Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2009

Ai quý hơn ai ?

Mẹ hay Vợ: Ai Quý Hơn Ai?
Mẹ và vợ ngã xuống sông cùng một lúc, nếu cứu mẹ thì vợ sẽ chết hoặc cứu vợ thì mẹ sẽ chết. Vậy nên cứu mẹ hay cứu vợ hoặc là không cứu cả hai?
MẠNH TỬ:
Bố chết từ khi còn nhỏ, mẹ nuôi nấng, dạy dỗ ta rất khó nhọc. Mẹ phải ba lần dọn nhà để tránh những ảnh hưởng xấu, dành món ngon cho ta ăn, mua áo đẹp cho ta mặc, tất cả là để cho ta có thể ngẩng cao đầu nhìn thiên hạ. Mẹ và vợ cùng ngã xuống sông, tất nhiên ta phải cứu mẹ rồi. Lấy chữ hiếu làm đầu, vợ chết thì lấy vợ khác, mẹ chết làm gì có mẹ nữa!
Trên thế gian này chỉ có Mẹ là tốt nhất. Không có mẹ, con trẻ như cỏ cây, biết bấu víu vào đâu? Mẹ! Con sẽ cứu mẹ! Mạnh tử nhảy ùm xuống sông.
CHU U VƯƠNG:
Vợ và mẹ cùng ngã xuống sông, tất nhiên là phải cứu vợ trước. Nghĩ lại ngày trước ta đùa giỡn với nàng, nhìn nàng cười, đến cả giang sơn lẫn sinh mạng nhỏ bé của ta cũng chẳng nghĩa lý gì, huống hồ là mẹ! Khi lập Thái tử, bà ấy còn định bỏ ta làm ta suýt mất cả ngôi báu.
"Tình cảm đằm thắm, ta yêu nàng rất nhiều, ta sẽ cứu nàng!" Chu U vương cũng nhảy ùm xuống sông.
LƯU BỊ:
Anh em như chân tay, vợ con như áo mặc; áo rách có thể vá, chân tay gãy không thể lành.. Chỉ cần Nhị đệ và Tam đệ của ta không ngã xuống sông là được, những kẻ khác ta không thèm để ý.
"Mẹ ơi! Nàng ơi! Các người chết thật thê thảm!" Lưu Bị đứng trên bờ sông khóc lớn.
TÀO THÁO:
Thà rằng ta phụ người chứ không để người phụ ta, mẹ ta hay vợ ta cũng thế thôi, chỉ cần ta không ngã xuống sông là được rồi.
"Ta nhẹ nhàng đi cũng như khi ta nhẹ nhàng đến, ta vẫy tay chào không một chút vấn vương." Tào Tháo vừa ngâm thơ vừa chầm chậm bước đi.
KHUẤT NGUYÊN:
Thế gian này u ám quá,triều đại này thật hủ bại! Sống cũng chẳng còn có ý nghĩa gì, chi bằng chết cho trong sạch. Song anh có thể rửa mặt và rửa chân cho ta.
Khoảng trời hiện tại là khoảng trời u ám, chẳng còn có thể nhìn tinh tú trên trời. Mẹ ơi! Nàng ơi! Ta cùng nhau chết ở nơi đây!" Khuất Nguyên vừa hát vừa từ từ nhảy xuống sông..
TRANG TỬ:
Sinh về đâu và chết sẽ về đâu? Mẹ và vợ ta chết cứ chết, chẳng qua chỉ là từ trạng thái hữu hình trở về trạng thái vô hình, có gì phải đau đớn, có gì phải xót thương? Chẳng cần phải cứu ai cả! Trang tử ngồi xuống, tay nắm một mảnh sành vừa gõ nhịp vừa hát, mắt nhìn mẹ và vợ chìm đần xuống sông, nét mặt mãn nguyện.
HOÀ THÂN :
Ai ngã xuống sông thì cứ ngã, cái ta yêu là tiền bạc. Tiền bạc là mẹ ta, là vợ ta. Sao trước khi ngã, các người không mặc ít quần áo thôi, điều đáng tiếc nữa là trâm vàng, khuyên bạc còn ở trên đầu các người.
"Có tiền là có tất cả!" Hoà Thân đứng trên bờ vùa nhìn mẹ và vợ dần dần chìm xuống sông vừa thở dài.
VƯƠNG BỘT:
Lòng bàn tay và mu bàn tay đều là thịt. Vợ là người ta yêu nhất, mẹ là người thân thiết nhất.. Vậy phải làm thế nào đây? Thôi cứ nhảy xuống sông, thấy ai ở gần thì cứu. Vương Bột vội nhảy ùm xuống sông.
"Chết rồi! Ta quên mất là ta cũng không biết bơi!" Vương Bột vẫy vùng một cách tuyệt vọng rồi từ từ chìm xuống sông.


LỜI BÀN :
1. Mạnh Tử: Thương mẹ hơn vợ thì chắc là lai………VIỆT NAM !
2.Chu U Vương: Yêu vợ nồng nàn nên chắc lai…….PHÁP QUỐC !!
3. Lưu Bị: Lo cho anh em đồng chí hơn gia đình là lai………...NGA SÔ (tinh thần quốc tế vô sản)
4.Tào Tháo: Thấy chết không cứu phớt tỉnh……….ĂNG LÊ (ENGLAND)!!
5. Khuất Nguyên: Tự sát chết theo là tinh thần võ sĩ đạo xứ Phù Tang (JAPAN)
6. Trang Tử: Giống Tào Tháo lai ………Anh Cát Lợi
7. Hòa Thân: Thực tế kiểu…………….MỸ !
8. Vương Bột: Không biết trời cao đất rộng nhắm mắt liều mạng thì là chính gốc………Tàu (CHINA)

Ngày xưa Hoàng Thị- PTT


"Ngày Xưa Hoàng Thị"

