NGŨ GIÁP BÍCH LA QUÊ MÌNH
Ai về Triệu Phong quê hương Quảng trị
Làng cổ xưa rày Ngũ giáp Hoa An (1)
Năm thế kỷ rồi thuở họ hàng ta (2)
Rời Cẩm Duệ
xuôi buồm vào khẩn ấp
Nơi chúa Tiên định vương thành khởi nghiệp
Ái Tử , Cát Dinh lũy trấn biên cương
Từng đội binh hùng, lắm đạo ngoan cường
Đồng bao lớp thôn làng, Kiên(3) trấn giữ
Bích La quê lừng vang danh hào kiệt
Ngũ giáp chung lòng xây dựng non sông
Ruộng lúa trĩu oằn, vườn xanh mọng quả
Góp sức mình vì nghiệp chúa đàng trong
Bồi anh tài, rèn nhân đức vẫn như mong
Nào hổ thẹn cùng nòi tông nếp cội
Từng thế hệ theo gương người đi tới
Uy danh lừng rạng rỡ Ngũ giáp
Bích la quê …
Văn Thiên Tùng.
PS/ (1)& (2). Quan Chánh Chưởng Trung Tể có tên họ đầy đủ là “Lê Mậu Tài”, song ở Bích La thường gọi tên Ngài là“Lê Mậu Doãn”do tuớc của Ngài là “Doãn Lộc hầu”) cũng vì không muốn cộng tác với Mạc Đăng Dung, Ngài đã lĩnh mệnh vua vào cai quản xử Tân Bình –Thuận Hóa vùng đất biên cương phía Nam giáp giới Chiêm Thành lúc này còn là vùng đất bất an chưa được khai phá. Ngài cùng 14 hộ bộ tướng cùng bầu đoàn thê tử nam tiến, dọc đừong Ngài chiêu tập thêm lưu dân vào nam lập nghiệp. Đến năm 1527 Ngài chọn vùng đất xứ Hà Dương phía nam sông Thạch Hãn làm nơi định cư khai khẩn đất hoang lập nên ngôi làng đặt tên là xã Hoa An, thời Tây Sơn đổi tên Hoa La, đến đời vua Thiệu Trị đổi tên là Bích La có 4 giáp: Đông, Tây, Nam, Hậu. (nay thuộc xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị gồm các thôn Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam và thôn Nại Cửu). Dòng họ Lê ở Bích La gồm 4 nhánh: Lê Mậu, Lê Cảnh (Lê Công) Lê Văn (Lê Hửu) Lê Bá hiện có 4 nhà thờ họ riêng biệt. Lễ hội chợ Đình Bích La là dịp để dân làng tưởng nhớ công lao Khai khẩn tôn thần Doãn Lộc hầu (kỵ ngày 4 tháng Giêng) và 14 bộ tướng đi đầu mở mang cơ nghiệp làng Bích La thịnh vượng ngày nay.
