Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2022

THÔI RỒI...ĐÚNG HẸN Văn Thiên Tùng

  VTT xướng - họa cùng quý thân thi hữu tháng : Sông Thu, Mỹ Ngọc, Cao Mỵ Nhân, Liêu Xuyên, Lý Đức Huỳnh, Hồ Nguyễn, Yên Hà, Mỹ Nga, Thái Huy, Mai Xuân Thanh, Đỗ Chiêu Đức

 



THÔI RỒI...ĐÚNG HẸN*

Bài xướng:
Đúng hẹn vào đông bão viếng rồi
Mây quần xám xịt chẳng ngừng trôi
Mưa gào sàn sạt bung liên hướng
Gió quạt tua toe giật tứ hồi
Cứ thế triều dâng dồn ngất vậy
Theo đà nước hỗn nhấn không thôi
Miền Trung thất thểu đồng cam cảnh
Lũ lụt vần xoay mãi xát nhồi…!
Mai Vân-VTT, 16/10/22.
* Đúng hẹn ...giao mùa Thu đông chuyển
bão lụt liên hồi ập vào miền Trung gieo rắc họa tai ;
từ 16-20/10 sẽ bão tiếp tục vào Tứ Quảng&Thừa Thiên-Huế.

 
BÃO LŨ MIỀN TRUNG

Bài họa 1:
Miền Trung bão lũ tới nơi rồi
Ồ ạt mưa tràn, nước ngập trôi
Đồ đạc lềnh bềnh ngâm rệu rã
Trẻ con đói lạnh khóc liên hồi
Đau lòng, tiếc của cam đành vậy
Xót dạ, hận đời cũng chịu thôi
Tai họa hàng năm theo lệ đên
Gan bào, ruột thắt, nỗi đau nhồi
Sông Thu, 16/10/22.

MÙA DÔNG TỐ.

Bài họa 2.
Mùa dông tố đã đến nơi rồi,
Bốn Quảng, thừa thiên nước nổi trôi.
Bão khủng nhiều cơn vào tới tấp,
Mưa to lắm trận đổ liên hồi.
Tiêu tan sản nghiệp đau buồn lắm,
Thất thoát mùa màng đói khổ thôi.
Nhân họa thiên tai dồn dập tới,
Trời xanh thương sót hãy ngưng nhồi.
Mỹ Ngọc.Oct. 16/2022.

QUẢNG ĐÀ BÃO LỤT.

Bài họa 3:
Đà Nẵng hôm qua lụt lội rồi
Nước dâng, bàn , ghế, tủ, giường trôi
Sông Hàn đỏ kệch mưa cuồng lũ
Non Nước mù tăm gió loạn hồi
Bão tiếp, giông còn xuyên phá mãi
Sóng tràn, sức đuối cố vươn thôi
Bao năm cách biệt Quảng Đà nhớ
Xa xót thương yêu, mất mát nhồi ...
Los Angeles,16/10/22.
Cao Mỵ Nhân.

MIỀN TRUNG NGHIỆT BÃO 2022

Bài họa 4:
Tàn Thu trời đất bão giông rồi,
Thảm cảnh lụt nhiều lũ cuốn thôi !
Tang tóc miền Trung buồn mấy nỗi,
Tái tê xứ Huế khổ bao hồi !
Tan nhà ngập cửa người than thở,
Tàn xóm rũ đồng lúa rã trôi !
Thê thiết ngàn cân treo sợi tóc…
Thương ôi mưa gió đớn đau nhồi !
Liêu Xuyên.

BÃO LŨ ĐA ĐOAN

Bài họa 5:
Miền Trung bão dữ mới qua rồi
Lại tiếp sau cuồn cuộn lũ trôi
Lốc xoáy nhà tan tành mấy trận
Mưa tuôn nước úng ngập liên hồi
Quê nghèo trời nỡ đày nghèo mãi
Phận khổ dân đành chịu khổ thôi
Cứu trợ, mì ăn liền chống đói
Mần răng thoát được tố giông nhồi ?!...
Lý Đức Quỳnh, 17/10/2022.

DÂN VIỆT DŨNG CẢM

Thu đông giông bão, tưởng xưa rồi,
Ai có ngờ đâu tiếp tấp trôi.
Gió cuộn quay cuồng tung khắp chốn,
Sóng cao sầm sập đổ liên hồi.
Hán Trung liếm lép thèm như thế,
Covid hung tàn cũng vậy thôi.
Dân Việt bền gan chung đón thảm,
Kiên tâm dũng cảm chịu đau nhồi…!
Hồ Nguyễn.16-10-2022.

TIẾT MÙA

Tiết mùa tháng dữ đã hành rồi
Xám nghịt bầu trời mây cứ trôi
Mưa đổ ầm ầm làng nước ngập
Gió gào thổi cuốn rít từng hồi
Ngoài kia sóng biển hùa dâng khiếp
Chớp mắt tha hồ chìm hết thôi
Dân khổ miền Trung cam chịu nạn
Lênh đênh xát cuốn tự nhiên nhồi !..
Yên Hà,17/10/2022.

MƯA LŨ MIỀN TRUNG.

Ôi thôi,Mưa bảo nổi lên rồi,
Viễn tượng năm nào cũng ngập trôi.
Thãm trạng lương dân buồn chất ngất...
Gió mưa gào thét đổ liên hồi
Chống chèo Thuyền Ái lo toan cứu,
Đời Đạo tương thân cứu khổ thôi
Dân khổ đang cơn nguy khốn khó,
Tinh thần Dân tộc phải vun nhồi. "Bồi"
Mỹ Nga , 17/10/2022
ÂL,20/09/Nhâm Dần.

LẠY TRỜI XIN CƯU!

Miền trung cực khổ quá nhiều rồi
Bão tới lũ về nhà cửa trôi
Tài sản ra sông-mô sức cản ?
Ruộng vườn hóa biển-nọ công hồi?
Xin quỳ bái gối cầu Trời ạ
Xin chắp vòng tay lạy Chúa thôi
Sớm cứu chúng sinh bằng mọi cách,
Và cho giảm thiểu nỗi đâu nhồi.
Thái Huy, 10/17/22.

MIỀN TRUNG BÃO LỤT

Miền Trung bão lụt số “năm” rồi (1)
Mưa gió tơi bời nước lũ trôi
Xối xả băng đường trưa mấy nổi
Chảy ào ngập lối xế liên hồi
Thôi đi trường lớp lòng thêm rối
Nghỉ học con, em dạ chịu thôi
Rác rưỡi trâu bò như xác thối
Phù sa bùn nhão tựa ai nhồi…!
Mai xuân Thanh, October 17, 2022
(1) cơn bão số 5.

MIỀN TRUNG BÃO LỤT

Hằng năm chiếu lệ đến đây rồi,
Bão dữ hoành hành lũ lụt trôi.
Cây đổ nhà nghiêng giông tới tấp,
Mưa cuồng gió loạn giật liên hồi.
Trẻ già đói rét đành cam chịu,
Trai gái cứu nàn quyết chẳng thôi.
Mỗi độ mỗi năm trời giáng lụt...
Miền Trung thảm họa mãi thêm nhồi !!!
Đỗ Chiêu Đức,10/17/2022.

Ảnh minh họa: Nguồn từ Internet.




 

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2022

Chùm thơ MÙA LŨ GỬI VỀ MẸ BA VTHH

 Lại đến mùa bão lũ giáng xuống quê hương đất nước miền trung và chùm  thơ con gái Hồng Hà năm nào viết tặng Mẹ ba, gia đình trong niềm  lo cùng nỗi nhớ quê nhà  thân thương  khi vốn xa nhà....🥰🥰🥰.

"Papa, mami" yêu dấu, bài thơ cũ rồi nhưng hôm nay nhớ ba và mẹ nên con ngồi đọc lại, post sang cho ba mẹ cùng đọc nhé, ba mẹ nhớ giữ gìn sức khỏe nha...




CON NHỚ BA NHIỀU LẮM BA ƠI !!!

Con nhớ ba nhiều, nhiều lắm ba ơi!
Những khi trái gió trở trời, lại tủi
Đất thành đô sao dạo này nhiều bụi
Con húng hắng hoài không dứt ho khan

Con nhớ ba nhiều, nhiều lắm ba ơi!!
Nhà trọ buồn thiu, nỗi niềm nghẹn ứ
Con quẩn quanh trong bộn bề toan tính
Mưu cầu giành giựt lợi ích công danh.

Con nhớ ba nhiều, nhiều lắm ba ơi!!!
Với từng đêm chưa bình yên cơn ngủ
Trái tim nặng chịch với từng ác mộng
Giấc nửa khuya ú ớ nói một mình.

Con nhớ ba nhiều, nhiều lắm ba ơi!
Nhớ mùi mồ hôi mặn mòi lưng áo
Nhớ bờ vai con tựa vào khi mỏi
Nhớ vết lằn đau ba đánh con hư

Con nhớ ba nhiều, nhiều lắm ba ơi!!
Nhớ tóc điểm sương nhuộm màu nắng gió
Nhớ bàn tay ba sần sùi ram ráp
Nhớ giọng thơ ngâm sảng khoái đêm hè

Con nhớ ba nhiều, nhiều lắm ba ơi!!!
Nhớ dáng ba nghiêng gầy mòn năm tháng
Ôi, ba của con suốt đời gánh nặng
Dành lại yêu thương trao hết con khờ

Hai mươi lăm tuổi đầu đã lớn khôn chưa!?
Con bé bỏng trong tình cha rộng lớn
Vấp váp xung quanh cùng nhiều va chạm
Lúc buồn vui, con vẫn muốn gọi: BA!!!
Tiểu Yên, VTHH. 17/11/2004.

ĐỪNG KHÓC NHÉ, MẸ ƠI!!!

Đừng khóc nhé mẹ, con đi
Thời gian vùn vụt, lo gì… mẹ ơi!!!
Sang năm con lại về rồi
Đừng khóc nhé mẹ kẻo lời ướt mi

Vòng tay ấy muốn ôm ghì
Và mắt quyến luyến cũng vì nhớ thương
Quê nhà dầm dãi nắng sương
Con chia tay mẹ, dặm đường ngái xa

Quê nhà chỉ mẹ với ba
Nhớ thương san sẻ vào ra một mình
Hành trang khởi cuộc hành trình
Nặng tim con cả ân tình… mẹ ơi!!!

Đừng khóc nhé mẹ, mẹ yêu
Quay lưng con giấu giọt chiều sắp rơi.
Tiểu Yên. 17/11/2004.

Đây là bài viết tặng Mẹ trong mùa bão lũ sau một lần phone về nhà, Mẹ đừng "mít ướt" nữa nha...
 
ĐỪNG KHÓC NỮA MẸ ƠI!
 
“Alô” tiếng đầu dây bên kia vọng lại
Thật thân thương nồng ấm lòng con
Bao xúc động ngỡ dâng lên vành mắt
Sợi tình yêu đang xiết nhẹ tim non.
Con áp tai và trìu mến gọi tên:
Mẹ! – tiếng gọi mẹ bật lên… náo nức.
 
Bên kia đầu dây, bên này nỗi nhớ
Mẹ và con nghe nhịp thở của nhau
Con hình dung giờ mắt mẹ hằn sâu
Những ký ức của nhọc nhằn đọng lại
Tóc Mẹ ngày xưa đen và dày như thế
Mà bây chừ… xa xót bạc màu sương.
 
Alô! Mẹ ơi, là con gái mẹ hằng thương
Đang tíu tít trên đường truyền liên lạc
Xa lộ thông tin của thời hiện đại
Nối dùm con những cách trở không gian.
Mẹ! Sài Gòn hôm nay vẫn nắng và khô
Con thắt ruột tin miền Trung bão lũ
 
Lo Mẹ, Cha bên nếp nhà đã cũ
Nhà trước nhà sau quạnh vắng tiếng cười.
Năm chị em mà mỗi đứa một nơi
Theo đuổi ước mơ sớm rời xóm nhỏ
Cha còng lưng những đêm gắng gổ
Bóng gầy nghiêng, húng hắng cơn ho
 
Mẹ cời than bên bếp lửa tàn tro
Nồi cơm nếp ấm buổi chiều lạnh giá.
Hạnh phúc đơn sơ thế mà không còn nữa
Khi năm đứa con lần lượt xa nhà.
Mẹ! Đừng, đầu dây bên kia Mẹ đừng khóc
Chúng con đi rồi Tết sẽ trở về
 
Lại thủ thỉ trong vòng tay của Mẹ
Mẹ! Đừng, đầu dây bên kia Mẹ đừng khóc
Kẻo mà con không giấu nổi giọt sương
Mi mắt ướt, con - tình yêu khờ khạo
Mẹ là núi tình thương trĩu nặng lòng Con.
Tiểu Yên. 26/10/05.
 





 
 
 

 

 

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2022

KHÁNH THÀNH ĐỀN THỜ THÁI PHÓ NGUYỄN Ư DĨ và ...


Bài viết1 &  2: TÔI TÌM NĂM SINH CỦA NGÀI NGUYỄN Ư DĨ.
Thầy Hoàng Đằng.  
 ( Sau đây là những bài viết của Thầy HĐ. nhằm giới thiệu để các nhà nghiên cứu đọc tham khảo bổ sung thêm) ...
 
- NÊN LÀM GÌ ĐỂ TƯỞNG NHỚ CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG TRÊN ĐẤT QUẢNG TRỊ: 
 
Tôi may mắn đọc được ý kiến này của Nguyễn Hoàn trên facebook nhân sự kiện làng Trà Liên khánh thành nhà thờ ngài Nguyễn Ư Dĩ:
"... Gần đây có người nói đến chuyện cần dựng tượng Chúa Tiên Nguyễn Hoàng trên đất Quảng Trị, tôi xin nói rõ lại ở đây rằng, chuyện này đã được đề cập từ năm 2013, cách đây 9 năm rồi. Hội thảo khoa học “Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của Chúa Nguyễn Hoàng” do UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị năm 2013 đã đề xuất nên XÂY DỰNG MỘT ĐỀN THỜI VÀ MỘT TƯỢNG ĐÀI CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG ở vị trí thật tiêu biểu. Đây phải là MỘT TƯỢNG ĐÀI MANG TẦM QUỐC GIA , thể hiện sự tôn vinh của cả nước đối với Chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
Tiếc thay! Từ mốc Hội thảo đó đến nay đã 9 năm, kết quả Hội thảo ròng rã nhiều năm nằm im trên giấy.\
Năm 2018, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành quyết định xếp hạng quốc gia di tích lịch sử các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558-1626), xã Triệu Ái, Triệu Giang, thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Từ đó đến nay, cũng đã 4 năm, di tích này vẫn chưa có quy hoạch (hiện chỉ mới bắt đầu “khởi động”).".
Xây tượng đài và nhà thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng chỉ mới là ĐỀ XUẤT chưa có cấp chính quyền nào chấp thuận.
Bộ VH-TT-DL đã xếp hạng DI TÍCH CẤP QUỐC GIA từ năm 2018 "di tích lịch sử các địa điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn ((1558 - 1626), xã Triệu Ái, Triệu Giang, thị trấn Ái Tử".
Tôi nghĩ qua thời gian, qua chiến tranh, qua biến động của con người và thiên nhiên, những di tích ấy, kể về vật thể, hiện không còn gì, ngoài bức tượng của ngài Nguyễn Ư Dĩ, người phò tá chúa Nguyễn Hoàng trong bước đầu và những dấu vết móng của tường thành phát hiện trong đợt khai quật khảo cổ năm 2016 (?) ; mộ RÙA ĐÚC VÔI, cái giếng ... chưa xác định là thuộc về thời nào.
Tất cả đều nằm trong địa phận làng Trà Liên.
Năm đạo quân bảo vệ dinh chúa: Trung KIên, Tiền KIên, Hậu Kiên, Tả Kiên, Hữu Kiên đã biến thành năm làng khi dinh chúa Nguyễn dời đi năm 1626 (?). Nhân đây, vị nào biết HỮU KIÊN hiện là làng nào không và ở năm làng ấy, dấu tích vật thể còn gì không.
Hiện tại, Nhà Nước và tỉnh Quảng Trị chưa có chủ trương, kế hoạch gì để tưởng nhớ công ơn người mở cõi. Tôi tin chủ trương, kế hoạch sẽ có vì đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
Việc nước có muôn mặt phải giải quyết theo thứ tự ưu tiên, mức độ cần thiết. Vậy các cấp thuộc ngành liên quan phải kiến nghị, đề xuất, "con có khóc mẹ mới cho bú" mà!
Theo tôi, để tưởng nhớ tiền nhân, một công viên ở thị trấn Ái Tử là nên lên kế hoạch nhất; trong công viên ấy, sẽ có miếu thờ, tượng thờ Nguyễn Hoàng, có lối đi, có thảm cỏ, có ghế đá... Nhà nước nên kêu gọi các tổ chức, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm đóng góp được phần nào trong các hạng mục của công trình.
Lúc đó, CHS trường trung học Nguyễn Hoàng không nhiều thì ít chắc có góp phần ... 
HĐ, 04/10/2022
 
 -
NGUYỄN HOÀNG LẬP DINH Ở ÁI TỬ - TRÀ LIÊN CHẮC CHẮN ĐƯỢC TÍNH TOÁN TRƯỚC: 
 
Tôi đọc bài "Cuộc tìm kiếm lỵ sở chúa Tiên Nguyễn Hoàng" của TS. Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo Cổ Học) biết được thông tin này:
"...Có một truyền thuyết vừa thực vừa ảo được nhiều người nhắc đến là khi đoàn thuyền của chúa Tiên Nguyễn Hoàng đến gần cửa Việt (sông Thạch Hãn đổ ra biển trên đất Quảng Trị) thì sóng gió nổi lên, mưa giông kéo đến mù mịt, tàu thuyền ngả nghiêng, chúa tôi 10 phần chết 9. Tàu thuyền vội cặp vào bờ trên dòng Thạch Hãn, địa phận thôn Ái Tử, huyện Triệu Phong bây giờ..."
Đây chỉ là truyền thuyết, tức là câu chuyện truyền từ người này qua lời khác từ đời này qua đời khác. Truyền thuyết có cái đáng tin, nhưng truyền thuyết này tôi không tin.
Vì sao?
Nguyễn Hoàng dẫn đoàn tùy tùng đông người đi trấn nhậm một vùng đất xa xôi rộng lớn như Thuận Hóa; phương tiện đi, đường đi, nơi đến chắc chắn phải được nghiên cứu kỹ, khảo sát kỹ, lên kế hoạch kỹ.
Đoàn đến cửa Việt nếu vì sóng to gió lớn, giông mưa mịt mù không tiếp tục hành trình đã định được, phải vào cửa Việt tránh thì dừng gần đâu đó, không dại gì mất công ngược dòng Thạch Hãn đến Ái Tử.
Nếu buộc phải lên Ái Tử thì khi thời tiết trở lại bình thường, đoàn phải tiếp tục hành trình.
Tôi nghĩ việc chọn Ái Tử là có tính toán trước nên khi đoàn đến dân mới nghinh đón, các bô lão mới dâng lên Nguyễn Hoàng các vò nước trong để Nguyễn Ư Dĩ diễn giải cho Nguyễn Hoàng biết là dân đã dâng nước (quốc) cho Nguyễn Hoàng - một điềm tốt lành.
Từ đó, tôi suy ra việc chọn Ái Tử là do Nguyễn Ư Dĩ sắp xếp trước; còn chuyện mưa to gió lớn khi đoàn đến Cửa Việt, nếu có, là việc tình cờ của trời đất.
Tôi cũng thắc mắc đất Thuận Hóa lúc ấy đã thuộc về Đại Việt lâu rồi, đương nhiên, đã có chính quyền để quản lý.
Sử sách có truyền lại Tống Phước Thị, trấn thủ Thuận Hóa lúc đó, đến gặp Nguyễn Hoàng dâng bản đồ, sổ sách lên Nguyễn Hoàng rồi xin làm phò tá ... Lỵ sở của trấn thủ Tống Phước Thị ở đâu? Tại sao đoàn Nguyễn Hoàng không đến đó?
Bạn nào nghiên cứu về sử giải thích giùm ...
HĐ. 05/10/2022
 
 1. DINH ÁI TỬ - DINH TRÀ BÁT (Trà Liên) - DINH CÁT CỦA CHÚA NGUYỄN HOÀNG: 
 
Sau status " NHÀ THỜ NGÀI NGUYỄN Ư DĨ" ngày 01/10/2022 của tôi trên facebook, bạn Hoàng Ngọc Định có hỏi: "Giờ vẫn chưa xác định được chính xác địa điểm đặt Dinh Cát, Dinh Trà Bát của chúa NGuyễn Hoàng ngày xưa, phải không bác?"
Với Status này, tôi xin trả lời:
Đoàn Nguyễn Hoàng – Nguyễn Ư Dĩ đến nơi hợp lưu sông Lai Phước vào sông Thạch Hãn, đoàn ngược dòng Lai Phước đến chỗ sông Ái Tử hợp lưu vào sông Lai Phước, đoàn rẽ vào dòng Ái Tử lên đất Ái Tử và đặt dinh trại; điều này làm rõ thêm việc chọn Ái Tử là có tính toán, khảo sát trước.
Ấy là vào năm 1558. Hiện tại, ở làng Ái Tử hình như không còn di tích gì về dinh trại này. Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Buổi ban sơ ấy, thiếu phương tiện, dinh trại chắc xây dựng chưa kiên cố; khi dời đi, những gì chắc chắn còn dùng lại được đã được tháo gỡ mang theo để xây dựng ở nơi mới.
12 năm sau - 1570, Nguyễn Hoàng – Nguyễn Ư Dĩ chuyển dinh trại từ địa phận làng Ái Tử qua địa phận làng Trà Bát đặt trên cồn đất - cồn đất này nằm trên đường từ QL1 về sát làng Trà Liên Tây.
Lý do chuyển dinh trại từ Ái Tử qua Trà Bát tôi đoán thế này:
Ngày xưa, giao thông liên lạc chủ yếu bằng đường thủy; muốn tới Ái Tử, phải dùng sông Ái Tử mà sông Ái Tử quá nhỏ không thuận lợi; Nguyễn Hoàng – Nguyễn Ư Dĩ phải chuyển về Trà Bát để gần sông cái Thạch Hãn; ở đây, Ghềnh Phủ đã được lập để thuyền bè cập bến.
30 năm sau - 1600, Nguyễn Hoàng – Nguyễn Ư Dĩ chuyển dinh trại sang một địa điểm cũng nằm trong địa phận làng Trà Liên. Địa điểm này được gọi là Cát Dinh. Tôi chưa đọc được văn bản cổ nào bằng chữ Hán để biết chữ CÁT viết như thế nào. Tôi ngờ ngợ khi TS. Nguyễn Tiến Đông (Viện Khảo Cổ Học) trong bài “Cuộc tìm kiếm lỵ sở chúa Tiên Nguyễn Hoàng” bảo Cát Dinh là dinh xây trên cát, bởi lẽ nếu thế thì người ta đã gọi là Sa Dinh (Sa: cát); tôi nghĩ Cát ở đây phải là “tốt lành” – dinh mang đến sự tốt lành.
Tháng 7 và 8 năm 2016, đã có cuộc khai quật tìm kiếm di tích. Nền móng của tường thành bằng gạch đã được tìm thấy ít nhiều.
Theo tôi, dinh trại Trà Bát và dinh Cát nằm trên cùng một bãi cồn, gọi là Cồn Dinh.
Dinh trại Trà Bát chắc dựng lên với phần lớn vật liệu tháo gỡ từ dinh trại Ái Tử đem về; sau đó, có phương tiện, Dinh Cát được xây dựng kiên cố.
Trong thời gian xây dựng Dinh Cát, dinh trại Trà Bát còn cần để ở, nên giữ lại đến khi Dinh Cát hoàn thành mới dẹp bỏ. Thành thử, dinh trại Trà Bát và Dinh Cát không xa nhau là bao. Và những dấu vết tìm thấy trong đợt khai quật 2016 chính là của Dinh Cát.
HĐ. 06/10/2022
 
 2. TÔI TÌM NĂM SINH CỦA NGÀI NGUYỄN Ư DĨ.
 
Theo sách sử, Nguyễn Ư Dĩ 阮 於 已 còn có tên khác là Ư Kỷ 於己, Ư Tỵ 於巳. Ba chữ: Dĩ 已, Kỷ 己 , Tỵ 巳 có hình dạng gần giống nhau. Vì vậy, có thể Ngài chỉ có một tên, việc có đến 3 tên là do 3 cách đọc khác nhau của người đời sau.
Ngày xưa, tôi bắt đầu học chữ Hán, thầy bày cho cách phân biệt 3 chữ này: Tỵ 巳 trồi, Dĩ 已 trụt, Kỷ 己 đèo queo.
Theo suy đoán của tôi, tên Ngài được cha mẹ đặt cho là Tỵ - Ư Tỵ (vào năm Tỵ) để nói Ngài sinh vào năm Tỵ.
Thân sinh của Ngài có tài liệu nói là Nguyễn Kính Diện, có tài liệu nói là Nguyễn Minh Biện; chữ lót trong gia đình Ngài là Kính hoặc Minh, chứ không phải Ư. Tên họ Ngài không lấy chữ Kính hay chữ Minh mà đổi qua Ư (ở, vào) vì cha mẹ Ngài muốn nói đến năm sinh của Ngài.
Thông tin về năm sinh của Ngài sử sách không nói tới, năm mất của Ngài sử sách cho biết năm 1602. Vậy nếu năm sinh của Ngài là năm Tỵ thì năm Tỵ đó là năm Tỵ nào? Năm Kỷ Tỵ (1509) hay năm Đinh Tỵ (1497)? Nếu Ngài sinh năm Kỷ Tỵ thì tuổi thọ của Ngài là 94 tuổi ta hay 93 tuổi Tây (1509 – 1602); nếu Ngài sinh năm Đinh Tỵ thì tuổi thọ của Ngài là 106 tuổi ta hay 105 tuổi Tây (1497 – 1602). Tuổi thọ người Việt thời đó 93 hay 94 là tương đối tin được; còn 105 hay 106 e không thể đạt được. Vì vậy, tôi đoán Ngài sinh năm Kỷ Tỵ (1509).
Vậy thì em gái Ngài bà Nguyễn thị Mai là chánh thất phu nhân của Nguyễn Kim, mẹ của Nguyễn Hoàng phải sinh từ 1510.
Sử sách cho biết Nguyễn Kim có 3 vợ:
1- Chánh thất phu nhân Nguyễn thị Mai (sinh năm ? – mất 23/Giêng ÂL, không rõ năm) sinh ra Nguyễn Hoàng.
2- Thứ thất phu nhân Đỗ thị Tín (sinh năm ? – mất năm ?) sinh ra Nguyễn thị Ngọc Bảo – chị của Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng và vợ của Trịnh Kiểm.
3- Thứ thất phu nhân (không rõ tên họ, năm sinh, năm mất) sinh ra Nguyễn Uông.
Nguyễn Hoàng sinh năm 1525, giả sử bà Nguyễn thị Mai sinh năm 1510; như thế bà Nguyễn thị Mai phải lấy Nguyễn Kim 1524, nghĩa là mới 14 hoặc 15 tuổi, lúc đó Nguyễn Kim đã 56, 57 tuổi - Nguyễn Kim sinh năm 1468 ...

* Nếu còn khỏe, tôi sẽ thử lý giải vì sao bà Nguyễn Thị Mai làm vợ Nguyễn Kim khi còn nhỏ tuổi và là vợ cuối cùng mà dược gọi là chánh thất.
14/10/2022 (19/Chín/Nhâm Dần).

 
- SÁCH SỬ XƯA GHI CHÉP CÓ NHẦM KHÔNG?
 
Dạo này, tôi tìm đọc lại những bài viết về Nguyễn Hoàng vào dựng nghiệp ở Quảng Trị nhân sự kiện xã Triệu Giang và làng Trà Liên vừa xây dựng xong nhà thờ Ngài Nguyễn Ư Dĩ - người phò tá Nguyễn Hoàng cũng là cậu ruột, cha nuôi của Nguyễn Hoàng. Tôi đọc vì khát khao hiểu biết. Thế thôi!
Nguyễn Ư Dĩ mất năm 1602. Còn năm sinh không biết. Tôi muốn biết Nguyễn Ư Dĩ thọ được bao nhiêu tuổi.
Tôi đối chiếu những thông tin liên quan.
Nguyễn Ư Dĩ là anh ruột của Nguyễn thị Mai, vợ chính của Nguyễn Kim và mẹ của Nguyễn Hoàng.
Nguyễn Kim là em rể của Nguyễn Ư Dĩ, sinh năm 1468; Nguyễn Hoàng sinh năm 1525; vậy thì:
(1) Nguyễn thị Mai phải cùng trang lứa với Nguyễn Kim (chồng bà), nghĩa là sinh trước 1500 (trong thế kỷ 15);
(2)Nguyễn thị Mai phải hơn Nguyễn Hoàng (con bà) ít nhất 18 hoặc 20 tuổi nghĩa là Nguyễn thị Mai phải sinh những năm đầu của thế kỷ 16 (1500 lẻ mấy).
Nếu sinh những năm đầu thế kỷ 16, Nguyễn thị Mai phải thua tuổi chồng bà là Nguyễn Kim quá nhiều, có thể 35 đến 40 tuổi. Ngày xưa, những gia đình thế gia vọng tộc có thể nào cưới vợ cho con trai muộn đến thế!
Nguyễn Ư Dĩ lại là anh của Nguyễn thị Mai, vậy ít nhất Ngài Nguyễn Ư Dĩ phải hơn Nguyễn thị Mai vài ba tuổi, nghĩa là sinh vào những năm cuối thế kỷ 15 hay sinh vào những năm đầu thế kỷ 16; nghĩa là NGÀI NGUYỄN Ư DĨ THỌ ĐẾN CẢ TRĂM TUỔI HOẶC HƠN (Ngài mất năm 1602). Có thể thọ đến mức đó không?
HĐ. 10/10/2022 (15/9/Nhâm Dần)
 
Bài viết 3: MỘ NGÀI NGUYỄN Ư DĨ Ở ĐÂU?
 
Khi Ngài Nguyễn Ư Dĩ mất, mộ táng ở đâu không có thông tin.
Hôm 03/10/2022, ông Trình Đình Thạnh, trưởng thôn Trà Liên, kể cho tôi nghe chuyện hồn thiêng Ngài Nguyễn Ư Dĩ nhập đồng.
Ở làng Trà Liên (Trà Bát xưa), năm 2013, trong quá trình đào móng làm nhà, ông Trịnh Hùng phát hiện tượng rùa tạo hình bằng vữa trộn từ vôi, cát, vỏ hến kết dính bằng nước đường và nước bời lời giã nhuyễn; tượng nằm trong một quách xây bằng gạch, tượng xây mặt về hướng Nam, nặng đến mức tám thanh niên lực lưỡng bê không nổi. Mộ có tấm bia đá chỉ còn lại một phần, trên đó có 4 chữ Hán.
Tôi có hỏi trong mộ, ngoài tượng rùa, còn có dấu vết hài cốt gì không, thì ông trưởng thôn cho biết đào đến tượng rùa thì ai cũng sợ không dám đào thêm nữa. Mà giả sử có hài cốt, tôi nghĩ vùi trong nước cát dỉ hơn 400 năm rồi, hài cốt đã tan biến.
Ngày 18/3/2022, trưởng thôn Trịnh Đình Thạnh vận động được tài chánh xây lại mộ cho tượng rùa. Ông trưởng thôn Trịnh Đình Thành được hồn thiêng Ngài Nguyễn Ư Dĩ nhập cho biết ngôi mộ có chôn tượng rùa là mộ của Ngài.
Dù là chuyện thuộc lãnh vực tâm linh, theo tôi, mức độ khả tín cũng cao. Mảnh bia tìm thấy cùng với tượng rùa, còn lại trên đó nét khắc của 4 chữ Hán (không biết bao nhiêu chữ tiếp theo nằm phần dưới của tấm bia đã bị vỡ vụn !!!); hai chữ đầu rõ, dễ đọc là VIỆT 越 và CỐ 故; hai chữ sau còn phần bên phải khá rõ, phần bên trái rất khó giải mã.
Trước tiên tôi đoán là VIỆT CỐ CHÂN BẮC 越 故 眞 北 (Người Việt quá cố thật đúng người ngoài Bắc); tôi nằm nghĩ xem lại tôi đoán không đúng rồi; các chữ phải nằm hàng dọc thẳng; chỉ dựa vào phần bên phải còn rõ của chữ, tôi đoán 2 chữ sau là CHÂN BẮC眞 北 thì hàng dọc các chữ hết thẳng. Vô lý! Tôi lên mạng hỏi vài bậc thông chữ Hán và nhận được sự giúp đỡ sốt sắng; Yến Thọ đoán đọc là VIỆT CỐ HIỂN TỔ 越 故 𩕃 祖 (Người Việt quá cố là ông nội …); Tam Ngng đoán đọc là VIỆT CỐ HIỂN TỶ越 故 𩕃 妣 (Người Việt quá cố là mẹ …); Đỗ Chiêu Đức đoán đọc là VIỆT CỐ TRẤN THỬ 越 故 鎮 此(Người Việt quá cố trấn giữ nơi này). Cảm ơn Yến Thọ, Tam Ngng, Đỗ Chiêu Đức nhiều. Tôi nghiêng về cách đoán đọc của Đỗ Chiêu Đức; 4 chữ trên mảnh bia là: 越 故 鎮 此 (Ngườì Việt quá cố trấn giữ nơi này).
Người trấn giữ nơi này chỉ có thể là Nguyễn Hoàng hay Nguyễn Ư Dĩ. Nguyễn Hoàng đã được sử sách nói rõ chỗ mộ chôn trên núi nguồn sông Thạch Hãn thì mộ chôn tượng rùa với mảnh bia vỡ tìm thấy chắc là của Nguyễn Ư Dĩ.
Hiện tại, mộ đã được xây mới ở chỗ mộ cũ; tượng rùa đặt trên mộ chứ không chôn lấp nữa. Rùa là biểu tượng của sự vững bền. Người xưa chôn thêm tượng rùa chắc muốn quê hương, cõi bờ bền vững …
Hoàng Đằng. 13/10/2022 (18/Chín/Nhâm Dần)
 
LÀNG TRÀ LIÊN 
TỔ CHỨC KHÁNH THÀNH ĐỀN THỜ &  NGHINH THỈNH 
TƯỢNG ĐỒNG THÁI PHÓ NGUYỄN Ư DĨ 
VỀ ĐỀN THỜ MỚI.
Hồ Ngọc Phụ.
Thái phó Nguyễn Ư Dĩ là nhân vật lịch sử gắn liền với sự nghiệp mở cõi phương nam của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Người đã có công nuôi dạy Nguyễn Hoàng từ khi mới hai tuổi cũng là người phò tá giúp Chúa Tiên Nguyễn Hoàng dựng nghiệp thành công sau này. Năm 1558 Nguyễn Hoàng cùng đoàn tuỳ tùng vâng lệnh vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Chỗ dừng chân đầu tiên xây dựng dinh phủ là vùng đất Ái Tử thuộc huyện Triệu Phong bây giờ (1558-1570). Sau đó chuyển về xây dựng dinh phủ tại xã Trà Bát( làng Trà Liên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong bây giờ). Thời gian đóng dinh ở đây là 30 năm( 1570-1600). Sau đó dịch chuyển dinh phủ về Dinh Cát gần làng Phước Toàn, nay là thôn Phước Mỹ, xã Triệu Giang thời gian từ năm 1600-1626. Năm 1613 Chúa Tiên qua đời, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên con của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lên nối nghiệp cho đến năm 1626 thì dời đi nơi khác. Như vậy là Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dựng nghiệp trên đất Quảng Trị là khoảng 56 năm. Năm 1602 Thái Phó Nguyễn Ư Dĩ qua đời, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho đúc tượng và xây dựng đền thờ, người dân thường gọi là chùa Liễu Bông và thường xuyên đến viếng để tưởng nhớ công ơn của Ngài .Trải qua hơn 400 năm được người dân làng Trà Liên giữ gìn như một báu vật. Năm 2020, chính quyền địa phương đã họp bàn với dân làng để tìm cách xây dựng lại đền thờ để rước Ngài về thờ tự. Từ khi phát động kêu gọi đóng góp, tài trợ và sự ủng hộ của bà con trong và ngoài tỉnh. Đến nay công trình đã hoàn thành. Mong muốn của chính quyền và nhân dân chọn một ngày đẹp trời để nghinh rước bức tượng về nơi mới cao ráo, sạch sẽ, tôn nghiêm đáp ứng lòng mong mỏi của bà con. Ngôi đền thờ được xây dựng nằm trong chuỗi quần thể di tích nối liền với di tích dinh trấn Ái Tử,Trà Bát, Dinh Cát, Ghềnh phủ, Đò Xưởng.... Hy vọng nay mai được nhà nước qui hoạch và xây dựng tạo nên một chuỗi giá trị về lịch sử, văn hoá, du lịch, tâm linh...
Ngày 10/10/2022 chính quyền địa phương cùng đông đảo bà con đã tổ chức lễ rước tượng đồng Thái Phó Nguyễn Ư Dĩ về đền thờ mới.
Ngày 11/10/2022, tổ chức lễ khánh thành .
Đến dự có lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện, các đài báo của trung ương , địa phương, gia đình Nguyễn Phước tộc ở Huế, đại diện các làng Phước Mỹ, Phú Áng, Tiền Kiên, Tả Kiên, Trung Kiên, Hậu Kiên, các xã Triệu Ái, Ái Tử và đông đảo bà con trong làng và bà con ở xa về dự
Buổi lễ diễn ra rất trang trọng ,tình cảm. Có đội văn nghệ Nhã Nhạc Cung Đình Huế về phục vụ và các tiết mục múa trống của bà con trong làng . Buổi lễ đã để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng mọi người. Từ nay người dân đã có nơi chốn đi về để hương khói thể hiện lòng biết ơn tiền nhân đã có công xây dựng và mở mang bờ cõi.
Hồ Ngọc Phụ,  10/2022.
 
https://vansudia.net/khanh-thanh-den-tho-thai-pho-nguyen-u-di/ 
 
 https://vov.vn/van-hoa/di-san/khanh-thanh-den-tho-thai-pho-nguyen-u-di-tai-khu-di-tich-lich-su-quoc-gia-chua-nguyen-post976574.vov
 
http://trieuphong.quangtri.gov.vn/chi-dao-dieu-hanh/khanh-thanh-den-tho-thai-pho-nguyen-u-di-2298.html 

 


 









 

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

"NĂM CỤ KHI KHÔNG RỚT CÁI ÌNH..." – La Thụy sưu tầm và biên tập.

"NĂM CỤ KHI KHÔNG RỚT CÁI ÌNH..." –
La Thụy sưu tầm và biên tập.
 

 
Một người bạn hỏi tôi có thuộc toàn bài thơ có 2 câu này không, sưu tầm tên 5 vị thượng thư đó và những sự việc liên quan đến họ, giúp bạn với:
“Năm cụ khi không rớt cái ình,
Đất bằng sấm dậy giữa thần kinh.”
Xin ghi lại những điều tôi đã hồi đáp cho bạn ấy.
Năm 1933, vua Bảo Đại muốn cải cách triều đình bèn ban cho về hưu một lúc 5 Thượng thư các Bộ: Lại, Hình, Binh, Lễ, Công vốn chỉ thông nho học, nhường chỗ cho những người thông thạo học vấn phương Tây. 5 vị thượng thư đó gồm:
1/ Nguyễn Hữu Bài - Thượng thư Bộ Lại
2/ Tôn Thất Đàn - Thượng thư Bộ Hình
3/ Phạm Liệu - Thượng thư Bộ Binh
4/ Võ Liêm - Thượng thư Bộ Lễ
5/ Vương Tứ Đại - Thượng thư Bộ Công
.
Sự kiện này được ghi lại bằng bài thơ Đường luật, có chơi chữ tên 5 vị quan các bộ bị bãi chức ở từng câu tương ứng do nhà thơ Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn (1900-1946) sáng tác:
Năm cụ khi không rớt cái ình,
Đất bằng sấm dậy giữa thần kinh.
Bài không đeo nữa xin dâng lại,
Đàn chẳng ai nghe khéo dở hình.
Liệu thế không xong binh chẳng được,
Liêm đành chịu đói lễ đừng rinh.
Công danh như thế là hưu hỉ,
Đại sự xin nhường lớp hậu sinh.
.
Xin điểm qua danh sách 5 vị thượng thư triều Nguyễn bị vua Bảo Đại cho nghỉ hưu:
1/ Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài
Bộ Lại hay Lại bộ (chữ Hán:吏部) là tên gọi của một cơ quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á, tương đương với cấp bộ ngày nay.
Ở các nước Á Đông thời phong kiến, Bộ Lại hoặc Lại bộ là bộ giữ việc quan tước, phong tước, ân ban thuyên chuyển, lựa chọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn; tương đương với Bộ Nội vụ ngày nay. Đứng đầu Bộ Lại là Thượng thư Bộ Lại (Lại bộ Thượng thư).
*
Nguyễn Hữu Bài (chữ Hán: 阮有排; 28 tháng 9 năm 1863 - 28 tháng 7 năm 1935), Phước Môn Quận công, là một đại thần nhà Nguyễn và là một nhà cách mạng ôn hòa trong lịch sử cận đại Việt Nam.
Năm 1908 ông Nguyễn Hữu Bài lãnh chức Thượng thư Bộ Lại. Ông từng giữ các chức vụ: Thái phó, Võ hiển điện Đại học sĩ, Cơ Mật Viện trưởng đại thần. Năm 1932, ông được vua Bảo Đại phong tước Phước Môn Quận công.
Ông Nguyễn Hữu Bài nổi tiếng không phải vì chức trọng quyền cao, mà nổi tiếng vì trong lúc đương thời khi vận nước suy đồi vì ách đô hộ ngoại quốc, lắm kẻ trong giới quan lại chỉ biết xu nịnh chính quyền Bảo hộ, riêng một mình Quận Công Nguyễn Hữu Bài, đã tỏ ra vững vàng với tinh thần quốc gia, dám đương đầu với người Pháp và giữ vững được những đức tính liêm sỉ phong nhã của một vị quan chức thấm nhuần Nho học.
Trong buổi họp Hội Đồng Thượng Thơ cuối năm 1912, Khâm Sứ Mahé cho biết ý định đào lăng vua Tự Đức lấy vàng bạc châu báu, viện lý do có thêm phương tiện tài chánh cho ngân sách Nam triều. Cả triều đình nín lặng, không ai nói năng gì. Duy chỉ có ông Nguyễn Hữu Bài dõng dạc đứng lên phản đối, viện lẽ theo truyền thống phong tục Việt Nam, kính trọng người chết là một nghĩa vụ và bổn phận của người sống. Đào mả tức là xâm phạm đến vong linh người chết sẽ gây náo động nhân tâm, thương tổn đến lễ nghi và thể thống triều đình. Cử chỉ hào hùng, lời lẽ khiêm tốn nhưng vững vàng cương trực của Thượng Thơ Nguyễn Hữu Bài đã làm Khâm Sứ Mahé bực mình. Tuy kết cục vẫn không ngăn cản được hành động tham tàn của đối phương, nhưng tư cách, thái độ ấy đã để lại tiếng thơm muôn đời.
Dân chúng vốn sẵn cảm tình với cụ “Thượng Bài”, từ đó càng thêm ngưỡng mộ kính mến. Càng lâu họ càng thấy rõ vị trung thần lương đống ấy, lên đến tột đỉnh danh vọng không phải vì a dua nịnh bợ tầm thường như một số quan lại đương thời mà chính vì tài đức, năng lực tinh thần thật sự.
Dân chúng đương thời đặt ra câu tục ngạn:
"Đày vua không Khả, đào mả không Bài"
.
Ghi chú về câu tục ngạn trên:
* Đày vua không Khả:
Nói đến quan Thị vệ đại thần Ngô Đình Khả đã phản kháng Pháp, không chịu ký giấy phế vua Thành Thái.
Năm 1907, lúc ông Ngô Đình Khả đương kim phụ chánh tại triều, vua Thành Thái có hành vi chống Pháp nên bị chính quyền Bảo hộ dưới sự vận động của khâm sứ Ferdinand Lévecque đòi truất vua Thành Thái và đày vua Thành Thái sang châu Phi, lấy cớ nhà vua bị bệnh tâm thần. Lúc đó tại triều hầu hết các đại thần đều ký vào thỉnh nguyện đó. Chỉ riêng có quan phụ đạo đại thần Ngô Đình Khả nhất quyết không chịu ký tên.
Ngày 2-9-1907 khi vua Thành Thái bắt buộc phải thoái vị!
Cả triều đình im lặng tuân theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau và Khâm Sứ Ferdinand Lévecque. Duy nhất và độc nhất một người, với sĩ khí nho phong hiếm hoi của thời đại còn lại, Thị Vệ đại thần Ngô Đình Khả đứng lên phản đối. Kết thúc sau cùng là nhận lãnh hậu quả phải xảy đến: cụ Ngô Đình Khả bị người Pháp quy tội đủ điều, kể cả tội “không xứng đáng với chức vụ”. Vị triều thần trọng nghĩa khí, coi thường công danh là Ngô Đình Khả bị giáng cấp xuống hàng Án Sát, cho về hưu trí tại nguyên quán Quảng Bình mà không được cấp hưu bổng.
Ông Ngô Đình Khả là thân sinh các ông Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn...
.
* Đào mả không Bài:
Khi Khâm sứ Pháp Mahé đề nghị đào vàng bạc chôn ở lăng vua Tự Đức, thượng thư bộ lại Nguyễn Hữu Bài nhất quyết phản đối.
.
2/ Thượng thư Bộ Hình Tôn Thất Đàn
Bộ Hình hay Hình bộ (chữ Hán:刑部) là tên gọi của một cơ quan hành chính nhà nước thời phong kiến tại một số quốc gia Đông Á, như Trung Quốc, Việt Nam v.v. Bộ Hình có thể coi là tương đương với Bộ Tư pháp và Tòa án Tối cao ngày nay. Quan đứng đầu bộ Hình là Hình bộ thượng thư (thượng thư bộ Hình), tương đương với Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Chánh án Tối cao ngày nay.
*
Tôn Thất Đàn (1871 - 1936) (Hán Nôm: 尊室檀), tự Hinh Nhi (馨兒), hiệu Lạc Viên Thị (樂園氏), là danh thần triều Nguyễn Việt Nam, Hình bộ Thượng thư thời Bảo Đại.
Ông Tôn Thất Đàn được bổ nhiệm làm Thượng thư Hình bộ, sung Cơ mật viện Đại thần năm 1927 (Bảo Đại thứ 2). Tháng 1 năm 1925, kiêm nhiếp Tôn nhân phủ vụ đại thần. Năm 1929, thăng làm Hiệp Tá Đại học sĩ, lĩnh Thượng thư Hình bộ, sung Cơ mật viện Đại thần, miễn kiêm chức kiêm nhiếp Tôn nhân phủ vụ đại thần. Năm 1930, phong Hiệp tá Đại học sĩ. Năm 1933, ông làm đại biểu Thuận Hóa, xuất sứ sang Pháp.
Ngày 2 tháng 5 năm 1933, Bảo Đại cải tổ nội các, ông nghỉ hưu mang chức Hiệp tá Đại học sĩ. Ngày 1 tháng 8 năm 1933, ông được phong tước Phò Nhơn nam (扶仁男).
Ông qua đời vào năm 1936 qua đời, thọ 66 tuổi, được truy tặng tước vị Đông Các Đại học sĩ.
Ông viết tác phẩm Lạc Viên tiểu sử (樂園小史), quyển tiểu sử về ông
.
3/ Thượng thư Bộ Binh Phạm Liệu
Bộ Binh hay Binh bộ (chữ Hán:兵部) là một cơ quan hành chính thời phong kiến tại một số quốc gia Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam v.v, một trong sáu bộ của lục bộ, tương đương với bộ Quốc phòng ngày nay. Quan đứng đầu Binh bộ là Binh bộ thượng thư (thượng thư bộ Binh), tương đương với bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay.
*
Phạm Liệu (1873-1937), tự là Sư Giám, hiệu là Tang Phố, là một danh sĩ Việt Nam. Ông được xem là người đứng đầu nhóm Ngũ Phụng Tề Phi, từng làm quan trải đến chức Thượng thư Bộ binh dưới các triều vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại.
Sau khi hồi hưu, ông về an dưỡng tại quê nhà và mất ngày 21 tháng 11 năm 1937 (có tài liệu ghi năm 1936), hưởng thọ 66 tuổi. Triều đình truy phong tước Trừng Giang Nam, giao việc tế lễ và mai táng cho quan chức đầu tỉnh Quảng Nam tổ chức.
Khi ông qua đời, danh sĩ đồng hương Huỳnh Thúc Kháng đã phúng điếu một câu đối, mà nay còn được lưu truyền:
Văn tự quả hữu túc duyên đa, ấu nhi tĩnh tường nghệ chiến, lão nhi kinh đệ minh đàm, trừ trung gian quốc sự dịch kỳ trần lộ sâm thương dư nẫm tái.
Hà sơn do thụy giai khí giả, cựu tắc Hán học thành tinh, tân tắc Âu khoa nhược trí, thứng vãn tấn châu bình nguyệt đán khẩu bi danh tánh mỗi song đề.
.
Diễn ý:
Văn chương chữ nghĩa có đầy duyên tứ trước vậy. Lúc nhỏ học trường tỉnh, ganh đua nghiệp văn. Khi già ở nhà khách tại kinh đô đàm luận. Ngoài việc biến đổi quốc sự, thì đường trần ai (tôi và ông) xa cách nhau hơn 20 năm.
Sông núi do tú khí tạo nên, Hán học tinh thông, Tây học còn non yếu. Mỗi tháng cùng bạn văn chương bình thời sự. Danh tánh đều được bia đá bia miệng lưu truyền.
.
Phần mộ của ông ở xã Điện Trung về sau được gia đình cho xây lại năm 1997, cạnh một nghĩa địa nhỏ. Bia mộ ghi rất sơ sài: Phạm Liệu, tự Sư Giám, hiệu Tang Phố, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1898). Điều đặc biệt có hai chữ “ngũ phụng” ở phía dưới, nhưng không rõ vì sao bị bỏ mất hai chữ “tề phi”?
.
4/ Thượng thư Bộ Lễ Võ Liêm
Bộ Lễ hay Lễ bộ (chữ Hán:禮部) là tên gọi của một cơ quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam, tương đương với bộ thông tin - truyền thông, bộ văn hoá - thể thao - du lịch, bộ giáo dục - đào tạo và bộ ngoại giao ngày nay. Quan đứng đầu bộ Lễ là Lễ bộ thượng thư (hay thượng thư bộ Lễ), tương đương với bộ trưởng các bộ trên ngày nay.
Công việc của bộ Lễ là kiểm tra cát lễ, gia lễ, quân lễ, tân lễ, hung lễ (ngũ lễ), kiêm cai quản học giáo, khoa cử, khảo thí cùng các công việc tiếp tân khách khứa ngoại quốc.
*
Võ Liêm (1873-1936), cựu thượng thư bộ Lễ, hàm Đông các điện Đại học sĩ, tước Xuân Hòa tử, con trai của Võ Khoa (Tổng đốc, sung chức Tuần vũ tỉnh Hà Tĩnh). Quê quán ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Năm 1923 lại được triệu về kinh sung làm Thượng thư bộ Công, năm 1928 làm Thự thượng thư bộ Binh, năm 1930 làm Thượng thư bộ Lễ.
Đông các điện Đại học sĩ, Xuân Hòa tử, Võ Liêm từng được tặng nhiều huân chương như Huân chương Giáo dục Cộng hòa, Long bội tinh An Nam, Bắc đẩu bội tinh.
Một người con gái của ông là Tứ giai Du tần Võ Thị Dung, là một trong 12 người vợ của vua Khải Định.
Con trai của ông là Võ Chuẩn (1895-1956), cựu Tổng đốc tỉnh Quảng Nam.
Hai con gái ông Võ Chuẩn là Linh Bảo và Minh Đức Hoài Trinh (cháu nội ông Võ Liêm) đều là nhà văn.
.
5/ Thượng thư Bộ Công Vương Tứ Đại
Bộ Công hay Công bộ (chữ Hán: 工部) là tên gọi của một cơ quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á, như Trung Quốc, Việt Nam, tương đương với cấp Bộ ngày nay. Đứng đầu Công bộ là Thượng thư (尚書, tương đương Bộ trưởng ngày nay); giúp việc có Tả Thị lang 左侍郎, Hữu Thị lang 右侍郎 (thời Lý - Trần - Lê) hoặc Tham tri (thời Nguyễn) (tương đương cấp Thứ trưởng ngày nay); Lang trung, Viên ngoại lang, Tư vụ... (tương đương Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, Giám đốc các sở hoặc Chánh Văn phòng ngày nay).
Ngày nay, Công bộ có thể coi là tương đương với Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông Vận tải. Quan đứng đầu bộ Công là Công bộ Thượng thư (Thượng thư bộ Công). Do xếp thứ sáu trong Lục bộ nên Thượng thư Bộ này có thể bị bãi, giáng hoặc thăng tiếp sang Thượng thư Bộ khác.
*
Chúng tôi không tìm được tư liệu nào viết về ông Vương Tứ Đại - Thượng thư Bộ Công về hưu dưới triều Bảo Đại, quý bạn nào biết xin cung cấp giùm để bổ sung. Cám ơn nhiều.
**
Trong lục bộ có Thượng thư Bộ Hộ, Đại thần Thái Văn Toản là vị quan duy nhất được Hoàng đế Bảo Đại giữ lại chức vị để tham gia vào Tân Chính phủ cải tổ đã được công bố theo Chỉ của Triều đình ngày 10 tháng 9 năm 1932 và được thừa nhận theo Dụ ngày 2 tháng 5 năm 1932.
Năm 1932, vua Bảo Đại sau khi du học ở Pháp về đã trực tiếp tham chính và thay nội các mới. Võ Liêm, Thượng thư bộ Lễ cùng với 4 vị Thượng thư khác là Nguyễn Hữu Bài (bộ Lại), Tôn Thất Đàn (bộ Hình), Phạm Liệu (bộ Binh) và Vương Tứ Đại (bộ Công) bị cho nghỉ hưu, nhường chỗ cho những nhân vật trẻ Tây học như Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn.
Trong đó Ngô Đình Diệm thay thế Nguyễn Hữu Bài làm Thượng thư Bộ Lại, Bùi Bằng Đoàn thay thế Tôn Thất Đàn làm Thượng thư Bộ Hình, Thái Văn Toản thay thế Vương Tứ Đại làm Thượng thư Bộ Công, Hồ Đắc Khải bổ làm Thượng thư Bộ Hộ, Phạm Quỳnh làm Thượng thư Bộ Giáo dục kiêm Tổng lý Ngự tiền văn phòng.
Cùng với việc thay đổi về nhân sự, bộ máy hành chính cũng được cải tổ rõ rệt. Năm 1932 vua Bảo Đại cho xây dựng mới một tòa nhà theo kiến trúc kiểu Pháp hiện đại với 2 tầng đổ mái bằng nằm ở phía Bắc Tử Cấm thành làm trụ sở mới cho bộ máy văn phòng giúp việc của nhà vua. Đồng thời năm 1933 đổi tên Nội các, cơ quan do vua Minh Mệnh thành lập từ năm 1829 thành Ngự tiền văn phòng. Mặc dù đổi tên nhưng chức năng của Ngự tiền văn phòng gần như không thay đổi so với Nội các trước đây, vẫn là cơ quan giúp việc trực tiếp của nhà vua, luân chuyển, tàng trữ các văn thư quan trọng của triều đình, người đứng đầu đặt cho chức danh mới là Tổng lý Ngự tiền văn phòng.
Năm 1935 để phù hợp với xu thế mới, vua Bảo Đại cho đổi tên và thành lập mới một loạt các bộ trong hệ thống chính quyền An Nam như:
+ Bộ Học đổi tên thành Bộ Quốc gia Giáo dục (năm 1943 lại đổi thành Bộ Quốc dân Giáo dục, năm 1945 là Bộ Giáo dục Mỹ thuật);
+ Bộ Hộ bị xóa bỏ để thành lập mới các Bộ Kinh tế (năm 1943 đổi tên thành Bộ Kinh tế – Nông nghiệp) và Bộ Tài chính;
+ Bộ Công được đổi tên thành Bộ Công chánh giao thông;
+ Bộ Lễ bị xóa bỏ để thành lập mới Bộ Lễ – Công (năm 1943 đổi thành Bộ Lễ nghi Công tác);
+ Bộ Hình đổi tên thành Bộ Tư pháp;
+ Bộ Lại đổi tên thành Bộ Nội vụ.
Ngoài ra sau đó vua Bảo Đại còn thành lập thêm một số bộ mới như Bộ Thanh niên, Bộ Y tế cứu tế… trên cơ sở tách ra từ những bộ đã thành lập. Người đứng đầu các bộ theo cách gọi Nam triều là Thượng thư nhưng trong các văn bản tiếng Việt và tiếng Pháp được gọi là Bộ trưởng hoặc Ministe.
La Thụy sưu tầm và biên tập.