Phạm Thiên Thư và Ngày Xưa Hoàng Thị
Mặc Lâm,
“Anh trao vội vàng, chùm hoa mới nở…”đó là hình ảnh đầy sức sống của một thời niên thiếu mà ai trong chúng ta cũng đã từng qua. Thế nhưng đối với những ai tò mò thì tác giả bài thơ nổi tiếng này có thật là đã trao chùm hoa cho cô Ngọ để bài thơ trở thành nổi tiếng đến như thế hay không?
Vì Phạm thiên Thư, như chúng ta đều biết là một nhà sư, vậy bài Ngày Xưa Hoàng Thị được ông sáng tác từ bao giờ?
“Bài Ngày Xưa Hoàng Thị tôi viết trước khi đi tu. Khi tôi vào chùa rồi thì hình ảnh trên đường đi làm tôi nhớ lại kỷ niệm xưa. Nhớ lại hình ảnh của cô Ngọ, thời học trò ấy mà. Chẳng có tình yêu đâu chỉ là học trò vui vui thôi. Đó là lý do tại sao tôi viết bài đó.”
giọng ca Hiếu Thuận
http://www.youtube.com/watch?v=OzmrNCfTs1I&feature=related
Bài Ngày Xưa Hoàng Thị tôi viết trước khi đi tu. Khi tôi vào chùa rồi thì hình ảnh trên đường đi làm tôi nhớ lại kỷ niệm xưa. Nhớ lại hình ảnh của cô Ngọ, thời học trò ấy mà.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư
Phạm Thiên Thư vừa cho chúng ta biết một chút lý lịch của bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị, bài thơ này đã một thời gây sóng gió trong khuôn viên các trường Trung cũng như đại học tại Việt Nam vào đầu những năm bảy mươi. Nhạc sĩ Phạm Duy đã tinh tế khi chọn bài thơ này để phổ nhạc và sau đó hàng loạt bài khác của Phạm Thiên Thư liên tục chiếm lĩnh đài phát thanh Sài Gòn trong nhiều năm trời.

Ngày Xưa Hoàng Thị
 Giọng ca Thái Thanh
Trở lại với “Ngày Xưa Hoàng Thị”, tác phẩm đem người đọc tới với thơ Phạm Thiên Thư như chính tác giả thừa nhận. Âm hưởng vừa ngây thơ như thư sinh lại vừa thâm trầm như người tu thiền khiến bài thơ có nét độc đáo khác biệt vừa lãng mạn vừa uyên nhu, rất riêng tư nhưng không thiếu phần lôi cuốn. Hình ảnh người con trai âm thầm theo sau cô Ngọ mang nét đẹp của vụng dại, hồn nhiên khá tương phản với cái trầm tư của những từ kinh điển như “Áo Tà Nguyệt Bạch” hay “Ðời Như Biển Động” hoặc “Xóa Dấu Ngày Qua”. Bài thơ có những chi tiết rất đắt khi gợi lên hình ảnh chú chim non đang dấu mỏ dưới cội hoa vàng. Chú chim lén nhìn một cách thích thú gót chân chàng trai lẽo đẽo theo cô Ngọ trong một chiều tan trường với áo trắng đầy sân.
  Em tan trường về
Ðường mưa nho nhỏ
Chim non dấu mỏ
Dưới cội hoa vàng


Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài


Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng


Ðường chiều uá nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng ...


Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhòa mau


Tưởng đã phai màu
 Đường chiều hoa cỏ 


Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng dáng đỏ


Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu  

Chân theo tìm nhau
Còn là vang vọng
Ðời như biển động
Xóa dấu ngày qua


Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ
Bài thơ tuy nhắc lại một cách dịu dàng kỷ niệm thời xưa nhưng đã động lòng biết bao thế hệ sau đó. Những chàng trai thời a vòng hôm nay đâu thua gì thế hệ Phạm Thiên Thư bởi họ cũng đã và đang bâng khuâng chờ tiếng chuông tan trường để được xao xuyến theo sau gót chân những cô Ngọ thời nay. Mặc dù cô Ngọ của thế kỷ 21 không còn e ấp như xưa nhưng nét duyên muôn thuở của thời áo trắng dễ gì phai nhạt?
Phạm Thiên Thư tuy xuất hiện không lâu trên vòm trời văn học Việt Nam nhưng thơ của ông có những nét rất riêng và sự khác biệt chọn lọc đó đã được trả công từ người đọc lẫn người nghe thơ ông. “Ngày Xưa Hoàng Thị” tuy chỉ là một bài thơ phổ nhạc nhưng có sức thu hút lòng người một cách mạnh mẽ. Bốn mươi năm sau khi nghe lại bài thơ này người ta vẫn không khỏi ngạc nhiên tự hỏi sao lại có một bài thơ hay như thế? 


Mang Thiền vào Thơ
Phạm Thiên Thư có những bài thơ tình tuyệt vời mặc dù bản thân ông là một nhà tu. Điều gì đã dẫn ông tới bên bờ luyến ái khi từ tâm thức ông là đồ đệ chân chính của thiền môn?
Thật ra không phải lúc nào nhà thơ cũng theo đuổi tình yêu. Bên cạnh những lời thơ mang bóng sắc của cái ngã, Phạm Thiên Thư đã mang Thiền vào thơ của ông kể từ bài Động Hoa Vàng. Tác phẩm đã mở một hướng nhìn mới vào thế giới của tu trì và từ bên trong người theo gót thiền có cơ hội dàn trải những tình cảm trước thiên nhiên, cuộc sống trong đó không loại trừ tình yêu đôi lứa. Tình yêu trai gái trong thơ ông cũng nhuộm phần nào hơi hướm của tăng sòng và từ đó thơ ông trở nên tĩnh tại và sâu lắng hẳn.
“Sau khi vào chùa, thời gian đó cái tư tưởng của nhóm thầy Nhất Hạnh đưa ra gọi là tu sĩ mới ảnh hưởng. Tôi có ý làm sao mà tu theo hướng tinh thần mới, con người mới trong đó có cả thơ phú dưới hình thức Thiền. Đó là lý do tại sao tôi sáng tác thơ tình cảm có nhuốm chất Thiền. Thứ nhất tôi cũng là một người trong học hội Hồ Quý Ly từ năm 19 tuổi cho tới năm 23 tuổi thì tôi vào chùa. Tôi muốn làm sao sử dụng sức mạnh dân tộc vì theo gương Hồ Quý Ly, ông là một vị nghiên cứu chữ Nôm cho nên tôi đưa tinh thần dân tộc là làm sao tạo nét độc sáng cho thanh niên để vươn lên sức mạnh dân tộc qua bài thơ này, mỗi đoạn 4 câu chứa những nét của dân tộc.”
Động Hoa Vàng
Bốn trăm câu lục bát của bài Động Hoa Vàng mà Phạm Thiên Thư vừa nhắc tới như một bức tranh xuân trong đó ẩn chứa nhiều triết lý thú vị của cảm quan cuộc sống. Sự bừng nở thi tứ yêu đương trong suốt bài thơ làm hơi thơ trở thành sương sớm quyện trong chút nắng hừng ấm đầu xuân. Động Hoa Vàng có thể là nơi non cao, núi vắng nhưng cũng có thể là một xóm nhỏ nào đó giữa buổi chiều xuân im ắng hanh hao. Kẻ theo Thiền đạo có thể tin rằng mình vừa tìm được một lối nhỏ mong manh giữa cuộc trần dẫn đến sự thoát thai ý thức. Trong khi đó, người trần tục cũng không thể phớt lờ được từng ẩn dụ ý nhị lấp lánh phía sau mỗi câu thơ trong như suối ngàn và xanh như rừng thẳm.
Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm
 
Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
Cửa sương nhẹ mở âm vào
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca
 
Lên non cuốc sỏi trồng hoa
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
Vớt con cá nhỏ lòng đòng
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ
 
Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha
 
Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Thôi thì em chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi...
 
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa
 
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa
.................
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông 
......
Ðôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha
 
Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu 
....
Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương
Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng
Em Lễ Chùa Này
Phạm Thiên Thư cũng được biết tới qua một bài thơ khác mang tên “Em Lễ Chùa Này”. Bài thơ có dáng dấp của truyện kể dân gian. Thật ra theo nhà thơ thì câu chuyện này hoàn toàn có thật, ông kể:
… ông ấy nhớ lại tình cảm hồi xưa khi ông còn là chú tiểu thì ông ấy gặp một cô bé đi chùa, ông tiểu cứ đánh chuông cho cô ấy nghe và cuối năm thì cô ấy chết đi. Cảm động từ câu chuyện này tôi làm bài thơ “Em lễ chùa này”.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư
“Bài thơ này sáng tác theo lời một ông thầy khi ấy đã quá 50 tuổi rồi, ông ấy nhớ lại tình cảm hồi xưa khi ông còn là chú tiểu thì ông ấy gặp một cô bé đi chùa, ông tiểu cứ đánh chuông cho cô ấy nghe và cuối năm thì cô ấy chết đi. Cảm động từ câu chuyện này tôi làm bài thơ “Em lễ chùa này”.”
 
Đầu Mùa Xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này - vườn nắng tung bay
Và ngàn lau - vàng màu khép nép
Bãi sông bay - một con bướm đẹp
 
Tàn Mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa - Trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa - tơ óng như mây
 
Mộ của em - mộ vừa mới lấp
Có con chim - nào hót trên cây
Lời của chim - chìm vào tiếng suối
Suối xanh lơ - buồn khóc ai hoài
 
Rồi từ đây - vườn chùa thanh vắng
Đến thăm em - ngày tháng qua mau
Một nụ mai - vừa nở trong nắng
Hỡi em ơi - mây đã qua cầu
Đoạn Trường Vô Thanh
Phạm Thiên Thư cũng được biết đến nhiều qua tác phẩm “Đoạn Trường Vô Thanh” Tác phẩm này bị nhiều người cho là chạy đua với Nguyễn Du khi dùng cùng một thể thơ lục bát và tên gọi của tác phẩm. Sự thật ra sao chúng ta hãy nghe nhà thơ trần tình.
“Trong thời gian đó bên Trung Quốc có cuốn sách tựa là “Nguyễn Du Là Gì”. Cuốn sách nói rằng Nguyễn Du chỉ dịch của Trung Quốc, về văn chương không có gì độc sáng cả chỉ lấy từ Trung Quốc mà thôi. Tôi viết “Đoạn Trường Vô Thanh” nhằm nói về những nét độc đáo của dân tộc.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

Thông Minh tuyệt vời


THÔNG MINH TUYỆT VỜI


 Xin mời các bạn đọc để thấy sức thông minh phi-thường của em bé trai 6 tuổi …
Bé Tèo năm nay 6 tuổi nhưng đă học tiểu học đến lớp 5 . Học được một tuần thì bé Tèo chán học, không chịu làm bài vở nữa. Cô giáo bèn hỏi nguyên nhân tại sao thì bé Tèo nói là tại chương trình  học quá thấp so với trình độ của bé, và  bé Tèo xin cô cho lên học bậc trung học. Cô giáo dẫn bé Tèo lên văn phòng ông hiệu- trưởng, trình bày đầu đuôi câu chuyện.  Ông hiệu trưởng bán tín  bán nghi, bàn với cô giáo là ông sẽ hỏi bé Tèo một số câu hỏi về Khoa học còn cô giáo sẽ hỏi Tèo về kiến thức tổng quát, nếu  bé Tèo trả lời đúng ông sẽ cho bé Tèo nhảy lớp .
  Hiệu trưởng hỏi bé Tèo:
 25 lần 25 là bao nhiêu ?
  Bé Tèo : Dạ là 625
  Hiệu trưởng : Công thức tính diện tích vòng tṛòn ?
  Bé Tèo : Dạ là bình phương bán kính nhân Pi
  Hiệu trưởng : Nước bốc thành hơi khi nào ?
  Bé Tèo : Dạ khi nước sôi ở 100 độ C...