(3). Trải qua gần 500 năm lịch sử, các doanh trại quân đội năm xưa đã chuyển hóa thành các đơn vị hành chính. Tên gọi của các đạo quân "Ngũ Kiên" đã biến thành tên làng, tên xã cổ vẫn còn tồn tại đến ngày nay tại khu vực quanh dinh trấn Ái Tử xưa (nay thuộc xã Triệu Giang và thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Khi Nguyễn Hoàng mới vào Quảng Trị, ông đóng dinh tại bãi cát Ái Tử (nay thuộc huyện Triệu Phong). Để xây dựng lực lượng, ổn định bờ cõi và mưu sự dài lâu, ông đã tổ chức quân đội thành 5 doanh (đạo quân) cốt lõi. Chữ Kiên (坚) mang ý nghĩa là kiên cố, vững chắc, thể hiện quyết tâm bảo vệ giang sơn. Tổ chức của Ngũ Kiên gồm : Trung Kiên ( Đội quân trung tâm) , tiền, hậu,tả, hữu kiên
Non nước Bích La- Đất anh linh có từ ngàn xưa- Đời sinh hào kiệt thời nào cũng có. Hoa La là đất văn Nho. ”lò đúc hiền tài- nôi sinh sĩ tử”. Dòng họ Lê ở Bích La gồm 4 nhánh: Lê Mậu, Lê Cảnh (Lê Công) Lê Văn (Lê Hửu) Lê Bá hiện có 4 nhà thờ họ riêng biệt. Mỗi nhánh họ Lê đều tự hào với những danh nhân nổi tiếng của dòng họ mình:
NGŨ GIÁP
BÍCH LA QUÊ MÌNH
Ai về Triệu Phong quê hương Quảng trị
Làng cổ xưa rày Ngũ giáp Hoa An (1)
Năm thế kỷ rồi thuở họ hàng ta (2)
Rời Cẩm Duệ xuôi buồm vào khẩn ấp
Nơi chúa Tiên định vương thành khởi nghiệp
Ái Tử , Cát Dinh lũy trấn biên cương
Từng đội binh hùng, lắm đạo ngoan cường
Đồng bao lớp thôn làng, Kiên(3) trấn giữ
Bích La quê lừng vang danh hào kiệt
Ngũ giáp chung lòng xây dựng non sông
Ruộng lúa trĩu oằn, vườn xanh mọng quả
Góp sức mình vì nghiệp chúa đàng trong
Bồi anh tài, rèn nhân đức vẫn như mong
Nào hổ thẹn cùng nòi tông nếp cội
Từng thế hệ theo gương người đi tới
Uy danh lừng rạng rỡ Ngũ giáp Bích la quê …
Văn Thiên Tùng.
4. Bài thơ “Ngũ Giáp Bích La Quê Mình” của tác giả Văn Thiên Tùng (Gemini) :
Là một bài tráng ca đậm chất sử thi, ngợi ca lịch sử mở cõi, truyền thống văn hóa và tinh thần kiên cường của vùng đất cổ Bích La (Triệu Phong, Quảng Trị). Với ngôn từ giàu nhịp điệu và hình ảnh, tác phẩm đã tái hiện trọn vẹn hành trình 500 năm hình thành và phát triển của một làng quê giàu truyền thống.
I. Giải nghĩa các chú thích trong bài thơ
(1) Ngũ giáp Hoa An: Làng Bích La (Triệu Phong, Quảng Trị) xưa kia được phân chia thành 5 giáp (Ngũ giáp), trong đó Hoa An (hay Bích La Đông/Bích La Nam...) là tên gọi gắn liền với các nhánh giáp, dòng họ cổ trong làng.
(2) Năm thế kỷ (500 năm): Nhắc đến mốc lịch sử di dân mở đất từ thế kỷ XVI (khoảng thế kỷ 15 - 16), khi các tiền hiền theo lời mời gọi khai hoảng di dời từ phía Bắc vào phương Nam.
(3) Kiên trấn giữ: Thể hiện tinh thần kiên cường với ngũ đạo quân binh gọi là ngũ kiên, trong đó một phận là ý chí sắt đá của quân và dân Bích La trong việc giữ gìn bờ cõi, bảo vệ thôn xóm qua bao biến động của lịch sử.
II. Phân tích chi tiết tác phẩm
1. Hành trình mở cõi và cội nguồn tổ tiên (4 câu đầu)
Ai về Triệu Phong quê hương Quảng trị
Làng cổ xưa rày Ngũ giáp Hoa An (1)
Năm thế kỷ rồi thuở họ hàng ta (2)
Rời Cẩm Duệ xuôi buồm vào khẩn ấp
Bài thơ mở đầu bằng lời mời gọi tha thiết "Ai về Triệu Phong..." – một điệu quen thuộc trong ca dao, dân ca. Tác giả ngược dòng thời gian về 5 thế kỷ trước, nhắc nhớ gốc tích tổ tiên từ xứ Cẩm Duệ (Hà Tĩnh) xuôi thuyền vào Nam. Hành trình "khẩn ấp" (khai hoảng, lập làng) không chỉ là sự di dân mà là cả một trang sử gian lao, quả cảm của các bậc tiền hiền.
