Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

VN và hình ảnh cổ xưa (bằng đường link sẵn có)

Việt-Nam những hình ảnh xưa
Hãy nhắp chuột vào những đường link dưới đây để xem về hình ảnh của VN xưa cổ (click chuột trực tiếp vào từng đường link để mở và xem chi tiết )

 Triều Ðình xưa (35 hình) 
 Từ dân lên quan (21 hình)  
 Dân tộc thiểu số (68 hình) 
 Cộng đồng người Hoa (31 hình)  
 Nghề phát thư (11 hình) 
 Hút thuốc phiện (5 hình) 
 Xe kéo ( 23 hình)  
 Những cuộc kháng chiến chống Pháp (47 hình)  
   (Xin lưu ý ! trong phần trên có vài tấm hình có thể làm cho các bạn trẻ bị chấn động)
 
 Lính Ðông Dương (75 hình)  
 Luật xưa (10 hình) 
 Nghề nghiệp (27 hình) 
 Giáo dục (12 hình) 
 Nghệ sĩ  (8 hình) 
 Ðạo Thiên Chúa (12 hình) 
  Những tấm hình xưa của ông Jean HAEFFLINGER (7 hình) 
Trong suốt cuộc hành trình lập quốc, nước Việt-Nam đã biết nhiều chiến tranh hơn là hoà bình. Chính vì đó mà phần đông những di tích lịch sử không còn tồn tại đến thời nay.
 
Nếu ai có dịp để ý thì sẽ thấy rằng hầu như tất cả sách lịch sử Việt-Nam đều rất “ngán”, sách nào cũng chỉ tả lại những dữ kiện xưa một cách buồn bã với những ngày tháng và những tên họ hay chức tước dài lòng thòng, khó nhớ như một quyển tự điển, ít sách nào chịu khó sưu tầm để thêm nhiều hình ảnh vào cho nó sống động như một câu chuyện hình dễ nhớ. Một trong những điểm khôi hài là một phần lịch sử của Việt-Nam đã được lưu lại trên các tấm bưu thiệp ở Pháp mà không một quyển sách lịch sử Việt-Nam nào nói đến. 
Những tấm hình nầy phần lớn đã thuộc về lịch sử, không còn bản quyền (trừ những hình của ông Pierre DIEULEFILS mà bản quyền còn đến năm 2007), phần đông các tấm hình nầy đã được chụp từ cuối thế kỷ thứ 19 hay đầu thế kỷ thứ 20, vào thời này vấn đề bản quyền chưa được coi trọng, (theo luật pháp hiện nay thì bản quyền hết hạn 50 năm sau khi tác giả mất). Những tấm hình nầy được lưu trữ tại nhiều nơi ở Pháp: trong mổi cục bộ của chánh quyền, Thư Viện Quốc Gia (trên site Internet), Sở Ðịa Dư Paris và nhất là ở trung tâm dữ liệu thuộc địa ở Aix-en-Provence. 
Ðã có nhiều người làm công việc sưu tầm các tấm hình này như các quyển sách: Archives De L’Indochine của Jacques Borgé và Nicolas Viasnoff (Nhà xuất bản Michèle Trinckvel), L’Indochine En Cartes Postales của Jean Noury (Nhà xuất bản Publi-Fusion), “L’Indochine à la belle époque” của Fancis Engelmann (Nhà xuất bản ASA), Những Hình Ảnh Xưa của Nguyễn Khắc Ngữ (Nghiên-Cứu Sử-Ðịa xuất bản), v.v… và gần đây trong một CD-ROM của Hội Chuyên Gia Việt-Nam. 
Một trong những nhà xuất bản nổi tiếng thời đó phải kể đến ông Pierre DIEULEFILS, trước đó là một người trong quân đội, nhưng sau khi giải ngũ đã ở lại Tonkin (Hà Nội) để hành nghề xuất bản bưu thiệp. Vào thời nầy, còn hơi hỗn tạp nên bây giờ có nhiều tấm bưu thiệp giống nhau nhưng lại được đóng dấu với nhiều nhà xuất bản khác nhau ! Xa hơn nữa, có nhiều người mạy danh của ông để in bưu thiệp, thí dụ như tất cả tấm bưu thiệp của vùng Yunnan (bên Tàu), đến nỗi ông phải lên tiếng đính chánh trong tờ báo “L’avenir du Tonkin” ngày 17-12-1909 rằng không phải ông là tác giả của những tấm bưu thiệp đó vì ông chưa bao giờ đặt chân đến vùng Yunnan ! 