Sau gần 1 tiếng "tra tấn" bé Tèo, câu nào bé Tèo cũng đáp đúng hết,ông hiệu trưởng rất hài lòng về kiến thức khoa học của bé Tèo và giao cho cô  giáo hỏi về kiến thức tổng quát :

 Cô giáo : Con gì càng lớn càng nhỏ ?
 Ông hiệu trưởng nhíu mày suy nghĩ nhưng bé Tèo trả lời ngay
  Bé Tèo : Dạ là con cua nó có càng lớn và càng nhỏ
 Cô giáo : Cái gì trong  quần em có mà cô không có ?
 Ông hiệu trưởng xanh cả mặt
 Bé Tèo : Dạ là 2 cái túi quần
 Cô giáo : Ở nơi đâu lông của đàn bà quăn nhiều nhất ?
 Ông hiệu trưởng run lên
 Bé Tèo : Dạ ở Phi Châu
 Cô giáo : Cái gì cô có ở giữa 2 chân của cô ?
 Ông hiệu trưởng chết điếng người
 Bé Tèo : Dạ là cái đầu gối
 Cô giáo : Cái gì trong người của cô lúc nào cũng ẩm ướt ?
 Ông hiệu trưởng hốc mồm ra
 Bé Tèo : Dạ là cái lưỡi
 Cô giáo : Cái gì của cô còn nhỏ khi cô chưa có chồng và rộng lớn ra  khi cô lập gia đ́ình ?
Ông hiệu trưởng ra dấu không cho bé Tèo trả lời nhưng bé Tèo đáp ngay
Bé Tèo : Dạ là cái giường ngủ
Cô giáo : Cái gì mềm mềm nhưng khi vào tay cô một hồi thì́ cứng ra ?
Ông hiệu trưởng không dám nhìn cô giáo
Bé Tèo : Dạ là dầu sơn móng tay
Cô giáo : Cái gì dài dài như trái chuối, cô cầm một lúc nó chảy nước ra ?
Ông hiệu trưởng gần te xỉu
Bé Tèo : Dạ là  cây cà lem
Cô giáo: Đàn bà thích sờ cái gì nhất của ông chồng?
Ông hiệu trưởng tự bịt 2 lỗ tai              
Bé  Tèo: Đàn bà thích sờ cái pay check của ông chồng nhất
Ông hiệu trưởng đổ mồ hôi hột ra dấu  bảo cô giáo đừng hỏi nữa
 và nói với bé Tèo :
Thầy cho con lên thẳng đại học vì từ năy giờ thầy đáp không trúng được 1 câu nào cả.
Hi...Hi...Hi. .. ST



Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Độc Ẩm

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

Ý nghĩa của bàn phím ...

Nhìn lên bàn phím máy tính nào cũng vậy:

- Phím C luôn sát cánh bên phím V nghĩa là Chồng và Vợ luôn gắn bó và mãi mãi bên nhau.

-Ngay phía dưới phím A là phím Z, thế mà xưa nay ta cứ tưởng A và Z xa nhau lắm. Có nhiều thứ cũng nghĩ là khác nhau rõ ràng như A và Z… hóa ra khoảng cách cũng mong manh lắm.

- Phím S và phím D nằm cạnh bên nhau, trong cuộc sống sự phân biệt và khoảng cách giữa Đúng và Sai có bao giờ rõ ràng…
- Tại sao phím U luôn đứng cạnh phím I nhỉ ? Và ngay bên trái đó là 2 phím T và Y nữa ? Vì Tình yêu” của “U and I", đúng thế !


-Chú Phúc máy mó mần chi ba cái chuyện tầm phào.

-Bàn phím tiếng Mỹ : Q (trên) A (ngay dưới). Bàn phím tiếng Pháp : A và Q đổi chỗ cho nhau. Rứa là răng? A Q (anh cu) hay Q A (cu anh)hayhơn? 
-N và M (anh và em) bên nhau. Bàn phím tiếng Pháp : N ở lại một mình, M bị đưa đi nơi khác, thay vào sát đó là
phím ; có nghĩa N và M (Ngưu Lang Chức Nữ) bị ngăn cách, mãi mãi không hề được đoàn tụ.
(Lượm lặt từ email)

Thơ Từ đâu đến -NĐT

Một cựu HS Nguyễn Hoàng BBC giới thiệu. Nguyễn Đức Tùng, em Nguyễn Văn Dũng lớp 10C. mời đọc:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/2009/12/091201_thodentudau.shtml

Một cách tự hóa giải
Nguyễn Thụy Kha


Nhà thơ, nhạc sỹ
Bìa cuốn "Thơ từ đâu đến"
Tác giả Nguyễn Đức Tùng hiện sống tại Canada
Bước vào thiên niên kỷ mới, không ít nhà thơ vẫn còn quyến luyến với thời đại cũ, cũng không ít nhà thơ hoang mang trước ma thuật hậu hiện đại.
Chỉ có một số người can đảm dám khước từ những thói quen xưa, lặng lẽ trong việc tự làm mới mình, dù “chín muộn” thì cũng không chịu lưu ban cùng thế kỷ.
Chính giữa những ngổn ngang rối bời, những băn khoăn trăn trở ấy của thời đại chúng ta, có một nhà thơ, nhà phê bình, tự đặt câu hỏi cho mình và cũng cho tất cả chúng ta rằng “thơ đến từ đâu?”.
Sau đó, câu hỏi ấy đã được nhiều nhà thơ trong nước và hải ngoại tìm cách trả lời.
Người đặt câu hỏi là nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, hiện sống ở Canada.
Đấy là câu hỏi của muôn thuở, nhưng không phải ai cũng biết cách đánh thức nó dậy giữa một thời kỳ đầy biến động như hiện nay.
Theo tôi, Nguyễn Đức Tùng đã làm được điều đó một cách hữu hiệu.
Tập tiểu luận thực hiện bằng thủ pháp phỏng vấn tài hoa, dày dạn kinh nghiệm, mang tên “Thơ đến từ đâu” đã minh chứng cho sự hữu hiệu đó.
Thơ là một nghệ thuật có tính nhân loại, nhưng những người được phỏng vấn là những nhà thơ Việt, vậy tập tiểu luận này có bị khu biệt, bị “địa phương hóa” hay không?
Phỏng vấn các nhà thơ Việt
Câu trả lời của tôi là không.
Đã là nhà thơ thì ở đâu trên hành tinh này đều là nhà thơ cả, nhưng nhà thơ Việt lại là những kẻ phải gánh chịu thử thách cam go nhất của mấy thập kỷ chiến tranh mà dân tộc Việt phải đương đầu với những cường quốc. Và cả với đồng bào mình với nhau nữa.
Bởi vậy, có vẻ như những câu trả lời xuất phát từ đây sẽ nặng tính thuyết phục nhất. Nhưng sự thuyết phục cũng bắt đầu ở chính người đặt câu hỏi, vì những câu hỏi hay có khả năng gợi mở cao, tạo cảm hứng lớn cho những câu trả lời hay.
Những câu trả lời hay lại tạo cảm hứng ngược lại cho những câu hỏi tiếp theo. Trong các cuộc trò chuyện văn học vừa thân mật vừa căng thẳng như thế này, để gợi mở và tạo cảm hứng, người hỏi phải có một “phông” văn hóa thâm hậu, đặc biệt là văn hóa thơ , lại càng phải thâm hậu hơn nhiều lần.
Qua những phỏng vấn vừa nặng tính chất học thuật vừa đầy cảm xúc cá nhân, các nhà thơ trong nước có dịp hiểu kỹ hơn các nhà thơ hải ngoại và ngược lại. Khi các nhà thơ đã hiểu và cảm thông với nhau trên ý tưởng thơ, nghệ thuật thơ, thì có lẽ dân tộc chúng ta sẽ có một ngày, một cơ hội “hóa giải” cho chính mình.
Nguyễn Thụy Kha
Theo tôi, Nguyễn Đức Tùng thật sự là một người đang đặt ra cho thơ Việt những câu hỏi vừa hấp dẫn vừa khó khăn, một người phỏng vấn văn chương độc đáo đương thời.
Tôi gặp anh tại Sài Gòn tháng Tư 2007.
Rất ngạc nhiên vì vẻ thanh cao của anh sau cặp kính trắng, sau những bày tỏ nhã nhặn. Ngạc nhiên hơn khi tôi biết anh vẫn đang hành nghề bác sĩ, tốt nghiệp ngành cấp cứu ở Canada. Vậy là chàng thầy thuốc này phải yêu thơ lắm thì mới cả gan làm cái việc ngỡ như một “trò chơi vô tăm tích” (chữ của Phạm Thị Hoài) này.
Nhưng điều bất ngờ hơn nữa đối với tôi là anh vốn quê ở Quảng Trị. Và anh đã ra đi từ đó vào năm 1972 của “mùa hè đỏ lửa”.
Khi Nguyễn Đức Tùng rời quê hương cũng là khi tôi đến quê anh dấn thân vào “mùa hè đỏ lửa” này. Anh có một Quảng Trị từ ấu thơ cho đến 1972. Tôi lại có một Quảng Trị từ 1972 ác liệt, từ 1973, chống lấn chiếm. Và 1975 phục hồi trên những tro tàn đổ nát. Cho tới hôm nay.
Quảng Trị chính là giao điểm một vòng đời giữa tôi và Nguyễn Đức Tùng, tình thơ và tình bạn văn chương. Một đoạn đời mơ mộng của anh, nối một đoạn đời nhức nhối của tôi. Chuyện đi, chuyện lại kiểu gì rồi cũng quay về với sông Thạch Hãn, với trường Nguyễn Hoàng và những gì rất đỗi thân thương, bao kỷ niệm vui buồn không ngớt trở về gõ cửa tâm hồn.
Hình như, thơ đến từ đây chăng?
Mùa hè ấy, chúng tôi ôm nhau cười trên tòa nhà cao khách sạn Sài gòn, cười theo nắng tỏa xuống sông Sài Gòn, trôi theo những con tàu du lịch về mãi xa xăm, nơi tâm tưởng một mùa hè khác. Quả thật, Quảng Trị là ám ảnh của anh và tôi.
Song có lẽ, từ nỗi ám ảnh của “vết sẹo câm” này, chúng tôi bắt đầu nhìn rộng ra ám ảnh toàn cục của cuộc chiến tranh, ám ảnh trở về và ám ảnh ly tán sau chiến tranh. Cuối cùng, câu chuyện dẫn đến một mơ ước “ hóa giải dân tộc” trong một tương lai gần.
Ai cũng cảm thấy để “hóa giải” được cái thời dâu bể này, nghệ thuật, trong đó có thơ, thật quan trọng. Bởi vậy, câu hỏi “thơ đến từ đâu” theo tôi hình như cũng chứa đựng tinh thần “hóa giải” này.
Như thế, qua những phỏng vấn vừa nặng tính chất học thuật vừa đầy cảm xúc cá nhân, các nhà thơ trong nước có dịp hiểu kỹ hơn các nhà thơ hải ngoại và ngược lại.
Khi các nhà thơ đã hiểu và cảm thông với nhau trên ý tưởng thơ, nghệ thuật thơ, thì có lẽ dân tộc chúng ta sẽ có một ngày, một cơ hội “hóa giải” cho chính mình.
Chính vì ý tưởng ấy, tôi nghĩ rằng khi tác giả tìm đến với các nhà thơ khắp nơi, vốn là một công việc khó khăn do cách trở, thực hiện câu hỏi “thơ đến từ đâu”, cũng là một chuyện bắt nguồn sâu xa từ nhu cầu tự hóa giải trong tâm hồn mình. Là một bác sĩ, anh đã chữa lành cho nhiều người bệnh, nhưng để chữa lành vết thương của chính lòng mình, anh đã tìm đến với thơ, không những thế, đã tìm đến nguồn cội của thơ.
Tôi đã thầm chiêm ngưỡng Nguyễn Đức Tùng khi cùng anh ngồi nghe một canh “quan họ làng” ở Bắc Ninh, trong chuyến đi cùng Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đặng Mừng, Phạm Xuân Nguyên.
Những ối á, í à, “vang, rền, nền, này” của những giai điệu quan họ lãng mạn và đầm đìa chất thơ đã làm chàng thi sĩ xa xứ vừa lạ lùng, bỡ ngỡ, lại vừa bổi hổi yêu thương. Những câu ca làm mềm lòng kẻ viễn du, mây nổi. những chiếc nón quai thao và những giải lụa đào vừa che chở, vừa thắt buộc con người vào những tâm thức khác thường.
Trong những khoảnh khắc ấy, sao những con người Việt chúng ta thấy gần nhau quá đỗi, thấy là nhau, như nhau, không còn gì cách biệt như thể không bao giờ có muôn dặm địa lý, ngàn trùng lịch sử.
Hình như, thơ đến từ đây chăng?
Cuốn 'Thơ đến từ đâu' của Nguyễn Đức Tùng do Nhà xuất bản Lao Động ấn hành, ra mắt ngày 01/12/2009 tại Hà Nội.

các món ăn thức ăn kỵ nhau

BÀI THƠ VỀ CÁC MÓN ĂN KỊ NHAU
________________________________________
Mật ong, sữa, sữa đậu nành?
Ăn cùng tắc tử - phải đành xa nhau!