2. Dấu ấn lịch sử thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (4 câu tiếp)
Nơi chúa Tiên định vương thành khởi nghiệp
Ái Tử , Cát Dinh lũy trấn biên cương
Từng đội binh hùng, lắm đạo ngoan cường
Đồng bao lớp thôn làng, Kiên (3) trấn giữ
Đoạn thơ gắn liền với sự kiện năm 1558, khi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa và đặt thủ phủ đầu tiên tại Ái Tử, Cát Dinh (thuộc Triệu Phong ngày nay): Đất Bích La trở thành "phên dậu", thành lũy bảo vệ mạn Nam. Hình ảnh "đội binh hùng" và "thôn làng cùng ngũ kiên trấn giữ" khắc họa mối liên kết chặt chẽ giữa quân và dân: nhân dân Ngũ giáp không chỉ làm nông nghiệp mà còn là những người lính ngoan cường giữ vững biên cương.
3. Thành quả lao động và đóng góp cho Đàng Trong (4 câu tiếp)
Bích La quê lừng vang danh hào kiệt
Ngũ giáp chung lòng xây dựng non sông
Ruộng lúa trĩu oằn, vườn xanh mọng quả
Góp sức mình vì nghiệp chúa đàng trong
Từ khói lửa chiến tranh, bức tranh quê hương chuyển sang gam màu của sự trù phú, bình yên: Khí thế đoàn kết: "Ngũ giáp chung lòng" khẳng định sức mạnh cộng đồng. Thành quả lao động: "Ruộng lúa trĩu oằn, vườn xanh mọng quả" thể hiện sự cần cù, chịu khó của người dân, biến vùng đất đai gian khó thành vựa lúa, vựa cây trái mặn mòi. Tất cả sự nỗ lực ấy đã góp phần củng cố tiềm lực cho Đàng Trong phát triển.
4. Lời nhắn gửi thế hệ sau về Đạo lý và Nhân đức (4 câu kết)
Bồi anh tài, rèn nhân đức vẫn như mong
Nào hổ thẹn cùng nòi tông nếp cội
Từng thế hệ theo gương người đi tới
Uy danh lừng rạng rỡ Ngũ giáp Bích la quê …
Khổ kết vang lên như một lời thệ nguyện và lời nhắc nhở hậu thế:
Truyền thống hiếu học & Đạo đức: "Bồi anh tài, rèn nhân đức" chính là triết lý sống của người Bích La. Nơi đây không chỉ sinh ra những anh hùng giữ nước mà còn nuôi dưỡng nhiều sĩ phu, nhà lãnh đạo kiệt xuất.
Niềm tự hào dân tộc: Nhắc nhớ con cháu sống sao cho "không hổ thẹn cùng nòi tông nếp cội", tiếp nối truyền thống của cha ông để giữ vững uy danh quê hương.
III. Đánh giá chung
- Về nội dung: Bài thơ là một bức tranh toàn cảnh về Bích La cổ trấn — từ cội nguồn di dân, vai trò lịch sử thời mở cõi, đến sức sống trù phú của làng quê và truyền thống nhân văn bền vững.
- Về nghệ thuật: Thể thơ tự do nhịp 8 chữ biến thể mang giai điệu hào hùng, đĩnh đạc; ngôn từ súc tích, vừa giàu tính lịch sử vừa thấm đượm tình quê tha thiết.