Các bạn sẽ tìm thấy ở đây những hình ảnh được sắp đặt theo chủ đề. Hy vọng rằng sau khi thăm viếng site này, các bạn sẽ có thêm được nhiều hình tượng mới về Việt Nam
 
Nếu các bạn có những hình ảnh xưa của VN, xin cho tôi mượn scan lại, hay gởi cho tôi bằng email, để cho mọi người cùng xem, thật là uổng khi để mai một những tài liệu đã thuộc về lịch sử của nhân loại. Xin cám ơn bạn trước. 
Tôi xin thành thật cám ơn những bạn sau đây đã tham gia vào việc xây dựng cái site nầy bằng cách đóng góp hình ảnh của mình (theo thứ tự thời gian): 
-Nghệ sĩ PHAM Duy (Mỹ) 
-Ông BDH (Gia Nã Ðại) 
-Ông DOAN Vu (Mỹ) 
-Ông TRAN Quang Dong (Thụy Ðiển) 
-Ông Jérôme HOFFART (Pháp) 
-Ông NGO Van Duc Vincent (Pháp) 
-Ông PARI J-Christophe (Pháp) 
(Nếu hình các bạn gởi chưa thấy trên site có nghĩa là tôi chưa có thời giờ để sấp xếp, xin cáo lỗi cùng các bạn)  
Nguyễn Ðăng Chế 
 (Tel: 0241-865308)
38, làng Ðông Hồ – Song Hồ – Thuận Thành – Bắc Ninh – VIETNAM

Tải Blog 23.8.2010 

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

Tin buồn và Lời cảm tạ của ...

 
LỜI CẢM TẠ
Gia đình chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

- Chính quyền địa phương.

- Các cơ quan đòan thể

- Gia đình sui gia

- Bà con nội ngọai, họ hàng thân tộc cùng tất cả bạn bè, thân hữu và khối phố đã đến phúng viếng, thăm hỏi, điện, thư chia buồn và tiễn đưa linh cửu của chồng, cha, ông, cố của chúng tôi là:


Cụ Ông : DƯƠNG ĐÌNH SUNG

- Hưởng thọ thọ 85 tuổi đến nơi an nghĩ cuối cùng tại Nghĩa Trang Bà Rịa, Vũng Tàu vào ngày19/7/2011.

Trong lúc tang gia bối rối, có điều gì thiếu sót, kính mong quý vị niệm tình tha thứ.


TANG GIA ĐỒNG BÁI TẠ:
- Bà quả phụ :  Lê thị Thanh Tâm.
Cùng các con,  

- Dương Thị Tình - Nguyễn Quang Toan

- Dương Thị Bích Đào - Nguyễn Ngọc Thi.

- Dương Thị Bích Liên - Nguyễn Chiến.

- Dương Thị Hiệp - Phạm Văn Hồng

- Dương Đình Tấn - Nguyễn Thị Phượng.

- Dương Thị Bích Hòa  - Nguyển Văn Nam.

- Dương Thị Ngọc Hương.-Hồ Hỷ

- Dương Thị Thanh Minh.-.Nguyễn Đức Phương

- Dương Đình Công - Lê Huyền Trang
và cháu, chắt nội ngoại.
Và đây là bài thơ của cháu  viết về hình ảnh  Nội. Blog chuyển tải nội dung những vần thơ bé bỏng khi nội không còn bên cháu nữa...

Chợt !
Chợt nhận ra một cảm giác thân quen
Của cái thủa ấu thơ ngày xưa ấy
Cứ chiều chiều Nội lại ngồi mon men
Nhóm nhen từng ngọn hồng đang rực cháy
Bên bếp lửa Nội vẫn thường ngồi quạt
Tấm lưng trần vầng trán đẫm mồ hôi
Mặc Ông trời không cho cơn gió  mát
Nội ngồi đó lo từng giọt nước sôi
Phải chăng nhà không có bếp ga?
Nhưng nào hay điện, nước, ga đều đủ cả.
Chẳng qua Nội một con người dân dã,
Tính tiết kiệm từ mấy chục năm qua
Ấm nước sôi hồng Nội đun, Nội nấu.
Ấm đượm tình thương Cháu thương Con
Sợ cả nhà tắm lạnh bệnh lại rầu
Lo tháng này ga nhanh hết,  cực Con,
Chợt nhận ra 1 tình cảm tràn đầy
Mãnh liệt dâng trào khắp cả con tim
Con tự trách mình thủa ngây thơ ấy
Chẳng biết phụ Ông mà cứ đứng nhìn
Rồi giờ đây tuần nào chẳng có mặt
Đáng buồn thay lai vắng mặt Nội Tôi
Dằn trong tim nghẹn ngào Tôi nghiến chặt
Khói lửa mờ ảo đấy, Nội đâu rồi? .

Biên Hòa, ngày 28.8.2011.
Bé Na
TIN BUỒN

BAN LIÊN LẠC CHS TRƯỜNG TRUNG HỌC TRIỆU PHONG 1960-1975 BÁO TIN  


- Cụ ông :  DƯƠNG ĐÌNH SUNG.

- Quê quán : Làng Hữu Niên-Triệu Hòa- Triệu Phong- Quảng Trị.

- Hiện ở tại : Phường Quyết Thắng, Tp. Biên Hòa, Đồng Nai 
đã qua đời vào lúc 18 giờ 16 phút ngày 16/7/2011  tại Biên Hoà, Đồng Nai.
- Hưởng thọ:  85 tuổi.


- Lễ động quan sẽ vào lúc 7 giờ sáng ngày 19/7/2011 và sau đó đưa an táng tại nghĩa trang Bà Rịa Vũng Tàu.

Thân phụ  của các CHS:

- Dương Thị Tình - chồng  Nguyễn Quang Toan

- Dương Thị Bích Đào - chồng   Nguyễn Ngọc Thi

- Dương Thị Bích Liên - chồng  Nguyễn Chiến

- Dương Thị Hiệp


Xin thông báo tin buồn đến đồng môn THTP 6075, bạn bè thân hữu  của các CHS nói trên biết tin. Đồng   kính chia buồn đến gia đình và  nguyện cầu hương linh cụ ông sớm vãng sanh miền cực lạc.

TM BLL THTP 6075
Nguyễn Văn Quang

TIN BUỒN
Thưa các anh chị em đồng môn gần xa!
BLL NH tại SG vừa nhận tin buồn: 
Cụ bà Nguyễn Thị Lép, Pháp danh Quảng Ân, thân mẫu của anh Phan Bá Ân CHSNH (1958-1965), tạ thế lúc 8 giờ ngày 6 tháng 10 năm Kỷ Sửu nhằm ngày 22 tháng 11 năm 2009 tại số nhà 36 Đường 52 Cư Xá Lữ Gia, Phường 15, Quận 11, Tp. HCM, hưởng thọ 97 tuổi.
-Lễ nhập quan luc12 giờ 3o ngày 22.11.2009
-Lễ động quan lúc 11 giớ 24 tháng 11 năm 2009
-An táng tại nghĩa trang Đa Phước (Bình Chánh).
BLL NH tại Saigon xin thay mặt toàn thể anh chị em đồng môn NH gởi lời chia buồn cùng anh chị  Ân và gia quyến và cầu nguyện huơnglinh Cụ bà sớm vãng sanh nơi miền cực lạc.
Xin báo tin để các anh chị cùng khoá-lớp anh Ân biết để thăm viếng, gọi điện chia buồn hoặc đến tiễn đưa cụ bà về nơi an nghỉ suốt đời. 
Muốn biết chi tiết vui lòng liên lạc với anh chị Lê Ngọc Phái & Tuyết Mai.
Kính báo,
TM BLL NH tại SG
Nguyễn Văn Trị :

                                  TIN BUỒN

BLL Nguyễn Hoàng tại Saigon  xin báo tin đến quý thầy cô và quý anh chị em đồng môn
Cụ Bà Võ thị Binh,Thân mẫu của CHS/NH (1966-1972) Lê BÁ ĐIỂM đã quy tiên vào sáng ngày 11/11/2009 (nhằm ngày 25/9 Kỷ Sửu) tại thôn Bich La Thượng, Xã Triệu Long, Triệu Phong, hưởng thọ 90 tuổi.
Lễ nhập quan lúc: 7 giờ tối ngày 11/11/2009.
Lễ động quan lúc ? ngày 14/11/2009 (tức ngày 28/9 Kỷ Sửu) , cụ bà được an táng tại vườn nhà ở Bich La Thuợng. 

Xin chân thành chia buồn cùng anh Điểm và tang quyến. Kính chúc hương linh cụ Bà sớm về cõi Phật.
 NV TRị

P.S:
Điện thoại anh Lê Bá Điểm: 0903942054 .
Anh Điểm hiện sinh sống tại Quận Bình Thạnh, TP HCM và đã ra quê để thọ tang mẹ.
BLL NH tại SG va nhom hoc sinh lop 10C đã nhờ anh Le T Ngữ  va nhóm bạn 10C nk 1970-72 tại Đông Hà & Hải Lăng gồm Võ Văn Hoa, Lê thị Mân,Lương T Minh Tâm, Trần Đại Hành  thu xếp việc viếng và phúng điếu.
   
Than goi anh Doan,
Xin anh vui long post tin buon nay len Blog NH .
Cam on anh- NV Trị

1- Tin Buồn của 1 CHS NH DNai:

NH  Võ Thị Quỳnh ở Huế vừa báo  tin buồn cua GĐ 1 chs NH:

Thân phụ của anh Anh Hồ Kháng , quê Hải Thành, học NH 69-71, vừa qua đời ngày 10/11/2009.
Địa chỉ hiện nay :433 tổ 13 Thọ Bình, X Thọ, X Lộc, Đồng Nai.Dt: 0978181530 .

Thông tin chi tiết về ngày giờ động quan, an táng chắc BLL NH tại Dg Nai sẽ báo cho đồng môn được rõ.
Thay mặt ACE Nh tại SG, kính nhờ  BLL ĐN chuyển lời chia buồn sâu sắc đến với anh Kháng và GĐ trước sự mất mat lớn lao này  và cầu xin linh hồn  cụ ông sớm tiêu diêu về miền cực lạc

2- Tin Buồn của GĐ NH Tỷ Muội và LV Chương:
Cụ ông Nguyễn Kha thân phụ của NH Ng T Tỷ Muội, Nk 1965-72 qua đời tại Thủ Đức,SG, hưởng thọ 81 tuổi.  9 giờ sáng hôm nay 11/11 linh cữu sẽ được hoả táng tại chùa Bửu Long,Q.9, TP HCM. Hôm qua BLL các nhóm khôi lớp của anh Chuơng va chị Tỷ Muội đã đến thăp huơng và chia buồn cùng GĐ gồm có các anh trong nhom NH 64-71, các anh TV Hảo,Châu Dần, Lê Quang Ngân, Lê Ngọc An, Nguyễn Đ Mừng, các chị Quang Tuyêt, Mỹ Liên.

TIN BUỒN 2

BLL nhận được tin từ Thày Bảo : "Khan bao tin cho Tri va ACE cua BLL NH SG : Anh LE VAN CHÍNH phu quân Chi LE THI QUẢ o xa Tan Ha, Ham Tan, Tinh Binh thuan , cuu NH, da qua doi. Ngay thu ba 10.11,09 dong quan . Nho thong tin rong rai them trong NH . Anh Chinh va chi Qua la thanh vien tich cuc nong cot cua BLL NH tai Ham tan . Dien thoai nha Anh Chinh Chi Qua : 062.3876.928.  BAO".
Tin mới nhận: BLL NH tại SG duoc tin ngày mai 9/11, lúc 10 giờ  cac anh chi Trần thị An + Nguyễn Đình Hoà , A/C Phái+ Mai tại SG sẽ đi Hàm Tân  phúng viếng- Chị Quả là bạn học của chi An va Tuyết Mai. 

                                                    TIN BUỒN 3

Cụ bà Truơng thị Châu , thân mẫu anh Nguyễn Quánh, CHSNH niên khoá1958-65 và NH Honàg thị Lệ Khanh hiện cu ngu tai duong Nguyen Huu Canh ,Q.1,   da tu tran, huong thọ 93 tuổi và sẽ được an táng tại Đồng nai. 
 A Võ Cẩm , bạn cùng lớp với anh Quánh hôm nay đã di DN phúng viêng và chia buon cung GD anh Quánh.

BLLNH tại SG xin  báo cho Quý Thầy cô và đồng môn- Các anh chị bạn cùng lớp/khối đến thăm viếng gia dinh các anh chi NH nói trên  xin chuyển lời chia buồn sâu sắc của BLL NH tại SG và xin cầu nguyện huơng linh của người quá cồ sơm tiêu diêu miền cực lạc.


 

Như áng mây bay

NHƯ ÁNG MÂY BAY
Cuộc đời của Đại Lão Hòa Thượng
THÍCH ĐÔN HẬU

Đệ tử Tâm Đức phụng sọan
Thất chúng môn đồ ấn hành 2010 USA

QUYỂN HAI:
HÒA THƯỢNG ÐÔN HẬU (1905-1992)
VÀ PHONG TRÀO PHỤC HƯNG PHẬT GIÁO

Chương 3: Gia Thế Và Thời Thơ Ấu Của Hòa Thượng Ðôn Hậu

Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu pháp danh Trừng Nguyên, pháp tự Giác Thanh, hiệu Ðôn Hậu, thuộc đời thứ 8, thiền phái Liễu Quán, thế danh là Diệp Trương Thuần. Hòa thượng sinh ngày 13 tháng Giêng năm Ất Tý (16-2-1905) tại làng Xuân An, tổng An Ðôn, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Tỉnh Quảng Trị phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía đông là biển Ðông Hải, phía tây là dãy Trường Sơn và nước Lào, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên. Thị xã Quảng Trị cách Hà Nội 570 km, cách Huế khoảng 62km, cách Sài Gòn hơn 1000km. Theo thống kê và phân bố hành chánh, tỉnh Quảng Trị hiện nay gồm 2 thị xã Ðông Hà và Quảng Trị, 7 huyện (quận), 67 thôn xã, diện tích 4,692 km vuông, dân số 557,121 người.

Thị xã Ðông Hà diện tích 76.26 km2, dân số 66,470 người.

Thị xã Quảng Trị diện tích 5.28 km2, dân số 15,487 người.

Huyện Vĩnh Linh diện tích 626.23 km2, dân số 90,142 người.

Huyện Gio Linh diện tích 481.67 km2, dân số 70,142 người.

Huyện Cam Lộ diện tích 351.99 km2, dân số 41,580 người.

Huyện Triệu Phong diện tích 350.90 km2, dân số 102,710 người.

Huyện Hải Lăng diện tích 498.72 km2, dân số 96,059 người.

Huyện Hương Hóa diện tích 1,179.97 km2, dân số 48,608 người.

Huyện Ða Krong diện tích 1,020.95 km2, dân số 15,917 người.

(Xem Lê Quang Tiềm: Quảng Trị Ðịa Lý đăng trong Kỷ Yếu Quảng Trị, 2000 tr. 94-97)

Huyện Hải Lăng, theo Phủ Biên Tạp Lục (1760) của Lê Quí Ðôn gồm có 5 Tổng: Hoa La, An Thư, An Dã, Câu Hoan, An Khương.

Tổng Hoa La gồm các xã Hồng Khê (nay là Bích Khê), Nãi Diễn, Tả Hữu, Hậu Lễ, Cổ Bưu, Phù Lưu, Dư Triều, Hậu Lễ, Long Hưng, Vệ Nghĩa, Xuân An, Vạn Long, Nà Nẫm.

Tổng An Thư gồm xã Mỹ Chánh, Hội Kỳ.

Tổng An Dã gồm các xã An Trung, Ðại Hòa, Quảng Ðiền, Vũ Thuận, An Lệ, Nhị Giáp, Duy Hòa, Giáo Liêm, Phụ Tài, Thanh Liêm, Quảng Lượng, Hiền Lương, Hàn Xá, Trúc Ðang.

Tổng Câu Hoan gồm các xã Trường Sinh, An Phúc, Hà Lộc, Lương Phúc, Miên Trạch, Ðỗ Phùng.

Tổng An Khương gồm các xã: An Khang, Ðại Nại, Trà Lộc, La Duy, Hương Vân, Anh Hoa, Tam Hữu, Duân Kinh, Thi Ông, Thượng Xá, Trâm Lý, Xuân Lâm, Mai Lộc, Phú Xuân, Mai Hoa, Mai Ðàn, Thượng Thôn.

Huyện Ðăng Xương (Triệu Phong) gồm có 5 Tổng: An Phúc, An Lưu, An Cư, An Ðôn, An Lạc.

Tổng An Phúc gồm các xã: An Phúc, Hòa Viên, Diên Phúc, Kim Giáo, Kim Lung, Ðan Quế, Hội Yên, Ðà Nghị, Ba Ðu, Phúc Kinh, Thượng An, Ðôn Ðiềm, Thâm Khê, Mỹ Thủy, Tân An.

Tổng An Lưu gồm các xã: An Lưu, Hương Liệu, Thượng Trạch, An Phủ, An Trụ, Ðồng Bào, Tài Lương, Thanh Lê, Mỹ Khê, Xuân Dương, Trung An, Phú Hải, Phú Toàn, Ba Lăng, Văn Phong, Gia Ðẳng, Thuận Ðầu, An Bôi, Tân An, Ngô Xá Ðông, Ngô Xá Tây.

Tổng An Cư gồm các xã: An Cư, Bồ Bản, Hà Bá, Linh An, Ðang Long, Lai Phú, Lễ Truyền, An Trạch, Nho Lý, Lưỡng Toàn,, Hạo Ly, Như Liễu, Mỹ Lộc, Tân Ðịnh, An Việt, Phúc Lê, Tường Vân, Văn Tường, An Tục, Phụ Lũy, Khang Vĩnh, An Toàn, Tân An.

Tổng An Ðôn gồm các xã: An Ðôn, Thượng Phúc, Phúc Toàn, Phù Áng, Trà Lễ, Lại Phúc, Vân An, Hà Xá, Ðại Áng, Lập Thạch,, Phương Lương, Phú An, Lăng Phúc, Ðiếu Ngao, Ðông

Hà, Ðông Vu, Y Bích, Bạch Câu, Cây Khế, Giang Hiếu, Hà Xá, Thiết Trường, Tử Chính, Thiết Tường, Hà Phường, Sơn Trạch, Ðơn Hàng, An Trang, Ngũ Giáp.

Tổng An Lạc gồm các xã: An Lạc, Phả Lại, An Bình, Phú Ngạn, Trúc Khê, Nhật Lệ, Thuận Ðức, Lâm Lang, Phi Hưu, An Thịnh, Bào Ðá, Trung Bác, Phả Lại, An Xuân, Phúc An, Khang Mỹ, An Bình, Khang Thái, Tân An, Ba Xuân, Cây Lúa, Bái Sơn, Thiết Trường, Cam Lộ, Thiên Xuân, Bố Chính, Quật Xá, An Sát.

Quảng Trị có những địa danh quan trọng: Ðộng Cồn Tiên nằm trên ngọn đồi cao thuộc quận Gio Linh. Chiến khu Tân Sở thuộc vùng Cùa, huyện Cam Lộ được Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết xây dựng chuẩn bị chống Pháp. Ái Tử thuộc quận Triệu Phong, căn cứ đầu tiên của chúa Nguyễn Hoàng trên đường Nam Tiến, trên quốc lộ 1 cách thị xã Quảng Trị chừng 4 km. Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang gần chân núi Trường Sơn, thuộc làng Ái Tử, Quận Triệu Phong, được xây dựng vào thời Hậu Lê. Chùa Thiền Tâm ở xã Ðầu Kênh, huyện Triệu Phong do vua Thái Tông xây dựng, vua Minh Mệnh trùng tu. Chùa Long Phúc ở phường An Ðịnh, huyện Gio Linh trước làm miếu thờ Thái Tổ, vua Minh Mạng đổi làm chùa, cấp 10 mẫu ruộng và 3 người từ phu lo săn sóc. Chùa Cổ Trai ở xã Cổ Trai, huyện Vĩnh Linh, quê hương của Hiếu Khang hoàng hậu. Sau khi hoàng hậu qua đời dân trong làng lập miễu thờ, vua Minh Mạng đổi làm chùa. Ðền Thờ Ðức Mẹ La Vang cuối thế kỷ 18, cách thị xã Quảng Trị 4km, cách Huế 58km.

Về hình thể, Quảng Trị phía đông đồng bằng hẹp, phía tây là núi rừng Trường Sơn chiếm hơn hai phần ba diện tích đất đai. Từ bắc xuống nam có những ngọn núi Ðông Châu cao 1,254m, Ðộng Voi Mệp 1,701m, Ðộng Tou Troen 928m, Ðộng Ca Lư 710m, Phou Nhoi 690m, Giang Gro 771m, Ta Laou 821m, Cây Tre 485m, Ðộng Bà Lê 1,102m. Những sông chính của tỉnh Quảng Trị là sông Bến Hải, sông Cam Lộ và sông Thạch Hãn. Sông Bến Hải dài 75km phát xuất từ dãy Trường Sơn chảy ra biển ở Cửa Tùng. Sông Thạch Hãn hay sông Hàn, sông Quảng Trị phát xuất từ dãy Trường Sơn chảy qua quận Triệu Phong, đến quận Hương Hóa và Cam Lộ rồi đổ ra Cửa Việt. Phía tả ngạn có sông Hiếu Giang, Vĩnh Phước, Ái Tử. Hữu ngạn có sông Vĩnh Ðịnh. Sông Cam Lộ còn gọi là sông Bồ Ðiền, là con sông đào, nối sông Bến Hải và sông Thạch Hãn. Ngoài ra tỉnh Quảng Trị cón có những con sông nhỏ như Rào Quán, D Krong, Rào Vịnh, Mỹ Chánh, Nhung Giang, Trịnh Hin.

Bờ biển Quảng Trị dài khoảng 60km, bãi biển bằng phẳng, ngoại trừ vùng Cửa Tùng lởm chởm đá. Khí hậu Quảng Trị khá khắc nghiệt, với hai mùa mưa nắng. Mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 7, có gió Lào thổi về rất oi bức. Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 2, chịu ảnh hưởng gió bắc đổ xuống ào ạt gây lụt lội. Từ tháng giêng đến tháng 2 mưa phùn, gió lạnh.

Quốc lộ 1 và 9 là đường giao thông với các tỉnh khác. Quốc lộ 9 chạy từ Savannakhet qua Lao Bảo, Quảng Trị đến biển Ðông Hải. (Xem Tiến sĩ Lê Ðình Cai: “Ði Tìm Hình Ảnh Quảng Trị qua Ô Châu Cận Lục và Ðại Nam Thống Nhất Chí” đăng trong Kỷ Yếu Quảng Trị, 2000, tr. 9-18)

Khi Nhà Ðường cai trị Trung Quốc (618-907), đất Giao Châu trở thành đô hộ phủ, giáp giới Diễn Châu (Nghệ An ngày nay). Ðất Quảng Bình Quảng Trị thuộc Lâm Ấp. Năm 931 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, dành lại độc lập sau hơn 1000 năm bị đô hộ, thiết lập triều đại Ðinh, Lê, Lý, Trần.

Năm 1069 vua Lê Thánh Tôn dẫn binh đánh Lâm Ấp bắt được Chế Củ. Chế Củ dâng ba châu Ðịa Lý, Ma Linh và Bố Chánh (Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay) để chuộc mạng. Năm 1301 vua Trần Nhân Tông muốn thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước Chiêm Thành (Lâm Ấp) và Ðại Việt đã gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm là Chế Mân. Vua Chiêm dâng hai châu Ô, Rý (Lý) để làm sính lễ. Châu Ô về sau đổi thành Thuận Châu gồm quận Triệu Phong, Hải Lăng của tỉnh Quảng Trị, quận Phú Lộc và Phú Vang tỉnh Thừa Thiên. Châu Rý sau đổi thành Hóa Châu gồm quận Ðại Lộc, Ðiện Bàn, Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam.

Dưới thời Trịnh Nguyễn Phân Tranh, mùa đông năm Bính Ngọ (1558) Thái Úy Ðoan Quận Công Nguyễn Hoàng cùng gia tộc và một số binh lính gốc Thanh Hóa, Nghệ An và một số sĩ phu xuống thuyền xuôi Nam trấn đất Thuận Hóa. Sau ba ngày đến cảng Cửa Việt, ngược dòng sông Thạch Hãn, dừng chân tại sông Ái Tử, nay thuộc xã Triệu Ái, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, được quan quân và dân chúng các làng xã lân cận nghênh tiếp. Thôn Ái Tử gắn liền sự nghiệp vĩ đại của Nhà Nguyễn trong suốt hơn 300 năm.

Quảng Trị là cái nôi của phong trào Cần Vương chống Pháp của Việt Nam Quốc Dân Ðảng, của Ðại Việt Cách Mạng Ðảng, của Ðông Dương Cọng Sản Ðảng. Dân Quảng Trị từng chịu đựng nhiều cảnh thương hải tang điền. Cầu Bến Hải ở Hiền Lương phủ Vĩnh Linh, là ranh giới giữa hai miền Bắc Nam sau Hiệp Ðịnh Genève. Hàng nghìn dân chúng Vĩnh Linh phải bỏ nơi chôn nhau cất rốn di cư vào thị xã Quảng Trị năm 1954. Năm 1965 hàng rào điện tử McNamara trải dài từ Cửa Việt dọc theo sông Hiền Lương đến tận biên giới Lào Việt, vùng oanh kích tự do. Dân chúng Trung Lương phải di tản vào thị xã Cam Lộ. Năm 1972, những trận đánh tàn khốc dữ dội xảy ra dọc theo quốc lộ 9, trên 300,000 người nối đuôi nhau trên quốc lộ 1 từ Ðông Hà đến Mỹ Chánh được mệnh danh là Ðại Lộ Kinh Hoàng trong những ngày 25, 26, 27 tháng 4 năm 1972 làm mồi cho bom đạn.(Xem Lê Hữu Thăng: Quảng Trị Trong Tiến Trình Phát Triển và Xây Dựng Ðất Nước, đăng trong Kỷ Yếu Quảng Trị, 2000 tr. 54-61)

Thân phụ của Hòa Thượng Ðôn Hậu là cụ Diệp Văn Kỷ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn thị Cựu, mất sớm khi Hòa Thượng vừa lên 9 tuổi. Cụ Diệp Văn Kỷ là một thầy thuốc bắc nổi tiếng trong vùng. Cụ còn là Phổ Trưởng Phổ Liên Trì. Tuy nhà thanh bạch nhưng đạo đức, có lòng giúp người nghèo khó. Người trong vùng khi đau yếu đến nhờ cụ chữa trị, không có tiền mua thuốc, cụ vẫn vui lòng bốc thuốc cho họ mà không lấy tiền. Nhà của cụ ở gần bờ sông, nơi bà con trong vùng thường đắp mộ hai bên bờ. Khi nước lụt, nhiều ngôi mộ bị lở, xương người chết lộ ra mà không ai thâu lượm. Cụ thường đi nhặt những xương cốt ấy bỏ vào hũ đem chôn ở nơi cao hơn. Dân chúng trong vùng mến mộ cụ qua những hành động phước đức này. Cụ Diệp Văn Kỷ về sau xuất gia học Phật với tổ Hải Thiệu, có pháp danh là Thanh Xuân, tự Sung Mãn, đắc pháp với tổ Tâm Truyền, được ban pháp hiệu là Phước Ðiền, khai lập chùa Long An, Quảng Trị và kế thế trú trì chùa sắc tứ Tịnh Quang, Quảng Trị. Cụ rất giỏi nghi lễ. Trong giới đàn tại Ðà Nẵng, khi Hòa thượng Trí Thủ thọ đại giới, cụ được mời làm tôn chứng A xà lê.

Cụ Diệp Văn Kỷ trước khi xuất gia, có hai đời vợ: Vợ thứ nhất sinh được người con trai tên là Diệp Văn Hùng. Diệp văn Hùng lập gia đình có 4 con: 3 trai, 1 gái. Con trai đầu là Diệp Tâm Hoa, con trai thứ hai là Diệp Tâm Khai, về sau là Hòa thượng Trí Ấn, hiệu Nhật Liên, thành viên của Hội Ðồng Trưởng Lão thuộc Viện Tăng Thống, Giáo Hội PGVNTN, con trai út là Diệp văn Thuận. Con gái thứ ba là Diệp thị Chương lập gia đình với Mai Tôn Nghiêm, người có công xây cất khu chợ Nha Trang và bến tàu Nha Trang.

Người vợ thứ hai tên là Nguyễn thị Cựu sinh được 4 người con, 1 gái 3 trai. Con gái đầu tên là Diệp Thị Tý, lấy chồng sinh được 1 người con gái tên là Từ Thị Thí. Chồng mất sớm. Bà Từ Thị Thí hiện ở Ðông Hà lấy chồng sinh được 4 người con, 2 trai, 2 gái. Chồng mất sớm, bà Từ Thị Thí đi kháng chiến, không được kết nạp vào đảng cọng sản vì là con cháu của Hòa Thượng Ðôn Hậu. Người con trai thứ nhất tên là Diệp Trương Thuần, sau xuất gia pháp danh Trừng Nguyên, hiệu Ðôn Hậu. Người con trai thứ hai tên là Diệp Trương Cẩn, thường gọi là ông Thọ, qui y, pháp danh Trừng Hộ. Lập gia đình, có hai đời vợ:

Vợ cả có 3 gái, 1 trai. Con gái đầu tên là Diệp thị Thoại năm 1956 thành hôn với ông Trần Tường Châu, đệ tử của Hòa

Thượng Ðôn Hậu. Gia đình định cư tại Mỹ. Người con gái thứ hai tên là Diệp Bích Thủy lấy chồng làm bác sĩ. Người con gái thứ 3 tên là Diệp Thúy Nga, hiện ở Denver, Hoa Kỳ. Người con trai út tên là Diệp Thanh Trúc, đi tu theo thầy Nhất Hạnh, hoạt động cho trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, đã cùng 5 huynh đệ thọ nạn trong vụ trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội bị tấn công năm 1966.

Vợ kế có 2 người con, 1 trai, 1 gái. Con trai tên là Diệp Văn Trúc hiện ở Long Khánh, con gái tên là Diệp thị Chanh mới qua đời.

Cụ Diệp Văn Kỷ có lập một ngôi chùa ở làng Long Hưng, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cách chùa Long An chừng 5 km ở hướng nam. Hòa Thượng Ðôn Hậu về sau có mua một ngôi chùa tên là chùa Ðông An, thôn Xuân An, xã Dương Biều, tổng An Ðôn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị ngày nay đổi là thôn Xuân An, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chùa Ðông An sau được đổi tên thành Long An (ghép từ chữ Long Hưng với Xuân An). Hòa thượng chỉ mua chùa chứ chưa được mua đất, vì vậy hàng năm phải đóng tiền thuê đất cho làng Dương Biều, cho mãi đến năm 1943 (năm Quí Mùi) mới mua được đất.

Chùa Long An có thời do ni sư Diệu Lý đến bảo quản. Chùa hiện nay thầy Hải Tạng làm trú trì, được trùng tu đại qui mô, trở thành một ngôi chùa trang nghiêm, một di tích lịch sử có phong cảnh đẹp tại Quảng Trị.

Năm 1985, đại đức Thích Hải Tạng, đệ tử của Hòa Thượng Ðôn Hậu, vâng lệnh thầy về Quảng Trị bảo quản chùa Long An. Ngày 14 tháng 4 năm 2007 đại đức khởi công đại trùng tu chùa được sự chứng minh của Hòa Thượng Thích Nhật Liên, thành viên Hội Ðồng Trưởng Lão, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, cháu ruột gọi Hòa Thượng Ðôn Hậu bằng chú ruột. Công việc trùng tu chùa Long An được trình bày trong Cẩn Bạch Thư:



Nguồn :THƯ VIỆN HOA SEN -
http://http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-140_4-8368_5-50_6-1_17-25_14-1_15-1/