Gan lợn, giá, đậu nực cười?
Xào chung, mất sạch bổ tươi ban đầu!


Thịt gà, kinh giới kỵ nhau?
Ăn cùng một lúc, ngứa đầu phát điên!


Thịt dê, ngộ độc do đâu?
Chỉ vì dưa hấu, xen vào bữa ăn!


Ba ba ăn với dền, sam
Bụng đau quằn quại, khó toàn vẹn thân!


Động kinh, chứng bệnh rành rành?
Là do thịt lợn, rang chung ấu Tầu!


Chuối hột ăn với mật, đường?
Bụng phình, dạ trướng, dọc đường phân rơi!


Thịt gà, rau cải có câu?
Âm dương, khí huyết thoát vào hư vô!


Trứng vịt, lẫn tỏi, than ôi?
Ăn vào chắc chết, mười mươi rõ ràng!


Cải thìa, thịt chó xào vô?
Ăn vào, đi tả, hôn mê khôn lường!


Sữa bò, cam, quýt, bưởi, chanh?
Ăn cùng một lúc, liên thanh sấm rền!


Quả lê, thịt ngỗng thường thường?
Ăn vào cơ thể đùng đùng sốt cao!


Đường đen pha sữa đậu nành?
Đau bụng, tháo dạ, hoành hành suốt đêm!


Thịt rắn, kị củ cải xào?
Ăn vào, sao thoát lưỡi đao tử thần!


Nôn mửa, bụng dạ không yên?
Vì do hải sản ăn liền trái cây!


Cá chép, cam thảo, nhớ rằng?
Ăn chung, trúng độc, không cần hỏi tra!


Nước chè, thịt chó no say?
Thỉnh thoảng như thế, có ngày ung thư!


Chuối tiêu, môn, sọ phiền hà?
Ruột đau quằn quại, như là dao đâm!


Khoai lang, hồng, mận ăn vô?
Dạ dày viêm loét, tổn hư tá tràng!


Ai ơi, khi chưa dọn mâm?
Nhắc nhau nấu nướng, sai lầm hiểm nguy!


Giàu Vitamin C chớ có tham
Nấu cùng ốc, hến, cua, tôm, nghêu, sò!


Ăn gì? ăn với cái gì?
Là điều cần nhớ, nên ghi vào lòng!
Chẳng may ăn phải, vài giờ?
Chúng tạo chất độc bảng A chết người!
Quý nhau mời tiệc lẽ thường!
Thức ăn tương phản, trăm đường hại nhau!

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2009

Vừa trôi vừa nở-NĐM

LỤc bình mơ ưỚc
                        Nguyễn Đặng Mừng
   Lục bình trôi và sống. Hôm nào đó bị tấp vào bờ, vài ngày không có nước là khô đi rồi chết. Lê Đăng Châm bạn chúng  tôi ưa làm lục bình từ nhỏ, thích lang bạt kỳ hồ như những nhân vật  trong truyện kiếm hiệp. Lục bình trôi và nở hoa, không thèm cọng sinh như phong lan.  Lê Đăng Châm tốt với mọi người, không toan tính, thậm chí nhiều khi quên cả khó khăn của của gia đình.  Có  khi  tôi và Trị trách Châm thiếu trách nhiệm với vợ con, nhưng nghĩ lại vậy mới là Lê Đăng Châm. Vừa rồi Châm điện thoại bảo, mệt quá rồi, muốn dừng chân thôi. Không biết lục bình có chịu dừng chân chưa!


Năm 2001.  Nguyễn Văn Trị gọi điện báo vợ chồng Lê Đăng Châm gửi thiệp mời đám cưới cháu gái đầu Như Quý.  Thấy cái thiệp để địa chỉ là thị trấn Long Xuyên,định gửi ít tiền mừng cháu thôi. Làm sao bỏ công việc đi hàng trăm cây số về đám cưới con gái bạn. Đi về mất ít nhất 3 ngày. Đang lưỡng lự thì Trị gọi điện bảo, “Mi và tao phải đi. Châm cần quà cho cháu, nhưng cái nó cần hơn là tình bạn. Nó ở đó một mình không bạn bè, bà con. Liều đi một chuyến, có chi tau phụ cho”. Tôi  bảo với Trị, tau chỉ đủ tiền xe đò và quà biếu, còn lại mi lo. Nó nói tốt tốt, phải rứa chơ, 10 C mà. Phút cuối Trị bảo mi hên, có em bà con của Châm đi cùng chuyến, hẹn rồi.  Tôi nói mi hên, tau không hên, cho mi ngồi gần em của Châm đó.
Chuyến xe khởi hành khoảng 5g sáng. Em Châm xưng tên là chi đó lâu rồi tôi quên mất.  Và ăn nói rất … lạnh lùng. Một cách “phòng thủ từ xa của” “O”  phụ nữ Quảng Trị. Thế nên dù NVT ngồi gần cũng chẳng biết bắt chuyện chi cho đoạn đường ngắn lại.  Tôi lại hên, cạnh tôi có một em miền Tây lý lắc, có vẽ như đang sống ở Sài Gòn về thăm quê, sẵn sàng bắt chuyện và kể về Long Xuyên của cô ấy.  Cái gì trên lý thuyết cũng hay hơn thực tế, nhất là mình đến một xứ mà được giới thiệu từ người bản xứ. Qua câu chuyện của cô gái đất Long Xuyên thật ấn tượng. Cô ấy kết câu chuyện về quê của mình bằng tiếng thở dài. Cô bảo đó là chuyện xưa, nghe má kể. Còn chừ thì tôm cá cũng ít lắm anh à. Con gái ngày xưa dưới quê em  đẹp lắm, bây giờ cũng đẹp nhưng đứa nào đẹp là “lên đường”. Một là lấy Đài Loan hai là lên sài gòn “học nghề, mần nghề” hết trơn.
  Đoạn đường hơn hai trăm cây số về Long Xuyên, qua Bắc Vàm Cống. Lên bờ một đoạn đã thấy Châm ra đón. Tụi mình xin Châm cho về Khách Sạn tắm rửa, xong  chiều đến nhà Châm.  Châm bảo phải đến ngay cho cả nhà mừng rồi lên khách sạn cũng không muộn.  Ngồi trên chiếc xe lôi Châm chở lúc lắc qua nhiều hẻm, lội qua một đoạn đường ngập nước đất thì đến nhà.


Nhà châm, đúng hơn là căn chòi tuyềnh toàng bên bờ kênh. Châm kể mùa nước nỗi lên tới lút giường, dấu tích còn đóng váng trên vách ván.  Châm vui lắm, la toáng lên mời cả nhà ra chào hai bác từ Sài Gòn Dzìa Đám cưới chị Ba. Châm lăng quăng hết ôm Trị lại ôm tôi, bảo tưởng mấy bác không về. Dzậy là vzui rồi.
  Cô dâu ra chào, bảo sáng nay cháu mới dọn hàng ngoài chợ. Vì phải đủ hàng giao mối nên phải dậy từ khuya để nạo dừa.  Quý đưa hai bàn tay còn đen thẩm mủ dừa, bảo không tẩy được hai bác ạ. Thôi cứ mang găng tay vào chắc không ai để ý. Trị hỏi cháu chuẩn bị xong hết chưa, cháu bảo rồi nhưng mắt đượm buồn. Trị hỏi tới, cháu thích chi thì nói, trong khả năng bác có thể giúp được. Con bé rơm rơm nước mắt thưa: “Mọi chuyện đều ổn. Nhưng cháu mơ sao có được cái xe đưa dâu đến nhà hàng như người ta”. Trị hỏi bao nhiêu tiền. Quý bảo khoảng 600.000 đ.  Trị móc tiền ngay, bảo kêu gấp, kêu gấp xe để chở cháu tui đi lấy chồng.  Cả nhà cười vang.  Không khí nhà Châm rặt Nam bộ. Chân chất, thiệt lòng. Vậy là có xe, cô dâu cười rất trẻ thơ cùng mẹ đi trang điểm. 18 giờ đám cưới được tổ chức tại “nhà hàng” chi đó.
Chúng tôi rửa ráy qua loa rồi đi dọc đường xóm,  xem sinh hoạt vùng này ra sao.
Mới chưa tới 16 giờ mà hai bên đường đất thanh niên đã soạn bàn nhậu. Có vài cây đàn gỗ  cùng những câu ca nhừa nhựa khê nồng mùi rượu. Như Anh học lớp 8 dẫn chúng tôi “tham quan”,  Cháu bảo, mấy anh họ buồn nên chiều nào cũng nhậu. Hỏi buồn chuyện chi. Thì buồn nhiều chuyện, như chuyện con gái xóm ni đứa mô trên mười sáu tuổi là lên thành phố, về cô nào cũng sang trọng, đẹp ra, trắng ra. Mấy anh này không chừng ở quá hết thôi bác nợ.  Năm ngoái có anh nhớ người yêu lên Sài Gòn thăm, bị đánh một trận về nằm mấy tháng không đi mần ruộng nỗi. Nghe kể, tôi và Trị nghĩ gia đình bạn mình còn may, còn giữ  được  nền nếp, dù ở nơi không biết nương tựa vào ai. Số phận bạn chúng tôi, Lê Đăng Châm và gia đình có thoát khỏi cái trò đời khắt nghiệt này không, nếu cứ khổ cực mãi thế này. Châm thì vô tư, trong lúc đôi mắt vợ buồn bã chịu đựng. Không biết còn trụ  được bao năm nữa. Hai đứa đầu thất học, anh cả đi bộ đội về thất nghiệp, Quý phụ mẹ bán mua nay đã lấy chồng.  Dù vậy gia đình châm vẫn  sống được tử tế giữa một môi trường bao điều quyến rủ. Hai đứa cuối, Như Anh lớp 8, Cu Út lớp sáu có còn tiếp tục học được mấy năm…
   Lê Đăng Châm vẫn như ngày xưa, ồn ào, phóng túng, thương quý và luôn bảo vệ bạn. Hồi học lớp 10C có lần Thái Hoàng Nguyên, anh chàng hiền như con gái , con Thầy Thái Mộng Hùng bị đám nào đó bắt nạt cho bỏ cái “thói học siêng ít nói”, tỏ ra “khinh người”. Châm nghe thế bèn đi gặp cho bằng được đám nào dám đụng vào lớp mình. Có lúc dám mang cả súng Carbin báng xếp vô lớp dấu dưới học bàn để đối phó với đối phương đông người hơn. Vậy là thay vì được bảo vệ, Thái Hoàng Nguyên cùng nhóm tôi phải năn nỉ mới xong. Những lần đánh lộn, châm thường bắt con gái, nhất là B H, cô bé hiền nhất lớp phải có nhiệm vụ giữ dép, sách vở để Châm “xông trận”. Thật tình hồi đó tôi không thiện cảm với Châm mấy vì cái tính trẻ con và hiếu động. Vậy mà con gái trong lớp đứa nào cũng quý Châm, có đứa còn “cảm tình đặc biệt”.
Hè năm 72 chúng tôi chia tay đứa một đàng, không có với nhau một lời tạm biệt. Con trai phần nhiều đi lính, Châm cũng thế.  Ra trường Châm chọn miền Tây, nơi đồng bằng miệt vườn ngày xưa chúng tôi từng mơ ước một lần đến. Sau mấy năm học tập cải tạo, Châm chọn miền Tây. Ngỡ rằng nơi vựa lúa, cá tôm đầy đồng sẽ cho mình cuộc sống tươi đẹp, ai ngờ.
Công việc của Châm không rõ tên, theo lời vợ Châm, anh đi tối ngày, lúc nào cũng có công việc nhưng tiền chẳng thấy đâu. Châm kể việc anh ta làm nhiều lắm, từ đạp xe lôi đến việc có chân trong nhóm đạo tỳ khi có đám ma. Có lúc Châm đưa người bệnh từ Long Xuyên lên Sài Gòn chửa bệnh hàng tháng, ở lại nuôi bệnh nhân như người nhà. Cũng có lần anh đi tìm hài cốt bạn chết lúc ở tù đưa về tận quê Đà Nẵng, đến cả Quảng Trị. Những lần như vậy thân nhân cũng có cho ít tiền, nhưng Châm chỉ lấy đủ tiền xe tiền ăn uống dọc đường thôi.


Tôi hỏi bé Như Anh, con có sợ ba không. Nó bảo rất sợ, yêu và kính trọng ba. Ba bảo đứa mô hư là ba giết liền, rồi ba biểu diễn vài thế võ đe dọa, cháu sợ ba lắm. Cháu mong sao học thật giỏi để tụi cháu cất được cái nhà. Con bé học lớp 8 đã có những suy nghĩ chúng tôi không ngờ.
Mấy năm trước nghe nói có hồ sơ HR gì đó, tôi có nhắn Châm đủ điều kiện không, Châm bảo giấy tờ mất hết rồi. Lại nói, thôi kệ, đời mình ri cũng được rồi, qua Mỹ biết đâu lại khổ cách khác.
Chúng tôi trở về nhà chuẩn bị đi đám cưới theo “họ nhà gái”. Ngoài chiếc xe đưa cô dâu chú rễ ai có chi đi nấy.  Từ xe đạp lôi đến xe ôm xe đạp. Miền quê có những điều dân thành phố phải học là họ đi đám rất đúng giờ. Cô dâu chú rễ xuống xe là đã có bà con hai họ vỗ tay tán thưởng. Châm kiếm đâu ra bộ cánh cũng tươm tất, vui vẽ bắt tay mọi người. Đến đâu Châm cũng bắt chúng tôi theo, còn khoe đây là “nhà báo” và “giám đốc công ty lớn” trên Thành phố về. Bắt đầu tôi ngượng lắm, sau vài ly mới hòa đồng được.  Chúng tôi được dự một đám cưới thật tưng bừng.
Khoảng 20 giờ thì tan tiệc. Trị bảo hết tiền rồi, ba giờ sáng xe chạy, thuê khách sạn chi cho tốn. Còn bao nhiêu mình về nhà lì xì cô dâu, chỉ để lại tiền xe và ăn sáng thôi.
  Xóm bờ kênh về đêm vắng, nước mom mem bờ. Chúng tôi đi bộ về nhà. Điều ngạc nhiên là thấy cả cô dâu chú rễ. Hỏi ra mới biết là nhà chú rễ cũng chẳng hơn gì nên xin …ở rễ luôn.
Vậy là trong căn nhà vài chục mét vuông, được một phòng ưu tiên cho đôi tân hôn, còn chúng tôi ngồi uống rượu và thức chờ sáng.  Tôi hỏi Châm có nước tắm không, hắn bảo ra đây. Trong “phòng tắm” bằng lá dừa vây quanh, Châm lấy gàu múc lên từ phía dưới mấy gàu  bảo, mày tắm trước rồi đến thằng Trị.  Mùi nước phèn chua lét, tôi chỉ dám dội ngang cổ xuống. Châm bảo ở đây rứa hết, tất cả nước dùng, vệ sinh tắm rửa đều từ con “ kinh trời cho” này. Kể cả nước thải cũng xuống đấy nốt, thật tiện! Châm đùa giọng Bắc.
  Cả nhà ngồi giữa sàn. Cô dâu chú rễ cũng ra ngồi chung. Còn bao nhiêu đồ lấy từ nhà hàng về bày một tô tạp xà lù tha hồ nhậu. Rượu đế làm chúng tôi thấm say. Trị đùa, “ Hôm nay có Thầy Mừng về đây, nhờ thầy coi cho cô dâu chú rễ một quẻ về sự nghiệp tương lai của các cháu, xem có hanh thông không, trăm sự nhờ Thầy”. Tay Trị này đùa ác, tui có biết bói biếc chi mô, lỡ rồi đành phải ngồi thẳng dậy dù mắt mũi đã kèm nhem vì rượu.
  Bàn tay cô dâu rụt rè đưa ra trước, đen xỉn mũ dừa. Tôi chỉ thấy loáng thoáng mấy đường chỉ tay không biết mô là đường tình duyên, mạng đạo tâm đạo trí đạo nữa…  cũng ráng nhướng mắt lên ra chiều “thầy” lắm, rồi phán: “ Nói chung (lại nói chung) cuộc đời cháu tiền vận có khó khăn nhưng vài năm nữa sẽ hanh thông thôi. Hai đứa hạp tuổi (dù tôi không biết các cháu tuổi gì) nên lấy nhau sẽ sinh con đẻ cái…hanh thông. (Chết cha, chúc kiểu này đẻ ra nhiều lấy chi nuôi). Nhưng thôi, chỉ nên sinh một hoặc hai cháu để đủ sức nuôi con đàng hoàng hơn.  Không nhớ “thầy ‘ còn nói những gì nữa mà cả nhà im lặng ra chiều xúc động. Cô dâu và chú rễ đứng lên bùi ngùi cám ơn, cúi đầu chào rồi xin phép đi đâu một chút.
Tưởng hai cháu đi đâu, hóa ra chúng đi gọi bạn, là những đứa cùng trang lứa tới chật nhà để …coi bói. Tôi “làm thầy” đến sau 12 giờ đêm mới hết “khách”. Có người tôi bói sai bét khiến cả nhà cười vang, nhưng chẳng ai trách “ông thầy”
Tôi gẫm ra một điều, nơi đây con người nhẹ dạ, cả tin và rất dễ tha thứ. Một vùng đất mà ai đến cũng vị tình không dứt đi được. Châm, bạn chúng tôi cũng thế chăng.
  Châm và Như Anh tiễn chúng tôi ra xe lúc 4 giờ sáng. Hai cha giụi đầu vào vai chúng tôi mà khóc. Chúng tôi chỉ biết khuyên câu “đời có khúc”, như bao lời khuyên cho có, với bạn mình, một đời trôi dạt như lục bình ở đất Phương Nam này. Và cũng biết nở hoa. Tôi lại nhớ câu thơ ai đó: “Hoa vừa đi vừa nở”.
   Đã tám năm rồi. Như Anh sắp ra trường, Út Nam cũng vừa đậu vào cao đẳng. Hàng năm hội CHSNH cũng có dành một suất học bỗng cho Như Anh. Thỉnh thoảng lớp chúng tôi cũng có giúp đỡ, nhưng các cháu tự lập là chính. Lớp chúng tôi thuộc thế hệ học hành dỡ dang, ở tù cũng về sớm nên có ai đi HO, xuất ngoại đâu. Mấy o thì cũng rứa. Có được Bác Trị và O Bích Hường khá giả chút nên việc chi trong lớp cũng “nai lưng” ra. Buồn thiệt.