PS/* (1)& (2). Quan Chánh Chưởng Trung Tể có tên họ đầy đủ là “Lê Mậu Tài”, song ở Bích La thường gọi tên Ngài là“Lê Mậu Doãn”do tuớc của Ngài là “Doãn Lộc hầu”) cũng vì không muốn cộng tác với Mạc Đăng Dung, Ngài đã lĩnh mệnh vua vào cai quản xử Tân Bình –Thuận Hóa vùng đất biên cương phía Nam giáp giới Chiêm Thành lúc này còn là vùng đất bất an chưa được khai phá. Ngài cùng 14 hộ bộ tướng cùng bầu đoàn thê tử nam tiến, dọc đừong Ngài chiêu tập thêm lưu dân vào nam lập nghiệp. Đến năm 1527 Ngài chọn vùng đất xứ Hà Dương phía nam sông Thạch Hãn làm nơi định cư khai khẩn đất hoang lập nên ngôi làng đặt tên là xã Hoa An, thời Tây Sơn đổi tên Hoa La, đến đời vua Thiệu Trị đổi tên là Bích La có 4 giáp: Đông, Tây, Nam, Hậu. (nay thuộc xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị gồm các thôn Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam và thôn Nại Cửu). Dòng họ Lê ở Bích La gồm 4 nhánh: Lê Mậu, Lê Cảnh (Lê Công) Lê Văn (Lê Hữu) Lê Bá hiện có 4 nhà thờ họ riêng biệt. Lễ hội chợ Đình Bích La là dịp để dân làng tưởng nhớ công lao Khai khẩn tôn thần Doãn Lộc hầu (kỵ ngày 4 tháng Giêng) và 14 bộ tướng đi đầu mở mang cơ nghiệp làng Bích La thịnh vượng ngày nay.
(3). Trải qua gần 500 năm lịch sử, các doanh trại quân đội năm xưa đã chuyển hóa thành các đơn vị hành chính. Tên gọi của các đạo quân "Ngũ Kiên" đã biến thành tên làng, tên xã cổ vẫn còn tồn tại đến ngày nay tại khu vực quanh dinh trấn Ái Tử xưa (nay thuộc xã Triệu Giang và thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Khi Nguyễn Hoàng mới vào Quảng Trị, ông đóng dinh tại bãi cát Ái Tử (nay thuộc huyện Triệu Phong). Để xây dựng lực lượng, ổn định bờ cõi và mưu sự dài lâu, ông đã tổ chức quân đội thành 5 doanh (đạo quân) cốt lõi. Chữ Kiên (坚) mang ý nghĩa là kiên cố, vững chắc, thể hiện quyết tâm bảo vệ giang sơn. Tổ chức của Ngũ Kiên gồm : Trung Kiên ( Đội quân trung tâm) , tiền, hậu,tả, hữu kiên
Non nước Bích La- Đất anh linh có từ ngàn xưa- Đời sinh hào kiệt thời nào cũng có. Hoa La là đất văn Nho. ”lò đúc hiền tài- nôi sinh sĩ tử”. Dòng họ Lê ở Bích La gồm 4 nhánh: Lê Mậu, Lê Cảnh (Lê Công) Lê Văn (Lê Hửu) Lê Bá hiện có 4 nhà thờ họ riêng biệt. Mỗi nhánh họ Lê đều tự hào với những danh nhân nổi tiếng của dòng họ mình:
Nhạc phẩm NGŨ GIÁP BÍCH LA
QUÊ MÌNH
Nhạc: Nguyên Cẩm -Thơ : Văn Thiên Tùng
NGŨ GIÁP BÍCH LA
QUÊ MÌNH
Triệu Phong quê hương xứ Quảng,
Ngũ giáp Hoa An này làng cổ xưa,
Năm thế kỷ thuở họ hàng,
Rời Cẩm Duệ xuôi Nam vào khẩn ấp.
Chúa Tiên định vương khởi nghiệp,
Ái Tử, Cát Dinh lũy trấn biên cương
Binh hùng, lắm đạo ngoan cường,
Đồng bao lớp thôn làng, Kiên trấn giữ.
