường năm học 1965-1966 và dạy các môn Anh, Pháp, Toán …
Từ năm học 1966- 67 đến năm học 1971-72, cùng với việc tăng thêm lớp, trường cũng phải tiếp nhận thêm thầy, cô: Cô Nguyễn Thị Quy (Q. văn), Cô Thi (Anh văn), Cô Nguyễn Thị Hường-ở Huế (Vạn vật), Thầy Nguyễn Văn Quang (Quốc văn, Anh văn), Thầy Trương Công Hổ (Toán), Cô Trịnh Thị Loan (Quốc văn), Thầy Hồ Trị (Toán), Thầy Đăňng LýŢ (Toaěn, Nhaňc), Thầy Hồ Đáp (Anh văn), Thầy Lê Mậu Duy (Toán), Thầy Thái Tăng Hạnh (Sử Địa), Thầy Trần Văn Kỳ (Quốc văn), Thầy Nguyễn Đình Hạnh (Anh văn), Thầy Đoàn Đức (Anh văn), Thầy Nguyễn Văn Hảo (Sử Địa), Thầy Bùi Ngọc Bửu (Anh văn), cô Hường -ở miền Nam (Sử), Thầy Nguyễn Văn Hoá (Q.Văn), Thầy Trần văn Bảo (Q,văn), Thầy Lê Chí Phóng (Anh văn), cô Nguyễn Thị Thanh Sử (Quốc văn) và cô Nguyễn Thị Sang (Sử Địa).
Thời Thầy Phan Thanh Thiên làm Hiệu trưởng, Thầy Nguyễn Quang Kế được cử làm Tổng Giám thị.
Năm học 1969-70, thầy Văn Phong được cử làm Hiệu trưởng thay thầy Phan Thanh Thiên. Thầy Nguyễn Quang Kế chuyển lên dạy Nguyễn Hoàng, và thầy Hồ Trị được cử làm Tổng Giám Thị thay thầy Kế.
- Năm học 1971-72, trường đã có đến 22 lớp: (7 lớp Sáu, 6 lớp Bảy, 5 lớp Tám và 4 lớp Chín); cũng trong năm học này trường được bộ cho chuyển thành trường Trung học Đệ nhị cấp, và cho đầu tư xây thêm một dãy nhà tầng gồm 10 phòng, địa điểm nằm ngay sau dãy nhà chính. Dãy nhà tầng này mới xây xong phần móng thì chiến sự 1972 xảy ra.
Chiến cuộc 1972 xảy ra tại Quảng Trị quá khốc liệt nên Trường cũng nghĩ học nửa chừng, Thầy trò theo nhau di tản người ra Bắc kẻ vào Nam... Cơ sở trường bị bom đạn tàn phá đổ nát. Sau đó, số học sinh sơ tán ra Bắc thì tiếp tục học ở vùng Giải phóng; số học sinh sơ tán vào Nam thì học các trường tại các trại tạm cư tại Đà Nẵng hoặc các trường của các tỉnh khác...
Năm 1975, sau ngày thống nhất đất nước, một ngôi trường tạm gồm 02 phòng học (làm bằng tranh, tre, nứa, lá) được dựng lên ngay trên nền cũ của trường, đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương mới hồi cư. Trường này có tên là trường Cấp 3 Triệu Phong. Qua năm 1976, trường Cấp 3 Triệu Phong chuyển lên cơ sở mới tại Thị xã Quảng Trị. Dân thôn Nại cửu đã đến khai hoang và làm nhà ở trên nền đất cũ của trường. Hiện nay không còn vết tích gì về ngôi trường Trung học Triệu phong cũ.
Trường Trung Học Triệu Phong được mượn một khu nhà vòm tại trại tạm cư Hoà Khánh để mở trường dạy cho con em Quảng Trị tạm cư tại địa điểm này và học sinh tạm cư cùng gia đình ở vùng Non Nước thì ghi danh học tiếp tại trường Nguyễn Hoàng.
Trường lúc này số học sinh tăng lên khoảng trên 40 lớp vì cĩ thm lớp 10,11 đệ nhị cấp. Trong vùng tạm cư học sinh tự đóng lấy bàn và ghế mang theo để ngồi học. Các phòng học chỉ được che chấn bằng cót tre hoặc ván ép rất sơ sài. Tuy nhiên học sinh rất chăm chỉ, chịu khó và ngoan ngoãn. Hết năm học 1972-73 thì thầy Văn Phong chuyển lên Ty Gio dục Trung – Tiểu học Quảng Trị. Thầy Hoàng Đằng về thay. Thầy Đằng làm Hiệu trưởng từ tháng 8 / 1973, và đến tháng 3 / 1974 thì đi vùng Kinh tế mới ở Bình Tuy, bàn giao chức vụ Hiệu trưởng lại cho thầy Nguyễn Văn Quang (nguyên là học sinh khoá đầu tiên của trường).
Sau hiệp định đình chiến 01/1973, đến tháng 10/1973 dân Quảng trị lần lượt trở về quê hương; Trường cũng được chuyển về học tại thôn Ngô Xá Đông thuộc xã Triệu Trung. Học sinh Triệu Phong hầu hết là con nhà nông nghèo, vốn cần cu, hiếu học nên dù khó khăn, nguy hiểm đến mấy họ cũng theo học đến cùng. Do vậy, số học sinh trở về quê đều đến tiếp tục ghi danh vào học. Lúc này trường lại phải đảm nhiệm thêm một cơ sở phụ ở quận Mai Lĩnh (Quận tách ra từ quận Hải Lăng). Lúc này trường vẫn duy trì đến lớp 11. Số lớp ở Triệu Phong là 10 lớp (4 lớp 6, 2 lớp 7, 1 lớp 8, 1 lớp 9, 1 lớp 10 và 1 lớp 11), với số học sinh là 436 em. Ở khu vực Mai Lĩnh có 5 lớp (2 lớp 6, 1 lớp 7, 1 lớp 8, 1 lớp 9) với số học sinh là 183 em.
Cộng cả hai cơ sở, năm học 1974-75 trường có 15 lớp với tổng số học sinh là 619 em. Tổng số thầy cô giáo là 21 ( 16 thầy, cô dạy ở khu vực Triệu Phong và 5 thầy, cô dạy ở khu vực Mai Lĩnh)
* Các thầy cô dạy ở Triệu Phong:
1- Nguyễn Đình Hạnh;
2-Võ Bùi;
3-Nguyễn Thanh Lành
4- Lê Hữu Nghị;
5-Nguyễn Ngọc Thông;
6- Thái Tao
7- Nguyễn Văn Trâm;
8-Đoàn Thy Bằng;
9- Dương Phúc Lô.
10- Nguyễn Ngọc Phụ;
11- Nguyễn Đức Mẫn;
12- Trần Văn Thuận;
13- Lê Văn Rơi;
14-Trần Thị Thanh Yên;
15- Nguyễn Thị Phước;
16- Hồ Thị An.
* Các thầy cô giáo dạy ở khu vực Mai Lĩnh:
1- Đỗ Bang;
2- Nguyễn Thị Thanh Sử
3- Nguyễn Thị Nhạn;
4- Lê Thị Liễu;
5- Hoàng Thị Lý
Năm 1973, một số thầy, cô của trường dạy tại Hoà Khánh, (Quảng Nam) đi kinh tế mới ở Bình Tuy, như các thầy : Hoàng Đằng, Hồ Trị, Đoàn Đức, Nguyễn Hữu Dũng ... và một số xin chuyển đi trường khác, không về theo trường như : Các thầy Hoàng Cao Anh Chí, Hoàng Mãi, Nguyễn Văn Hoá, Lê Văn Tường, Nguyễn Văn Bữu, cô Diệp Thị Mỹ Ái...
Vào đầu tháng 2 năm 1975, thầy Nguyễn Văn Quang được chuyển về dạy ở trường Trung học Nguyễn Hoàng và thầy Lê Ngọc Dinh về thay thầy Quang làm Hiệu trưởng. Đến tháng 3/1975 trường Trung học Triệu Phong chấm dứt việc dạy v học từ đó. Và sau tháng 3/1975, hầu hết thầy cô trường Triệu Phong cũ đều được tiếp tục giảng dạy cho đến lúc về hưu. Học sinh tiếp tục ghi danh vào học tại các trường trong tỉnh, tùy theo điều kiện và sức học tập của mình.
* Nhân viên Văn phòng:
Năm học 1961-62 Thầy Hồ Bính làm Kế toán kiêm công việc văn phòng. Thầy ở với trường suốt từ đầu đến ngày trường đóng cửa ( năm 1975). Chúng tôi xem Thầy như một người cha già của 15 thế hệ học sinh.
Đến năm 1969, thầy Hoàng Văn Hoà về làm nhân viên học vụ, văn phòng (kiêm giảng dạy). Năm 1970, có thêm thầy Nguyễn Thái Kham về làm nhân viên học vụ, văn phòng; anh Cp Hĩa lm ty phi.
Năm học 1973-74, thầy Nguyễn Đức Ngưỡng về làm Giám thị ở khu vực Triệu Phong, Cô Văn Thị Yến làm nhân viên văn phòng ở cơ sở Mai Lĩnh của trường.
*Nhân viên tạp vụ:
Đầu tiên là Bác Hồ Văn Thơm. Cũng như thầy Hồ Bính, bác Thơm ở với trường từ đầu đến cuối, là người rất dễ thương, tận tuỵ với công việc. Bc xem học sinh như con cháu mình. Năm học 73-74 có thêm 02 nhân viên tạp vụ là Nguyễn Như Việt và Văn Lành.
III/- DƯ ÂM VÀ HOÀI NIỆM
Trường Trung học Triệu Phong có tên từ 1960 đến 3/1975 (15 năm). Từ lc mới thnh lập, trường chỉ có 01 lớp, 01 thầy và 50 học sinh. Qua từng năm học, số lớp tăng dần, cho đến năm học 1971-1972, trường có 22 lớp với trn 1.000 học sinh v 42 gio vin. Năm học 1974-1975, lúc hồi cư, trường có 15 lớp với 619 học sinh và 21 giáo viên,
Qua 15 năm thăng trầm, với rất nhiều lần thay đổi do hoàn cảnh chiến tranh, trường luôn nổ lực hoạt động để đem lại hiệu quả học tập tốt nhất cho học sinh. Phụ huynh và nhân dân địa phương rất tin tưởng và nể trọng uy tín của trường. Số học sinh của Trung học Triệu Phong khi tiếp tục lên học trường Trung học Nguyễn Hoàng đều phát huy được truyền thống học tập của trường cũ nên rất được thầy cô giáo trường Nguyễn Hoàng khen ngợi. Trong 15 năm đó trường đã đào tạo ra nhiều thế hệ học sinh có nền taŇng đaňo đýěc, hoňc vâěn tôět đęŇ xây dýňng x hội trong tương lai.
Một số học sinh được học tập từ Trung học Triệu Phong đã thoát ly theo Cách mạng và hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ; một số khác thì bị động viên, đi lính cho chế độ miền Nam và nhiều anh em cũng đã vĩnh biệt chúng ta giữa tuổi thanh xuân!
May mắn là chúng ta, những người còn sống sót cho đến bây giờ! Bước chân vào đời, mỗi người một hoàn cảnh, một số phận và có những cơng việc lm khc nhau ty theo sự phn cơng của x hội. Nhưng thầy – trị Trung học Triệu Phong chng ta rất vui mừng v tự ho về cc CHS vẫn khơng ngừng phâěn đâěu học tập v ngày nay đang đem hết sức tài đóng góp xây dựng quê hương trong nhiều lĩnh vực. Nhiều người đ đaňt đęěn nhýŢng điňa viň cao quyě trong x hội, như: Đại biểu Quốc hội, Nhà giáo nhan dân, Tiến sĩ, Bác sĩ, Kỹ sư, Giám đốc, sỹ quan cấp cao trong quân đội, nhà doanh nghiệp thành đạt; nhiều anh chị em cũng đang tham gia công tác chính quyền cấp tỉnh, huyện, cho đến xã thôn… Một số anh chị em ra sinh sống ở nước ngoài cũng đ đem hết kiến thức, tài năng của mình để xây dựng gia đình hạnh phúc, giáo dục con cháu học hành và làm ăn rất thành công!
Kể từ khi trường thành lập đến nay đã tròn 50 năm, và qua bao biến cố lịch sử của đất nước, các cựu học sinh Triệu phong đi làm ăn, sinh sống khắp nơi; nhưng tình cảm thầy trò, tình cảm bạn bè, tình cảm dành cho mái trường Triệu Phong thân yêu ngày xưa, không bao giờ phai nhạt trong lòng mỗi người. Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Tôn sư trọng đạo” luôn được anh chị em trân trọng, giữ gìn. Một chữ là Thầy, nửa chữ cũng là Thầy. Cựu học sinh Trung học Triệu Phong luôn luôn ghi lòng tạc dạ, và mong được có dịp bày tỏ nghĩa tình sâu nặng đó. Khi chưa có điều kiện tổ chức họp mặt cựu học sinh toàn trường qua nhiều thế hệ, một số lớp đã có những buổi họp mặt lớp hàng năm.
Tại quê nhà, có 1 lớp đáng trân trọng và đáng phục nhất, ấy là lớp của anh Hoàng văn Thông, (tức Hoàng Phóng, lớp 6/2 – 9/2, khoá 1968-1972). Lớp này đã tổ chức họp mặt đều đặn hàng năm kể từ năm 1996, đến năm 2010 này đã là lần họp lớp thứ 15. Tiếp đến l lớp của anh Trần Ứng (6/2-K 67-71), lớp anh Lê Dũng, lớp anh Đỗ Khắc Tào, …cũng trên dưới 10 lần họp lớp vào đầu Xuân hoặc giữa Hè hàng năm. Lần nào họ cũng quan tâm mời các thầy, cô giáo cũ cùng sum họp, chung vui, và để họ bày tỏ lòng biết ơn. Họ có nội dung chương trình rất tốt: Ôn kỷ niệm về trường xưa, bạn cũ, thăm hỏi khi ốm đau, khi có việc hiếu hỷ, trợ giúp bạn bè có hoàn cảnh khó khăn, khuyến khích con cháu của cựu học sinh học tập, rèn luyện tốt. Lớp của anh Thông cũng đã thực hiện một tập kỷ yếu rất công phu và trang trọng về lớp Sáu 2 - Chín 2 của họ trong năm 2009.
Tại thành phố Hồ Chí Minh có một nhóm cựu học sinh Triệu Phong (nhiệt tình nhất là các anh Lê Bá Tâm, Ngô Hướng, Lê Anh Duy, Ngô Ho, L Bá Lư, V Kham, Lê Văn Chương) cũng làm một việc rất tình nghĩa là: Hàng năm, đến ngày Nhà Giáo Việt nam - 20/11 thì anh em rủ nhau cùng đến chúc sức khoẻ, tặng hoa Thầy- Cô Hiệu trưởng Phan Thanh Thiên, là hai thầy- cô của trường xưa đang an dưỡng tuổi già tại TP. Hồ Chí Minh.
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình! Cái gì cũng qua, cái gì cũng mất, chỉ có kỷ niệm là còn! Và có lẽ kỷ niệm thời học trò là hồn nhiên, trong sáng, và nên thơ nhất! Ngôi trường xưa đã tan tành theo bom đạn chiến tranh, nhưng hình ảnh thân thương của Trường, những tình cảm sâu nặng hướng về thầy xưa, bạn cũ thì không bao giờ phai mờ trong tâm trí của mỗi anh chị em cựu học sinh trường Trung học Triệu Phong xưa!
Nguyện vọng của anh em cựu học sinh chúng ta là xin chính quyền cho phép tổ chức một buổi họp mặt thân mật để thầy trò có dịp đoàn tụ, ôn lại tình cảm thầy xưa, bạn cũ; đồng thời thực hiện một tờ đặc san để kỷ niệm và lưu lại cho con cháu, giúp họ hiểu biết và tiếp nối truyền thống học tập, rèn luyện rất tốt đẹp của cha ông mình.
Do hoàn cảnh chiến tranh, hồ sơ về trường không còn, nên bài viết trên đây phần lớn là dựa vào ký ức và một ít ghi chép cá nhân của tôi, có tham khảo ý kiến một số Thầy , Cô và anh em cựu học sinh. Chắc chắn còn rất nhiều thiếu sót và nhầm lẫn. Rất mong được thông cảm, và xin quý Thầy, Cô cùng các bạn đóng góp thêm để bổ sung, điều chỉnh nhằm có được một bài viết về trường xưa hoàn chỉnh, chính xác hơn!
Chân thành cảm ơn.
Thị x Quảng Trị, Xuân Canh Dần - 2010.
Nguyễn Văn Quang
(CHS & CGV của Trường)
* ảnh tư liệu từ quý thầy cô &ACÉCH gửi về BBS. KUTX .