Bích La lừng danh hào kiệt
Ngũ giáp chung lòng xây dựng non sông,
Góp công nghiệp Chúa đàng trong
Ruộng lúa trĩu oằn, vườn xanh mọng quả.
Bồi anh tài, rèn nhân đức,
Nào hổ thẹn cùng nòi tông nếp cội
Thế hệ theo gương người đi tới
Uy danh rạng rỡ Ngũ giáp Bích la quê …
Điệp khúc: ….
- Lời thơ/ca từ trong nhạc phẩm “Ngũ Giáp Bích La Quê Mình”
(Nhạc: Nguyên Cẩm – Thơ: Văn Thiên Tùng) là một bức tranh âm hưởng hào hùng, thấm đượm tình yêu quê hương và niềm tự hào sâu sắc về lịch sử mở cõi của vùng đất Bích La (Triệu Phong, Quảng Trị).
1. Dấu ấn lịch sử và cội nguồn mở cõi :
Khổ thơ đầu tiên tái hiện lại hành trình di dân lịch sử của các thế hệ tiền nhân:
Triệu Phong quê hương xứ Quảng,
Ngũ giáp Hoa An này làng cổ xưa,
Năm thế kỷ thuở họ hàng ,
Rời Cẩm Duệ xuôi Nam vào khẩn ấp.
- Cội nguồn lịch sử: Làng Bích La có lịch sử hơn 500 năm. Các vị tiền hiền theo dòng người di dân từ Cẩm Duệ (Hà Tĩnh) đi về phía Nam để khai hoảng, lập ra các dòng họ và thôn xóm ven sông Thạch Hãn.
Cấu trúc "Ngũ giáp": Làng Bích La cổ truyền vốn được chia thành các giáp (như Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam, Bích La Bắc, Bích La Hậu/Hoa An...), tạo nên một cộng đồng đoàn kết, gắn bó chặt chẽ.
2. Gắn liền với trang sử mở móng cơ nghiệp Đàng Trong :
Chúa Tiên định vương khởi nghiệp,
Ái Tử, Cát Dinh lũy trấn biên cương
Binh hùng, lắm đạo ngoan cường,
Đồng bao lớp thôn làng, Kiên trấn giữ.
Năm 1558, khi Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) vào trấn thủ Thuận Hóa, ông đã chọn vùng đất Ái Tử, Cát Dinh (thuộc Triệu Phong ngày nay) để dựng thủ phủ đầu tiên.
Người dân Bích La và các làng xã xung quanh đã đồng lòng làm chỗ dựa vững chắc, cùng binh lính trấn giữ biên cương, đặt nền móng cho toàn bộ cơ nghiệp nhà Nguyễn ở Đàng Trong.
3. Bức tranh lao động và truyền thống "Địa linh nhân kiệt" :
Tác giả chuyển từ hào khí lịch sử sang khung cảnh trù phú, bình yên của làng quê:
Sức sống trù phú: "Ruộng lúa trĩu oằn, vườn xanh mọng quả" phản ánh thành quả lao động cần cù qua nhiều thế hệ, biến vùng đất đai gian khó thành xóm làng xanh tươi, no ấm.
Đạo lý & Nhân tài:
Cụm từ "Bồi anh tài, rèn nhân đức" nhấn mạnh truyền thống hiếu học và coi trọng đạo lý của làng Bích La. Nơi đây nổi tiếng là vùng đất sinh ra nhiều sĩ phu, danh nhân và nhà lãnh đạo kiệt xuất cho đất nước (tiêu biểu như Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn).
4. Âm hưởng chung của tác phẩm:
Bài thơ mang tính chất của một tráng ca làng quê — kết hợp hài hòa giữa chất sử thi (lịch sử mở cõi, dấu ấn Chúa Tiên) với chất dân ca trữ tình, ngợi ca đạo lý "uống nước nhớ nguồn" và lời nhắc nhở thế hệ sau tiếp nối truyền thống vẻ vang của quê hương Ngũ giáp Bích La.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét