Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

Văn Thiên Tường-T.sử -tác giả các bài ...

Văn Thiên Tường (文天祥, 6/6/1236-9/1/1283)
Hình ảnh
#1
Văn Thiên Tường (文天祥, 6/6/1236-9/1/1283) là thừa tướng nhà Nam Tống, một thi sĩ nổi tiếng và là anh hùng dân tộc của Trung Quốc

Xuất thân:
Văn Thiên Tường ban đầu có tên Vân Tôn (雲孫), tự Thiên Tường (天祥), sau đổi thành Tống Thụy (宋瑞) và có tự là Lí Thiện (履善), hiệu Văn Sơn (文山). Ông xuất thân từ Cát Châu Lô Lăng (吉州廬陵), bây giờ là huyện Cát An, tỉnh Giang Tây). Lúc còn nhỏ, Văn Thiên Tường chăm học, đọc nhiều sách, ông thích nhất là những câu chuyện nói về "Trung thần nghĩa sĩ". Tư tưởng yêu nước đã ăn sâu vào tâm hồn ông. Năm 1253, đời vua Tống Lý Tông, Văn Thiên Tường 17 tuổi, tham gia kỳ thi Hương ở Lô Lăng, tên đậu đầu bảng. Lúc đứng trước tượng Âu Dương Tu, ông đã nói : "Sau này tôi chết đi, nếu không được như ông, mọi người tưởng nhớ, thì tôi không phải là bậc đại trượng phu".

Đường công danh:
Năm 1255, ông cùng em là Văn Bích tham gia kỳ thi Tiến sĩ và cả hai đều có tên trúng cử. Vào ngày công bố người trúng tuyển, Văn Thiên Tường đứng đầu trên 601 người đậu Tiến sỹ rồi ông được mang danh trạng nguyên, thì ông được tin cha chết. Hai anh em phải trở về quê hương khi chưa kịp nhận chức tước. Mãi đến năm 1259, Văn Thiên Tường mới được bổ nhiệm Công sự phán quan, một chức quan xử kiện. Khi quân nhà Nguyên tràn vào đất Tống, ông ứng "chiếu Cần Vương" dưới cờ vua Tống Cung Đế.

Năm 1275, ông được cử làm Hữu Thừa tướng, Khu mật sứ, Đô đốc thống quản quân mã. Vào tháng 8 năm đó, chẳng may Văn Thiên Tường bị thua trận ở Lô Lăng, may có người cứu thoát. Vợ là phu nhân Âu Dương, con trai thứ là Phật Sinh, hai con gái là Liễu Nương và Hoàn Nương đều bị quân Nguyên bắt giam. Công cuộc kháng chiến chống Nguyên không thành và ông bị quân Nguyên bắt đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay).

Năm 1278, mẹ ông và người con trai đầu mới 13 tuổi bị bệnh qua đời khiến ông vô cùng đau buồn. Triều đình phong cho ông làm Thiếu bảo, Tín Quốc công thi hành chủ trương tiến bộ. Trong thời gian ở Lâm An, tình thế quẫn bách, triều đình đã cử ông đến đại bản doanh Thừa tướng triều Nguyên là Bá Nhan đàm phán cầu hàng. Vua Nguyên thấy ông là người có tài và có khí tiết định giam giữ dụ hàng. Khi Bá Nhan lấy cái chết đe doạ, ông đã khảng khái nói :"Tôi hiện đang là Tể tướng triều Tống, chỉ lấy cái chết để đền nợ nước, nếu lấy gươm đao dọa nạt, chẳng làm gì được đâu". Bá Nhan đã giữ ông lại và quyết định giải ông về Đại Đô (nay là Bắc Kinh).

Tiết khí:
Vào cuối năm 1277, ông đã trốn thoát khi đang trên đường bị cưỡng bức lên phương Bắc ra mắt Nguyên Thế Tổ - Hốt Tất Liệt. Sau đó một thời gian, vào một buổi trưa tháng 12, Văn Thiên Tường đã xuất quân từ Hải Phong lên phía bắc, khi đi qua một quãng đường hẹp đã bị quân phục kích, rơi vào bẫy, không kịp trở tay và bị quân Nguyên bắt sống. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này quân Nguyên canh phòng ông nghiêm mật. Nhiều lần Văn Thiên Tường đã tìm cách trốn nhưng vô hiệu.

Một thời gian sau, bị nhà Nguyên tấn công cả hai phía Nam và Bắc, nhà Tống đã bị thất thủ. Thừa tướng triều Tống Lục Tú Phu cõng vị hoàng đế hãy còn ít tuổi nhảy xuống biển tuẫn tiết. Chiến tranh kết thúc, quân Nguyên bày yến tiệc để mừng công, Văn Thiên Tường cũng được mời đến. Trương Huyền Phạm, đô đốc quân thủy nhà Nguyên đã nói với ông:

"Hiện nay, triều Tống đã mất, trung hiếu của ông cũng hết rồi. Thừa tướng có thể thay đổi ý kiến được không, làm việc cho triều Nguyên, mà Tể tướng triều Nguyên không phải là ông thì ai vào đó?"
Ông đã khảng khái trả lời:

"Nước mất không thể cứu được, làm quan đại thần thì tội quả đáng chết, lẽ nào còn tham sinh sợ chết, phản bội Tổ quốc được?"
Trên đường giải từ Quảng Châu lên Đại Đô, thời tiết khắc nghiệt, mưa gió tầm tã, Văn Tường bị xích giải đi. Ông đã từng tuyệt thực, nhịn đói, nhịn khát, muốn lấy cái chết để phản kháng, có lúc ông lại tìm cách trốn thoát, nhưng tất cả đều vô hiệu, vì quân Nguyên canh phòng nghiêm mật. Những lúc đó ông lại làm thơ gửi gắm tâm hồn, ý nguyện. Triều Nguyên muốn lợi dụng ông để lung lạc nhân tâm, hòa hoãn ý chí chống Nguyên của nhân dân Giang Nam nhưng vẫn không mua chuộc được ông. Triều Nguyên đã cho Lưu Mộng Viêm là Thừa tướng triều Tống đã hàng đến dụ hàng Văn Thiên Tường. Vừa trông thấy Lưu Mộng Viêm, Văn Thiên Tường lòng bốc giận, mắng rủa thậm tệ. Tiếp theo triều đình nhà Nguyên đưa Hoàng đế lưu vong của Nam Tống mới 9 tuổi đến khuyên ông đầu hàng. Văn Thiên Tường trông thấy vua cũ, tuy không thóa mạ, nhưng lạnh nhạt nói : "Xin thánh giá hồi cung".

Vào một ngày tháng 5, triều đình nhà Nguyên lại cho người dẫn Văn Bích, em trai ông đã đầu hàng giặc đến khuyên ông nên hàng, Văn Thiên Tường kiên quyết: "Anh em một người là tù, một người cưỡi ngựa, cùng cha mẹ nhưng không đội một trời". Năm 1283, ông bị đưa đến Kim Loan điện để gặp Hốt Tất Liệt. Ông đứng sừng sững, bị lính đánh đến gãy xương, vẫn không chịu quỳ. Hốt Tất Liệt đề nghị ông theo nhà Nguyên, sẽ phong ông làm Thừa tướng nhưng ông không chấp nhận. Triều đình nhà Nguyên dày vò thân xác ông nhưng không nổi, cuối cùng đã dùng mẹo "tình cốt nhục" buộc con gái ông là Liêu Nương hiện đang bị chúng bắt giữ viết thư cho ông. Đến lúc này ông mới biết khi thua trận vợ và con ông cũng bị bắt luôn.

Sau ba năm thấy không thể khuất phục được ông, vua Nguyên hết cách bèn đem ông giết nhưng vẫn khen là "chân nam tử". Ông chết lúc mới 47 tuổi.

Khi hậu táng Văn Thiên Tường, mọi người đã phát hiện có một tờ giấy quấn quanh đai lưng của thi thể ông, tờ giấy đã được viết thay cho lời trăn trối:

"Chức vụ tôi là Tể tướng, mà không cứu được xã tắc, ổn định thiên hạ, quân bại nước nhục, tội đáng chết từ lâu. Từ ngày bị bắt đến nay, không làm điều gì gian dối. Ngày nay cơ sự thế này, xin hướng về phương Nam lạy trăm lạy. Xin được nói: Khổng Tử nói muốn có nhân đức phải giữ nghĩa, tôi giữ nghĩa đến cùng nên có nhân. Đọc sách thánh hiền, học được chuyện gì? Ngày nay, ngày sau khỏi hổ thẹn. Tống thừa tướng Văn Thiên Tường tuyệt bút".
Văn Thiên Tường tuy chết, nhưng phẩm chất đạo đức cao thượng của ông mãi mãi để cho người đời sau kính ngưỡng. Ông cùng với Lục Tú Phu và Trương Thế Kiệt được sử Tàu gọi là "Tống vong tam kiệt" (ba bậc hào kiệt lúc nhà Tống mất).

Văn chương:
Văn Thiên Tường còn là một nhà thơ, nhà văn. Văn chương ông có lời lẽ khảng khái, hào hùng của kẻ sĩ trong thời nước nhà lâm nạn. Khí tiết của Văn Thiên Tường ảnh hưởng rất nhiều đến sĩ phu đời sau. Hai câu thơ:

人生自古誰無死
留取丹心照汗青
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh

Xưa nay hỏi có ai không chết?
Hãy để lòng son chiếu sử xanh

đã được Nguyễn Công Trứ dùng trong bài hát nói "Chí Nam Nhi" nổi tiếng của mình:

Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
Đã chắc ai rằng nhục rằng vinh
Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ
Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái trận cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo,
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu

Đây là bài gốc có câu này của Văn Thiên Tường:

Quá Linh Đinh Dương

Tân khổ tao phùng khởi nhứt kinh,
Can qua liêu lạc tứ châu tinh.
Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ,
Thân thế phù trầm vũ đả bình.
Hoàng Khủng than đầu thuyết hoàng khủng,
Linh Đinh dương lý thán linh đinh.
Nhân sanh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.

Qua biển Lênh Đênh

Cay đắng do từ một sách kinh
Bốn năm quạnh quẽ cảnh đao binh
Bông tung gió: vỡ tan sông núi
Gió đập bèo: chìm nổi kiếp mình
Ghềnh Sợ Hãi kể niềm sợ hãi
Biển Lênh Đênh than nỗi lênh đênh
Xưa nay hỏi có ai không chết
Hãy để lòng son chiếu sử xanh

Bài "Chính khí ca" cũng là một tác phẩm hết sức nổi tiếng của ông, được Văn Thiên Tường làm khi đang ở trong nhà tù của quân Nguyên.

Chính khí ca

Thiên địa hữu chính khí
Tạp nhiên phú lưu hình
Hạ tắc vi hà nhạc
Thượng tắc vi nhật tinh
Ư nhân viết "hạo nhiên"
Bái hồ tắc thương minh
Hoàng lộ đương thanh di
Hàm hòa thổ minh đình
Thời cùng tiết nãi hiện
Nhất nhất thùy đan thanh
Tại Tề thái sử giản
Tại tấn Đổng Hồ bút
Tại Tần Chu Hợi truỳ
Tại Hán Tô Vũ tiết
Vi Nghiêm tướng quân đầu
Vi Kê thị trung huyết
Vi Trương Thư Dương xỉ
Vi Nhan Thường Sơn thiệt
Thanh tháo lệ băng tuyết
Hoặc vi Xuất Sư Biểu
Quỉ thần khấp tráng liệt
Hoặc vi độ giang tiếp
Khẳng khái thôn hồ yết
Hoặc vi kích tặc hốt
Nghịch thụ đầu phá liệt
Thị khí sở bàng bạc
Lẫm liệt vạn cổ tồn
Đương kỳ quán nhật nguyệt
Sinh tử an túc luân
Địa duy lại dĩ lập
Thiên trụ lại dĩ tồn
Tam cương thực hệ mệnh
Đạo nghĩa vi chi căn
Ta dư cấu dương cửu
Lệ dã thực bất lực
Sở tù anh kỳ quan
Truyện xa tống cùng bắc
Đỉnh hoạch cam như di
Cầu chi bất khả đắc
Âm phòng niết quỉ hỏa
Xuân viện bí thiên hắc
Ngưu ký đồng nhất tạo
Kê thê phụng hoàng thực
Nhất triêu mông vụ lộ
Phân tác câu trung tích
Như thử tái hàn thử
Bách lệ tự tích dịch
Ai tai tự như trường
Vi ngã an lạc quốc
Khởi hữu tha cù xảo
Âm dương bất năng tặc
Cố thử cảnh thảm bại
Ngưỡng thị phù vân bạch
Du du ngã tâm bi
Thương thiên hạt hữu cực
Triết nhân nhật dĩ viễn
Điển hình tại túc tích
Phong diêm triển thư độc
Cổ đạo chiếu nhan sắc

Bài ca chính khí

Trời đất có chính khí
Tỏa ra cho muôn loài
Là sông núi dưới đất
Là trăng sao trên trời
Đầy rẫy cả vũ trụ
Khí hạo nhiên của người
Gặp cảnh đời bình trị
Triều thịnh vang lời vui
Khi cùng, tiết tháo rõ
Sử xanh ghi đời đời.
Ở Tề, sách Thái Sử
Ở Tấn, bút Đổng Hồ
Ở Tần, chùy Bác Lãng
Ở Hán, cờ họ Tô
Đầu Nghiêm thách trước giặc
Máu Kê trên áo vua
Răng Trương công chửi địch
Lưỡi Kiều Khanh mắng thù.
Hoặc là mũ Liêu Đông
Vẻ băng tuyết phau phau
Hoặc là biểu "Ra quân"
Lẫm liệt quỷ thần sầu
Hoặc qua sông gõ nhịp
Khảng khái nuốt quân Hồ
Hoặc giật hốt đánh giắc
Phường tiếm nghịch toang đầu.
Khi ấy tràn ngập tới
Oai nghiêm muôn thuở còn
Khi đã vượt nhật nguyệt
Sống thác chuyện con con!
Khuôn đất nhờ đó vững
Cột trời nhờ đó còn
Ba giường được gìn giữ
Đạo nghĩa có gốc nguồn.
Xót ta gặp vận ách
Tướng sĩ thực hèn nhát
Dải mũ buộc thân tù
Xe chở lên cực bắc
Ninh nấu cũng cam lòng
Còn để ta mong mãi
Phòng sâu ma lập lòe
Viện xuân thành ngục tối!
Ngựa giỏi nhốt cùng trâu
Chuồng gà, phượng nhặt thóc
Thân này khi gió sương
Đành rãnh ngòi lăn lóc
Thế mà hai năm qua
Tránh xa bao khí độc
Thương ôi! Chỗ lội lầm!
Lại sống yên tối sớm
Phải đâu khôn khéo gì
Âm dương không dám phạm
Vằng vặc tấm cô trung
Ngẩng nhìn mây trắng nổi
Buồn thay! Nỗi lòng ta
Trời xanh cao vời vợi!
Thánh hiền khuất lâu rồi
Khuôn phép vẫn không mất
Hiên gió mở sách coi
Gương xưa soi trước mặt.

Tất cả các bài của tác giả Văn Thiên Tường (文天祥, 6/6/1236-9/1/1283):

Chính khí ca (Văn Thiên Tường - 文天祥, Trung Quốc) - Đường thi Trung Quốc - Apr 18, 2011

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

Người bình dân QT đối đáp dân ca- V.Quang

Tài trí người bình dân 

qua đối đáp dân ca     

Văn Quang
Có thể nói rằng về thể loại dân ca của các miền đất nước, Hò đối đáp là nét độc đáo tiêu biểu cho người và đất quê hương Quảng Trị. Qua hò đối đáp, người bình dân bày tỏ và trao đổi tâm tư tình cảm, thể hiện tài trí của mình về cả hai mặt nội dung  tư tưởng và nghệ thuật diễn đạt. các phép tu từ mà ngày nay chúng ta đang dạy cho học sinh trong nhà trường và các nhà văn, nhà thơ sử dụng trau chuốt, làm đẹp  tác phẩm của  mình đều được các  các nghệ sĩ vô danh ngày trước thể hiện trong các tác phẩm của họ một cách tài tình, độc đáo đến bất ngờ. Dân Quảng Trị chất phác, lời lẽ mộc mạc đơn sơ, nhưng đã dụng công trau  chuốt thì khó mà chê được.
Hò giã gạo và hò mái nhì là những làn điều thường được dùng để đấu trí, thi tài; nhưng phổ biến nhất vẫn là hò giã gạo, bởi vì nó có nhịp điệu nhanh, khoẻ, dễ gây  không khí hoá hức , sôi nổi. để có thể đối đáp xứng hợp, kịp thời, đòi hỏi người nghệ sĩ  dân gian phải có một vốn kiến thức nhất định và đặc biệt là tài ứng đối mau lẹ, sít sao. Đầu óc họ phải hết sức tinh tế, nhanh nhạy mới có khả năng vừa phân tích, tổng hợp tình ý đối phương, vừa sáng tác  kịp thời lời lẽ đáp lại làm sao cho cân xứng, lấn  lướt được đối phương càng tốt. hò đối đáp có thể  mang những nội dung khác nhau : Đối đáp ân tình, đấu trí, thi tài về việc đời, triết lý cuộc sống, kiến thức văn học nghệ thuật, địa lý, lịch sử …
Trước đây  những đêm hò là những buổi hội ngộ của những đôi trai gái  và nhân dân trong làng  ngoài xã. Họ vừa là lao động vừa sinh hoạt văn nghệ. Mỗi lần có câu hò hay khán giả vỗ tay  reo hò và có quan viên, chức sắc đánh trống chầu để tán thưởng. trong sinh hoạt  văn nghệ dân gian này không loại trừ sự góp mặt của các ông nghè, ông Tú thất cơ lỡ vận về sinh sống ở nông thôn. Họ có thể trực tiếp tham gia hoặc tham gia cố vấn cho các chàng trai, cô giá mối khi họ cần đến. nhờ vậy mà tầm hiểu biết của người bình dân cũng rộng hơn.
1. Hò ĐỐI đáp ân tình:
Trong lối hò này đôi trai gái trao đổi tình cảm với nhau nhưng  đối đáp thế nào cho xứng, thể hiện được tài trí của mình. Có khi cả hai bên đều dùng tình ý, lời lẽ thật với nhau, nhưng thường là có tính cách mỉa mai, châm chọc.
* Hai bên đối đáp thật thà về lời, nhưng ngụ ý mỉa mai:
Trai làng ở quá cũng đông
Có sao em bậu lấy chồng đàng xa?
ở làng cũng có người thương
số em đáng số lấy chồng tha hương mới thành
Dù câu hỏi của người con trai có  vẻ thật thà, nhưng ít nhiều cũng có ngụ ý là cô gái ế chồng, trai làng không ai thèm dòm tới ! nên dùng lười lẽ  bóng gió xa xôi:
gặp em đây hỏi thiệt em đây
sông sâu, sông cạn, đò đầy, đò lưng?
Trong câu hỏi chàng trai đã sử dụng thể ti, phép ẩn dụ để biểu đạt tình ý của mình: Sông  và đò ám chỉ người con gái…
Cô gái đã đáp lại thật sắc sảo:
Sông này cửa khẩu chưa khai
Thuyền đang đậu bến, chưa ai mà lưng đầy
* Dùng cách đơn giản mà chơi chữ, thủ pháp nghệ thuật dễ chơi xỏ đối phương:
Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh
Biết đưa anh có đến bên kênh ghềnh  hay không?
Người con trai phải hiểu từ ẩn dụ Chiếc thuyền quyên” “ Gềnh” là gì mới đáp xứng được.
Và đây, ta thử nghe anh đáp lại:
Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh
Anh dựng cột buồm dậy chạy hai canh là đến bờ!
“ Dựng cột buồm” là cách nói ẩn dụ rất đắc ý ở đây.
Ta thử  nghe thêm  vài câu người con gái hò châm chọc:
Càng ngày càng nới dây lưng
Thương anh trong dạ không biết chừng dội mô!
Thương thì thật là thương nhưng xỏ lá đáo để ”Thương anh trong dạ” là cách chơi chữ tài tình để nói rằng: Em đang mang thai anh trong bụng !
Người con trai không nhận thấy xỏ lá ấy thì chỉ đành chịu nhục trước gái thuyền quyên!
Nhưng anh đáp lại còn già giặn hơn:
Bắt lấy dây lưng xin em đừng vội nói
Thiếp còn ân ái chi chi
Thầy mẹ sinh em là phận nữ nhi
Sao không thương thầy  với mẹ, nghĩa chi thương chàng
Ý anh bảo con gái “ Người em thương trong dạ là thầy mẹ em”
Có khi cô gái còn nổi đến cả cha mẹ đối phương:
Kể từ này em đẻ, mẹ ra
Anh không lui tới, thiệt là vô tâm
Cách chơi chữ rất tài tình : Em đẻ mẹ ra” có thể hiểu là khi em sinh ra con thì mẹ anh ra thăm, nhưng ở đây cô nói liền mạch thì có nghĩa là Em đẻ mẹ anh ra”
Đến lượt các chàng trai châm chọc thì cũng chẳng vừa chi:
Ôi thôi rồi đứa con tui hắn chết ngay đơ!
Cửa xa nhà ngái, chôn nhờ đất em
Con tui chết ngay đơ” nghe rất tội mà xỏ lá vô cùng. Nhưng cô gái nào có chịu lép vế:
Đất em sâm sẩm ổ gà
Chôn cha cũng lọt huống là chôn con
Đòi chôn cả cha đứa con ấy vào đất em thì xấc đáo để
Chàng con trai cũng có thể hỏi bóng gió:
Chuông vàng đánh tiếng kêu rè
Hay là thợ đúc chế hàn the vô rồi?
Ý nói cô gái đã lang chạ, không còn trinh tiết. ta có ngờ cô gái đáp lại già giặn như sau không?
Chuông treo trước cửa Cần Chánh
Ai dám vô mà đánh chuông rè
Anh nghiêng tai, cúi trôốc  mà nghe
Chuông vàng thanh tiếng, anh chê rè là răng?
Ý cô gái bảo em cao sang như chuông vàng treo trước cửa điện Cần Chánh của Vua, anh dốt nát nói bậy chứ không ai dám đụng vào em đâu! Không tin thì anh nghiêng tai, cúi đầu mà nghe.
Ngay trong lối hò đối đáp ân tình, người bình dân cũng đã sử dụng cách nói lái rất độc đáo ở Quảng Trị. Nói  lái là một nghệ thuật chơi chữ để khi đảo các âm của từ thì tạo thành nghĩa mới. cách nói lái thường giúp cho lời nói đỡ thô tục.
ở Làng Bồ Bản xã Triệu Trạch có một ông Nghè hay chữ rất sành hò, tục gọi là cậu Ba, ông Nghè Ba. Một hôm ông hò ân tình với một cô gái ở vùng Gio linh. Ông than thở trách móc:
Trời mưa , trời gió, vác đó ra đơm
Chạy vô ăn cơm, chạy ra mất đó
nào ai lấy đó, đó ơi
đố không phân đi, nói lại đôi lời cho đây hay?
Cậu Ba có ngờ đâu cô gái gái nhanh nhẩu và xấc xược đáp liền
Nỏ  có ai  như cậu Ba làng Bồ
Đó treo côi trại, không biết chỗ mô mà tìm!
“ Đó treo côi trại” theo thổ âm Quảng Trị  khi nói lái lại rất tục. ông Nghè hiểu ngay cô gái chơi xỏ mình nhưng đành chịu nhịn và phục tài.
2. Hò Đấu Trí :
Trong lối hò này, đôi trai giá đã vận dụng hết tài năng để thi thố  kiến thức về nhiều mặt của cuộc sống. thủ pháp nghệ thuật cũng rất điêu luyện, bảo đảm vần điệu, tiết tấu của thể thơ lục bát và các biến thể của nó. Đôi khi pha giọng ân tình, nhưng đó chỉ là một thách thức thử tài.
* Đối đáp châm chọc :
Ô hô  đòi Ngô thế lọng
Tui chửi cụ một điều, trọng vọng chỉ không?
Cái gáo úp côi cái đội
O chửi tui một điều, tui trọi chết cha O
Tuy lời lẽ hỏi và đáp lại còn thô tục nhưng ý khá đạt: O mới đòi chửi tui thì tui vưuà chửi cha O vừa trọi  chết cha O!
Thường các cô gái dùng lười lẽ bóng bẩy, sử dụng phép tu từ bắt đối phương phải vắt Óc suy nghĩ cho ra cái  ngụ ý của mình:
Nước trong khe chảy ra róc rách ro re
Thân anh như con bìm bịp ngồi nghe sự tình!
Nước trong khe” là cách nói bóng gió, anh là con bìm bịp ngồi dưới khe để nghe sự tình của nước trong khe ấy chảy thật là xấc. nhưng chàng trai còn xỏ lá hơn:
Nước trong khe chảy ra róc rách ro re
Anh đây cúng hứng lấy vài ghè
Để khi mụ gia qua thăm rể nấu đọi nước chè uống chơi
Anh chàng đòi nấu nước trong khe ấy cho mẹ cô giá uống
Có cô gái lên giọng kẻ cả :
Tay cầm bảy tấc roi mây
Ai muốn tầm sư học đạo, tới thầy dạy cho
Chàng trai giả đò tỏ vẻ ngoan ngoãn:
Đó làm thầy, đây xin   thủ  đạo làm trò
Đó ngả nghiêng ra mài mực, đây thò bút vô
Ý xấc láo ở đây là cách lái của hai từ “ thủ đạo” và cách nói ẩn dụ của “ ngã nghiên”, “ thò bút”.
* Đối đáp về kiến thức địa lý:
Nước Tam sơn chảy xuống Ba Hà: hà Thanh, Hà Thượng, Hà Trung
Nam nhơn chàng đối đặng, thiếp mới đành lòng thương !
- Đáp :
Nước Tứ Hải Hải xao lên bốn thuỷ: Thuỷ khê, Thuỷ Tú, Thuỷ Bạn, Thuỷ Cần
Nam nhơn đà đối đặng, thiếp phải  gá nghĩa châu trần ngàn năm
Cách chơi chữ thật tuyệt đẹp: Tam sơn, Ba Hà, Tứ Hải, Bốn Thuỷ
* Thách đối bằng cách dùng nghệ thuật nói lái ở Quảng Trị:
Con cá dối nằm trên cối đá
Con mèo cụt nằm trên mút kèo
Trai nam nhơn đối đặng , thiếp xin theo về cung
- Đáp :
Con rắn hổ nằm trên rổ hắn
Cây cau tươi mọc trước cưới tau
Nam nhơn đà đối đặng, ta theo nhau cùng về
* Thách đối dựa theo cách gọi tên phi lí của đồ vật:
- Hỏi :
Bánh cả mâm sao gọi là bánh ít?
Trầu cả chợ sao gọi trầu không?
Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi
Chàng trai kia chẳng thua kém chút nào:
Chuối không qua Tây sao gọi là chuối sứ
Cây không biết chữ răng lại gọi cây thông?
Nam nhơn chừ đối đặng quyết làm chồng nữ nhi!
* Dùng tên bốn mùa để thách đối :
Con giá Xuân đi chợ mùa Hạ
Mua con cá Thu chạy về, chợ hãy còn Đông
Răng biết em là giá chưa chồng
Mà anh chỉ sá băng đồng tới đây?
Chàng trai đã dùng tên 4 phương để đối lại thật sắc sảo:
Trai phương Nam ra ngồi hàng thuốc Bắc
Gái Đông sang ra dựa chốn lầu Tây
Ông tơ  bó buộc, xe dây
Xui anh đáo tới chốn này gặp em
Trong hò đấu trí  có lối hò đố rất xấc xương xóc. Thường là các cô gái nêu những vấn đề hóc búa để thử tài đấng mày râu. Nhưng đã mang danh trượng phu các chàng trai luôn tỏ ra đủ tài ba, bản lĩnh.
* Đố về đạo lý  làm người , tam cương, ngũ thường:
Quân, sư, phụ: Tam cang giả
Qua chuyến đò đầy, sóng ngã cứu ai?
Câu hỏi đặt chàng trai vào thế lúng túng khó xử. nhưng a chàng sau đây đáp ba cách khác nhau mà cách nào  nghe cũng lọt tai không bắt bẻ được:
Vua băng đi, có triều đình hiệp nghị
Thất sư thiên hạ tầm sự
Không có thân phụ, ai ừ được ho ?
Anh chàng này lý luận là dù cha là bậc thấp nhất trong Tam cương nhưng anh phảicứu  cha vì không ai thay cha mình được cả!
Liều mình lọt xuống vực sâu
Hai vai sư, phụ trên đầu đế vương
Anh này nói thiên lôi nhưng  vẹn cả trung lẫn hiếu.
Ngộ phong vũ, điếc óc , đoãng tai
Liều mình vọt xuống quơ quơ, túm túm may ai nấy nhờ
Anh này nói cho qua chuyện nhưng nghe ra rất thực tế, chẳng mất lòng ai
* Đố về lịch sử:
Tiếng đồn anh học hết Kinh  Thi
Ngày xưa vua Văn Vương đi cưới  bà Hậu Phi hôm nào?
Hỏi về lịch sử Việt Nam còn điều biết điều không.
Cô gái hỏi đến tích xưa chuyện cũ của Tàu thì thật là tai ác! Nhưng chàng trai vẫn tỏ ra thông thạo đáp:
Bà Hậu Phi đi hái rau Quyền nhỉ
Lên ngồi năn nỉ trên hòn đá Trương Kỳ
Vua Văn Vương đi săn bắn, gặp bà Hậu Phi đem về.
Ý anh nói : Chẳng cưới xin gì cả, em đừng hỏi bậy!
* Đố về triết lý :
Gặp trượng phu hỏi thiệt trượng phu
Tiên sinh mi răng mi đoản, hậu sinh tu răng , tu trường?
May ra trời biết nói mà trả lười được!
Thế mà chàng trai vẫn dùng phép nguỵ biện để đáp lại, không những thế anh còn đối trả:
Mi sinh tiền là thiên sinh đoản
Hậu sinh tu trường là huyết hoá sửa sinh
Thế cái răng sinh sau cái lưỡi mà răng rụng trước, hỏi mình là nghĩa chi?
* Đố cách viết  và nghĩa của chữ Hán để ngụ  một ý sâu xa hơn:
Hai ngang ba phết, em học không hết em lại hỏi anh
Từ tỉnh Nghệ cho đến kinh Thành
Từ Gia Định cho đến kinh Thành
Quan sầu, dân thảm, hỏi anh chữ gì ?
Hai ngang , ba sổ ( phết) viết thành chữ thất.
ý cô gái nói Thất thủ kinh đô huế thời Pháp thuộc.
Hai ngang ba phết , kết lại chữ thất
Anh đây buồn tình cất một phết bên vai
Kẻ ấy là ai ?
Thiếp mà nói đặng mới  gọi rằng tài nữ nhi!
Chữ Thất mà cất một phết bên vai  còn lại chữ phu nghĩa là chồng. đáp được rồi anh chàng đồi làm chồng cô ả. Chữ nghĩa tài trí là thế . Có phải người bình dân là “ Dân ngu khu đen” cả đâu! Người ta bảo ?:
Kinh đô cũng có người rồ
Man di cũng có sinh đồ Trạng nguyên
Thật quả không ngoa.
Biết bao giờ sưu tầm hết được những câu hò đối đáp tài tình trên quê hương Quảng Trị! Tuy nhiên qua bài viết này , tôi nghĩ các bạn thưởng  thức, cảm nhận được phần nào tài trí, chất văn học thể hiện qua các tác phẩm của họ. chúng  là nguồn tư liệu quý giá cho những ai mê thích dân ca, những ai muốn học tập, nghiên cứu để làm phong phú cuộc đời mình , làm đẹp tác phẩm văn học của mình  ./.
Văn Quang 1996
Tải Blog  20.5.2010

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2012

Không như thời tóc chỏm-VTT

KHÔNG  NHƯ THỜI TÓC CHỎM
Văn Thiên Tùng

Rời khỏi ghế trường tiểu học là nổi mừng thoát qua cấp học.  Bước vào Trung học đệ nhất cấp thế nào chưa biết được. Đường đến trường chắc hẳn dài hơn, phương tiện đương thời không có gì hơn ngoài việc “cuốc bộ”, với một ngôi trường thầy cô, bạn bè xa lạ…
Những suy nghĩ miên man cứ lẩn quẩn trong đầu óc mình là ‘lạ hoắc”. Ước mơ trở thành  một học sinh trường  tỉnh“Trung học Nguyễn Hoàng” cũng là một ước mơ không chỉ riêng mình mà còn mong muốn của  cha mẹ và các anh chị nữa. Với   trường này mỗi năm chỉ có 200 học sinh được lọt vào. 

QUÊ HƯƠNG TRONG TÔI

Còn 1 tháng nữa đến kỳ thi 24/6/1966. Thời gian rút ngắn dần, trong nổi lo và chờ đợi; ngày thi cận kề… Những công việc  ở làng quê lúc này nông vụ rất bận rộn, vừa thu hoạch mùa vụ “rơm, tóc”…; vụ “trái” liền kề nào gieo mạ cho lúa cấy, cuốc đất cày ải cho ruộng “vại” . Ngoài ôn thi những học sinh vùng quê như mình còn phải ra đồng giúp việc nông như giúp ‘Cha’ dắt trâu cày bừa, phải đạp nước “dội’ đưa vào “ruộng phở”* . Do tháng này gió Lào thổi mạnh nên  nước bốc hơi nhanh, người chia năm xẻ bảy; ngoài đạp nước, nông dân còn đi tỉa dặm, cào cỏ lúa cấy; người thì dùng liềm bứt gốc rạ phơi khô để từng đống sau đó bó, gánh  về nhà xây thành đụn cao, gọi là “đụn rơm’dùng làm chất đốt , cho trâu nằm và ăn khi  mùa rét đến; ruộng vại sau khi dọn hết gốc rạ, còn phải đốt sạch sẽ những gì còn lại trên thửa ruộng, cuối cùng mới dùng cuốc, cuốc đất khô lên phơi “rang”…
Hình ảnh  trên cánh đồng ruộng trẻ già, trai gái đều tập trung ra đồng dưới cái nắng như chảo lửa vào đầu tháng sáu, những chiếc áo tơi kết bằng lá, tuy nặng nhưng rất mát, loại áo này nhưng gia đình khá giả mới mua được. Ông cha ta có câu “ Mưa tháng sáu là máu con rồng”; hiếm hoi lắm mới có được cơn mưa tháng 6. Năm nào tháng 6 có mưa xem như năm đó được mùa; ở nhà lũ trẻ còn nhỏ  phân công nhau đi cào lá tre, hoặc tước những mo măng hoặc lá chuối hay cỏ khô để đun bếp, các chị lớn hơn  nấu cơm cấy, cơm cày với thức ăn bằng những con cá đồng béo ngậy, những mụt măng tre giáo, tre già nấu với thịt vịt đồng hay gà sẵn có; những món ăn dân dã mang tính quê nhà,  không thể thiếu trong  lúc mùa vụ; lũ nhỏ phân công nhau hoặc đun lửa, quyét sân, quyét đường, khiêng nước từ cái giếng miệu ở đầu xóm. Cứ mỗi trong các làng đều có một ngôi miếu đầu làng và nơi đó có đào một cái giếng bằng đất,  hầu hết giếng đất không có thành xây cao lên,  giếngnày dùng cho cả xóm gọi là giếng xóm; nên múc nước thường hay bị hỏng chân  té xuống giếng, chuyện đó thường khi vẫn xảy ra…

Lúc này, trên những cánh đồng “ruộng Vại” nhưng cục đất cày to tướng, “lô nhô lũng nhũng” được những người nông dân cuốc ải phơi khô, chờ  cơn mưa đầu mùa tưới xuống là có thể dùng “vồ” đập mịn, cùng trâu bừa “Bộng” chà cho mịn từ 6 đến 6 “tép”,   cục đất nào chưa mịn hẳn  phải dùng vồ đập lại; nếu có nhiều cỏ và đất cục  xen kẻ vào nhau hay nằm sâu dước đất, phải dùng “bừa răng” kéo chải đến khi nào sạch cỏ, rạ và đất cục về một góc giường mới gieo giống xuống. Tùy theo loại đất cát, thịt hay cát pha thịt để  chọn giống“Chăm hoặc Dọn, Ngự, De hay,Hẻo…’. Sau khi gieo xong, những  hạt lúa giống  nhỏ nhoi này  chờ  đợi số phận rủi may từ trời, nếu có những cơn NGOI, hoặc một ít  mưa NGÂU vào mỗi sáng,  điều này báo hiệu cho mùa lúa vại bắt đầu . Những cơn mưa từ phía bên kia dãy Trường Sơn,  gió mang mưa về, những hạt mưa mong  manh  tạo ẩm ướt  đủ để  kích thích  hạt giống nẩy mần vươn dậy, ruộng vại từ khô cằn  giờ thấy cả một màu xanh mềm mại…” Chớp Đông nhay nháy gà gáy thì  mưa”. Đây là thời điểm bên Lào có mưa lụt thì bên này gió giảm dần cường độ  mang theo hơi nước gọi là “ gió Nam động”..


Thời gian ôn tập đâu vào đó; chỉ còn 4 ngày nữa đến ngày thi; như định mệnh đã định sẵn,  mình chỉ té một cái nhẹ xuống đất, cánh tay phải bị gãy xương mèn;  cuộc chạy đua vào  ngôi trường tỉnh  tan theo số phận; sang năm hết tuổi tuyển sinh rồi.
Bạn bè cũ tung tăng vào năm học mới,  trường mới; còn tôi cặm cụi học lại để sang năm  thi vào trường huyện vì hết tuổi; với  2 trường quận Triệu Phong hay Hải Lăng. Hải Lăng tuy gần, Triệu Phong xa hơn nhưng được đi qua Tỉnh lỵ Quảng Trị; được tiếp cận nơi phố xá đông người, lại có nhiều sinh hoạt mới lạ và đặc biệt có anh trai đang học lớp tá viên điều dưỡng  tại Bệnh viện tỉnh chở đi, đón về  cũng rút ngắn  được một quảng đường
Cả  nhà vô cùng mừng rỡ khi được tin mình đã  trúng tuyển vào trường Trung học Triệu Phong. Tuy rằng trường huyện nhưng là trường công lập, không đóng tiền nhiều như trường tư thục; bằng cấp có giá trị hơn;  giờ cần chuẩn bị những gì khi vào cuộc hành trình này…Trên đoạn trường hơn 8km vận động bằng đôi chân, trên đường đi có bị dọa  nạt không? Thời tiết mỗi mùa mỗi khác biệt; mùa mưa ngày ngắn, đêm dài trời mau tối ; lụt ngập đường, nếu trễ chuyến đò từ chùa Tỉnh Hội về  Sãi  tất nhiên trễ học; mùa rét mưa rền đường đất bùn sục…Tính ra vận tốc đi bộ trung bình mới chỉ 4,8km /giờ; mình cao 1,5m phải mất gần 2 tiếng đồng hồ mới cuốc bộ đến trường...  
Những năm học ở bậc Tiểu học gần nhà, nên ít đi xa! giờ đang tuổi 14 đi bộ như vậy là quá sức tưởng tượng; nhất là về mùa mưa bão, hoặc giá rét ngày ngắn đêm dài. Nổi mừng chẳng mấy, nổi lo thì nhiều; bạn bè trong lớp có ai chung đường  để lỡ khi mà quá giang hoặc xin phép nghĩ học khi ốm đau... Những câu hỏi miên man trong nổi lo hàng ngày...
Mùa khai trường đến, Quảng Trị cũng bắt đầu mùa mưa. Những cơn mưa đầu mùa mát dịu, đường làng cũng như  đoạn đường rải đá  từ Chùa tỉnh hội về trường  gồ ghề và lầy lội; loang lổ đó đây những ổ gà to tướng …Trường đây rồi! mọi người lạ “hoắc” Thầy cô cũng lạ!. Ngày khai trường, trước sân cờ nhỏ nhoi của ngôi trường huyện, chỉ thấy có một dãy nhà, Thầy hiệu trưởng dặn dò và phổ biến nội quy, quy định của nhà trường, nào: “Học sinh trung học phải bận đồng phục quần dài xanh, áo trắng vô thùng, thêu bảng tên theo quy định, chân di dép rọ, tóc cắt ngắn gọn, trống điểm 3 hồi vào học, sau tiếng trống  Bác phu trường kéo cửa, nếu trể xem như vào học giờ sau,  giờ đầu vắng  mượn vở bạn để chép bài, nghĩ học phải có đơn xin phép…”.
Nội quy học trò chuyển cấp tiếp nhận chẳng khác gì mấy ở bậc Tiểu học. Nhưng nếu lỡ trễ học  xem như vắng mặt không có lý do. Bởi vậy, những ngày đầu mùa khai trường, mẹ tôi lúc nào cũng  dậy sớm,  thức tôi dậy ắn sáng dể đi học cho kịp; tôi thầm ước  thời khắc biểu lớp mình được xếp học vào buổi chiều sẽ có nhiều thuận lợi hơn là học buổi sáng cho mình khỏi trê học về mùa đông.

NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA CẤP

Những ngày đầu  niên học Thầy trò trong  lớp giao lưu giới thiệu tên tuổi và ghi thời khắc biểu, từng bạn đứng lên tự giới thiệu tên, tuổi mình để mọi người cùng biết, bầu lớp trưởng là hai bạn cao to là  Hoàng Tiễn, Trương Quang Diện  chắc  lớn tuổi hơn mình... Nhìn quanh, nhìn quẩn chẳng có một ai cùng quê hay cùng đường với mình cả. Giờ học nào cũng tiếp thu tốt,  ngày hôm nay đến giờ Toán, khi đọc đề xong tôi hí ha, hí hửng làm bài rất chi là tự tin như  khi học lớp 5 vậy, môn này lớp 4,5 tôi chẳng thua ai…
Tuần sau khi cô Gái trả bài! Nhiều đường gạch chéo đỏ, bài chỉ được 4 điểm rưởi phần lý thuyết, tôi nhìn qua vài bạn khác làm kết quả  như mình. Cũng ghi hàng ngang và chia 2 cột  tính riêng lẻ, ( tính-lời giải và làm phép tính theo cột dọc). Trả bài xong , Cô mới giải thích: “ở Bậc trung học không còn cách giải như tiểu học nữa, toán hình ghi là …Tôi mới ngữa người ra, vì không được học hè, lại có ngươi kèm cặp nên ra cơ cảnh này; Làm sao đây, bó tay à!  Mỗi lần đến giờ toán, học lý thuyết không sợ nhưng bài làm cắn bút vào miệng đó là phương pháp tốt nhất để xem bài của bạn mới làm, đúng sai chả biết; Lớp lúc này cô giao nhiệm vụ lớp trưởng  vẽ sơ đồ từng bàn, nên chẳng cô cậu nào dám cựa quậy; bên tôi là Bảo và Bạt, mỗi khi đến giờ toán tôi phải nhờ 2 bạn giảng  và giải thích như: Chứng minh là gì?; làm sao hoán đổi dấu, vế  của một bài toán hàng ngang; còn toán hình  vẽ như thế nào? đường thẳng, vòng tròn, tiếp tuyến, trung tuyến, trung trực… chỉ có ăn điểm lý thuyết các định đề, định lý thôi, học và đọc trả bài rất suôn sẻ, nhưng cô kêu lên bảng để chứng minh  bài tập thôi dành  xin chịu ăn gậy cho rồi…môn đại số và số học dễ tiếp thu hơn. Hầu như  các bạn trong lớp  đều bị ngỡ ngàng về cách giải chuyển cấp. Không hiểu tại sao thời đó ở lớp 5 không có một bài toán dạng nầy chèn vào chương trình để khi chuyển cấp khỏi bị hẩng…
Học kỳ một qua đi êm ả, vị trí xếp hạng  cũng được, nhờ các môn học thuộc lòng. Bài vở đều tốt, anh mình khi nào đưa đi, đón về tận cầu Rì Rì cùng với bạn Văn Thị Chốc lớp 6/3, nên đến trường đúng giờ . Buổi liên hoan cuối năm nhân  tết Mậu Thân sắp tới,  với bánh kẹo chia đều trên khay giấy. Ai ngờ tết  này lại là mốc lịch sử của chiến tranh,  khắp nơi đâu đâu cũng có tiếng súng, có người chết, xóm làng tan hoang, nhà cửa thiêu rụi , bom đạn rền vang từ các làng quê cũng như trên các núi rừng …
Chiến sự tạm lùi xa, chúng tôi lại đến trường, mang theo nổi đau  không biết bao nhiêu bạn bè, trang lứa; ở quê có  bạn Thanh học cùng lớp trường tiểu học, 1 quả bom rơi trúng hầm, không còn một ai sống sót và nhiều chị gái trong làng,  khi lính ngoại quốc đổ bộ vào thôn xóm truy tìm đối phương; do bất đồng ngôn ngữ nên bị chết thảm thương;  tôi nghe dân làng chứng kiến và kể lại những người lính Đại Hàn, gặp ai cũng hỏi  “Vi xi, Vi xi”  dưới hầm không, các bà cụ gập đầu chỉ xuống dưới hầm, thế là ăn 1 quả lựu đạn  kèm 1 loạt súng…quê tôi có 3 chị gái ở xóm rào cũng bị chết; gia đình bạn Võ Thiên Nại Cửu cũng chung cảnh ngộ, cả gia đình trúng bom và chẳng ai còn lại, may sao đêm đó Thiên chơi bài tới khuya,  ngủ nhà hàng xóm nên giờ còn đi học với chúng tôi…
Những ngày sau tết Mậu Thân, không khí trường học vô cùng buồn thảm, học sinh đến lớp  không có Thầy Cô vì hầu hết quý  Thầy cô có gia đình ở Huế; mà Huế chiến trận xảy ra rất ác liệt hơn 1 tháng trời; có Thầy bị tổng động viên; quanh đi, quẩn lại Thầy Cô vắng trường cũng nhiều, một phần các giờ học được dạy thay hoặc nghĩ; học trò có cớ rủ nhau đi chơi thỏa thích; nhớ có lần về nhà Võ Khang, Ứng chúng tôi ra vườn tìm “đái mít’, với khoai lang rồi lấy dao gọt vỏ, hái rau ngò tây và muối, cắt lá chuối đùm lại, cả nhóm ngồi lên hai đầu cái ghế gác chữ thập lên cái “phản ngựa gỗ*; nhún lên, nhún xuống, đến khi nào đùm lá chuối chảy nước ướt ghế,  mới dừng lại và mở ra ngửi mùi thơm của ngò tây bốc tỏa thơn ngát, hương dịu của lá ném, của hoa mít ai cũng muốn được ăn ngay; chúng tôi xúm quanh gói hoa mít với đôi đũa tre gắp  ăn thật ngon miệng; với vị chát của hoa mít, cay của ớt, thơm của ngò tây, hăng của lá ném, dòn của những lát khoai lang dựng đỏ,  trong vị mặn của muối; có bữa luộc khoai lang, rồi cùng nhau đổ lúa vào cái cối xay đổi nhau nhau 2 đứa một kéo cối xay vù vù, đứa thì chả gạo bằng cối đạp, nhưng rất tiếc không có O nữ nào trong nhóm để xem có O nào sàng sẩy  gạo có sạch lúa không!?; về nhà Lập để xem vườn, nhà Ty đọc truyện và  nhà Phạm Văn Huề tận làng An Mô với cái nền nhà rất cao chống lụt,  tha hồ ăn ổi hoặc khoai luộc hấp cơm rất ngọt; có những buổi trưa đầu xuân   ấm trời tôi cùng Huề  đi tát cá, hoặc đi ven ‘giường’ ruộng bắt những con “đam sữa”đang nằm phơi trên lớp bùn, chúng đang thay vỏ  sau những ngày dài giá - rét; chúng tôi bắt được bao nhiêu về nhà bỏ vào song chiên dòn ăn hết… 
Bên cửa sổ  phòng học đối diện là làng Hà Mi; khói bom và lửa cháy ngùn ngụt; tôi và Bạt thay nhau đếm từng quả bom đen sì  từ chiếc máy bay rơi xuống, rồi từng cột khói bay lên; từng loạt súng đì đùng, lóe sáng thành đường; người ta gọi đó là viên đạn chỉ đường của súng đại liên bắn máy bay. Những ngày sau tết Mậu Thân sự sống và cái chết của con người  xảy ra là chuyện thường nhật. Những học sinh vùng quê như chúng tôi đêm nào cũng nằm dưới hầm thắp ngọn đèn dầu “Doan”, tim bằng vải đút vào cái chai treo vách hầm đủ sáng để học bài, sáng nào cũng chùi khói dầu bám đầy hai lổ mũi…
Năm học  qua đi, lớp có 56 bạn nhưng hầu như biết tên nhau gần hết, tôi được phân họp nhóm với xóm Sãi và xóm Hà và một số bạn gần đường trục chính; tổ chúng tôi lúc họp tại nhà Trần Ty, Diệp Phụng Kiệt có khi nhà Hồ Công Lập… .   
Anh tôi trúng tuổi quân dịch, chiếc xe đạp giờ thuôc sở hữu của tôi, không còn phiền đến bạn Hồ Trung Nguyên mang đi, đèo về nữa; trừ khi xe hỏng không sửa được. Hồ Trung Nguyên là con Bác Chương ở đối diện lò gạch Trương Kế gần ngã ba Long Hưng, sau một tháng học tôi và Nguyên lại là bạn  cùng đường, cùng lớp, Nguyên cũng hơi nghịch, người ốm nhưng cao hơn tôi nhiều; đi học khi nào cũng lái xe 1 tay, còn tay kia là một cây roi, trên đường đi nếu gặp cô nào xinh gái xem như ăn gậy vào mông hoặc trên nón, tôi nhát gan hơn Nguyên, nếu như các cô kia có  đồng minh xem như bị đón đường, bỏ học; riêng đoạn về cầu Sãi không sợ vì quý cô ấy đa phần cùng trường, còn dễ thương lượng. Vả lại Nguyên không bao giờ dám nặng tay, sợ rằng cái bảng tên trên áo lỡ  người ta đọc được…
Sau tết Mậu Thân, cầu Sãi bị sập nên mỗi lần đến trường phải chờ đợi đò ngang, thời gian sau mới có phà nhôm qua lại, nhưng về mùa lũ vẫn bị cuốn trôi. Những đoàn xe Mỹ lên xuống Cửa Việt liên tục; đường lại đổ biên hòa dày cộm, nên vào mùa mưa biên hòa trở thành cháo đỏ; có đoạn lên đến 5 tấc, lỡ khi gặp đoàn xe chạy qua, bùn bắn tung tóe  lên  quần áo, phải rửa sạch và chấp nhận chịu ướt và lạnh khi vào lớp học…thường khi qua đò Sãi xong,  tôi và Nguyên  dừng lại bên cầu ăn tạm vài cái bánh ram hoặc nhai tạm ổ mì  lót dạ buổi sáng, để có sức vác xe lên vai qua khỏi đoạn bùn lầy này…
Năm học qua nhanh, tuổi thơ chúng tôi lớn dậy với cấp học mới, với những nổ lực mới và nhiều biến cố lịch sử. Một số Thầy cô không còn dạy ở trường, một số bạn khác chuyển đi, số khác chuyển về, năm nay sĩ số còn 48 bạn, chúng tôi ai nấy đang vào tuổi từ 15-17 tuổi thậm chí có bạn tuổi thật đã 18,19 rồi.
Tuổi  giao mùa tóc để chỏm qua nhanh, còn lại đây nhưng cô cậu hầu hết đang bước vào tuổi trăng tròn.
Mùa hè với không khí chiến tranh ngột ngạt, ngày càng  đè nặng lên  những làng quê xa   gần và  những vùng rừng núi, tiếng máy bay không ngừng gầm thét trên bầu trời,   đâu đây bom nổ rền như tiếng ‘sấm ”, những tia chớp động nhay nháy’ ; tiếng đại bác vọng về từ các căn cứ quân sự ; Mùa hè chiến tranh và nổi nhớ, tiếng gió lào vi vu  vô cùng mảnh liệt đang thổi khô những cánh đồng vào vụ, thổi trên những con đường làng đất bụi xoáy mờ bởi những cơn lốc nhỏ và gió lào thổi rát mặt ; lúc này lũ trẻ làng  tập hợp bên những cây ‘chứa gai’ cắt những bẹ ra tước gai thi nhau làm những chiếc chong chóng có sức đón gió mạnh nhất và quay nhanh nhất, mặc cho  những trận gió thổi bụi tung vào mặt hay cái nắng như thiêu đốt dưới những hàng tre xanh rì đang kêu ‘ót ét, ọt ẹt’   khi va vào nhau. Sau những hàng tre, những ổ chim ‘ROỘC’ treo lơ lửng, đu đưa đầu ngọn tre già, chúng bám quanh cái vòi với những cọng tranh tươi ríu ra, ríu rít ...
Bên kia đường làng, nhóm khác đang đào lỗ đất để tung các hòn ‘căng’ và tiếng khắc nhịp inh ỏi, các bạn nữ  thi nhau chơi trò ‘ù mọi’, ô chuyền tạo thành một hỗn thanh của trưa hè thôn dã … âm thanh ấy  mang lại giấc ngủ ngon lành của người thân sau nửa ngày lao động với trên chiếc võng đu đưa theo nhịp gió rì rào…
 Cồn đất xóm bên có nhiều  chú dế mọi, dế than đang trổ tài ca hát hoặc thách đấu với nhau khi trầm khi bổng, khi nhỏ khi to trong những đống cây bắp vừa mứoi thu hoạch xong. Thường khi  nghĩ học Nguyên thường hay đến chơi với tôi, rồi  cùng đi rình bắt ‘rế’  
- Nhẹ chân, nhẹ thôi !
- Chúng tôi ra hiệu cho nhau  chậm rãi và lắng nghe nhằm xác định tiếng dế kia đang kêu chính xác ở đâu ?
- Hang nào ? đống toóc nào ?…   
- Bắt được bao nhiêu chúng tôi nhốt vào cái ống giấy được quấn tròn lại,  bịt 2 đầu kỹ rồi đút vào túi quần; sau đó về nhà bắt đầu sơ tuyển; chọn địch thủ  vô địch lên tỉnh giao đấu với tụi bạn... Đặc biệt, Nguyên là đứa bạn rất thích cảnh đồng quê, không những bắt dế mà còn đi bắt cá, đi cày ruộng với tiếng ‘tắc -rì’  là lạ …
Ai cũng có một quê hương để nhớ
Một tuổi  thơ ấm áp nặng tình nhà
Một giọng nói từ cha sinh mẹ đẻ
Một ngôi trường tình nghĩa thầy trò ta

THÁNG NGÀY KHI CHÚNG TÔI KHÔN LN

Một phố nhỏ một làng quê ta ở
Một con sông nguồn nước lúc đưa nôi
Nguồn phù sa   năm tháng lũ  đắp bồi
Khơi mạch sống nên hình hài ta lớn
 
Sau khi chiến tranh kết thúc, chúng tôi lần lượt muôn nơi tìm về quê cũ, những cô cậu học trò năm xưa giờ đã trên dưới tuổi hai mươi, mỗi người mỗi cảnh, cuộc sống sau chiến tranh vô cùng khắc nghiệt. Đặc biệt tỉnh Quảng Trị chúng ta là vùng tuyến lửa, là nơi chiến trường giao tranh ác liệt nên bom đạn dày đặc, đâu đâu cũng có hố bom, mìn, đạn chưa nổ còn sót lại trên các chiến tuyến phân chia tạm thời sau khi hiệp định đình chiến  Pa -ri được ký kết  kết thúc…
Ai cũng về xây dựng lại quê hương trong điêu tàn và đổ nát,những thửa ruộng là  tài sản vô giá của người nông dân đang đầy cỏ dại, xen lẫn cả bom mìn, trai tráng, nam nữ đều phải ra tay đốt cỏ phục hóa ruộng, vườn, việc vướng mìn hoặc cuốc phải đạn nổ bị chết hoặc bị thương vần thường xảy ra. Trên những màu xanh của ruộng đồng, mảnh vườn hôm  nay đã thấm máu người nông dân khi về lại quê  nhà,  đó là khoảnh khắc thời gian mà thế hệ chúng tôi chứng kiến, hay trực tiếp làm nên sau chiến tranh…
Lần đầu tiên trong một buồi đi lao động về, trên đường đi tôi đã gặp Hồ Công Lập  tại đường vào Thị xã, Lập bảo  tau phải phấn đấu đi học để mong có cái nghề nghiệp gì đó, chứ ở quê mình lao động vất vả quá, nếu cuốc phải mìn thì toi mạng… một hôm vào gửi thư ở Bưu điện Triệu Hải lại gặp Trần Ứng, Ứng năm 1972 ở lại vùng giải phóng nên giờ   vào làm việc tại bưu điện; cũng một hôm nào đó khi  kéo đường dây điện 35 KV Đồng Hới - Huế để chuẩn bị đón nhận thủy điện sông Đà, đường dây đi ngang vườn nhà tôi, không ngờ có một người công nhân được theo kiểm tra đường dây điện  là Trần Văn Hiền và chúng tôi đã nhận ra nhau ; Còn đây là Tánh trong đội chiếu phim lưu động 32 của tỉnh Quảng Trị, khi Tánh  chiếu phim ở hợp tác xã, lúc này Tánh là đội trưởng, thể là tết nào Tôi cũng mời Đội Tánh về quê chiếu phim và nghỉ tết quê tôi ; Còn Võ Thiên à !    khi tôi phải về mua giống  ở Triệu Đông, vì đây là hợp tác xã làm ăn nổi tiếng của Triệu Hải trên đường về Nại Cửu tôi gặp Võ Thiên sau đó chúng tôi biết nhà nhau, thường khi ghé qua nhà thăm; tội cho Thiên trong hoàn cảnh chiến tranh đã cướp mất những người thân, bản thân  bệnh tật đau ốm, lần mổ đầu tiên bị nhiễm trùng, thời đó phương tiện y tế để mổ 1 ca ruột thừa bị vỡ là một thách thức lớn, vì không có đủ kháng sinh, nghe nó kể khi đau bụng quá, người nhà phải dùng đòn tre cột võng vào gánh từ quê lên Bệnh viện Triệu Hải, chậm quá ruột thừa đã bị vỡ, ca mỗ nhiểm trùng, mấy năm sau bị cắt dạ dày, sức khỏe rất sa sút, công việc nông nghiệp lại nặng nề, nghe đâu sau năm 1998 Thiên mất vì u xơ dạ dày… Lê Thị Nhớ  tôi cũng có gặp đựợc 1 lần , Nhớ bán vải tại chợ Đông Hà những năm sau ngày đất nước thống nhất ...
Về lớp chúng tôi, Trần Ứng là người có lòng nhiệt tình tìm tòi, tập hợp bạn bè  trong lớp; lức đầu các bạn tại Thị xã Đông Hà ; lần lượt đến Thị xã Quảng Trị, Triệu Phong và Hải Lăng. Hàng năm, theo  quy định các bạn trong lớp sinh sống tại Quảng Trị gặp mặt 1 lần vào chủ nhật đầu tiên của năm mới vừa đến chúc mừng nhau vừa họp mặt đầu xuân, luân phiên mỗi năm  một nhà, có thế mọi người mới biết đời sống và chổ ở của nhau; Ở Đông Hà gồm có Quật, Ứng, Quốc, Lanh và Hoa, Diện, Thủy - Hoát (lớp 6/3), ở Thị xã Quảng Trị và Hải Lăng có Hiền, Tánh, Tùng về Triệu Phong có các bạn Hộ, Đức, Xá, Quê và ở Hướng hóa có Tiễn, Ty, Thạnh, nhưng Ty Thạnh chưa họp mặt lần nào… thông tin lan dần không những đã hết ở trong tỉnh còn đến các bạn trong và ngoài nước; tính ra cũng gần 80% đã  thông tin cho bạn bè cùng lớp; danh sách đến nay xem như đã hoàn chỉnh về sĩ số,  lớp thất hai  niên khóa 1967 -1971 là 56 bạn… và có  16 lần họp mặt ;  có năm gặp mặt cả dâu và rễ. 
Qua cầu thông tin từ Thầy Nguyễn Văn Quang đến với các bạn bè trong lớp, chúng tôi mong ước có một ngày gặp mặt lớn toàn trường Trung học Triệu Phong, để bạn bè muôn nơi được một lần về gặp mặt Thầy Cô, được  gặp lại đồng môn các thế hệ trên mảnh đất thân thương trường cũ Triệu Phong. Trong chúng tôi, mỗi lần họp lớp cũng đều nhắc lại chuyện cũ, tuổi thơ và sự hồn nhiên khi đến với ngôi trường quận ở một miền quê và trường tọa lạc bên cạnh chi khu quân sự, trên cánh đồng Nại Cửu khoai lúa  tốt tươi ; những cô cậu học trò đa phần gia đình sống bằng nghề nông với những kỷ niệm về làng quê, cánh đồng, con sông với con đường làng đầy bụi mù khi nắng hạn, bùn sục khi mưa lũ và những lũy tre làng với nhưng tổ chim ríu rít, những bờ ao quanh vườn và cảnh đồng quê không thiếu trong ký ức;  khi  bước chân  đến ngôi trường đơn sơ, chỉ dãy nhà bao quanh và ngói đỏ, với trụ cờ chính giữa  bãi đất thấp trũng, đối diện cổng trường khép kín khi tiếng trống vừa điểm, hoặc mở ra khi trổng điểm tan. ...còn gì vui hơn sau giờ nghĩ học đi đến những làng quê,  nơi ấy có  ba mẹ các bạn đều là những nông dân biết cày sâu cuốc bẩm, đổ mồ hôi đổi lấy bát cơm và đang chung sức xây dựng lại làng quê sau những năm chiến tranh chống pháp…
Có bạn ngồi kể lại chuyện Thầy cô năm cũ, bấm  ngón tay rồi đọc tên các bạn từng bàn, từng vị trí ngồi trong lớp; cái nghịch ngợm của tuổi 16, đến cái thẹn thùng qua tuổi mời bảy cháy bỏng và rung đụng đầu đời, với khuôn mặt  đỏ ngây ngây mắc cớ đến dị thường  …nhắc về nhau khi mỗi người, mỗi ngã, khi tuổi xế chiều con cháu vây quanh; tìm cho được nhau dù chỉ một lần nghe qua điện thoại, trừ những đứa không còn nữa  cũng biết tin con bạn có thành đạt hay không ? Mỗi lần họp mặt có thêm tin mới ; hôm nay được tin trường đã thành lập Ban liên lạc của trường xưa và đã cử ra một Ban thường trực  gồm Thầy Cựu hiệu trưởng Nguyễn Văn Quang  làm trưởng ban; theo đề nghị một số CHS và cũng là Thầy của trường sẵn sàng ủng hộ, nếu như song song với tổ chức gặp mặt cho ra một tập san Ký ức trường xưa; lớp tôi hăm hở thông tin đều khắp để các bạn gửi hình ảnh, tư liệu, bút tích còn sót lại cũng như bài viết gởi về BLL để biên tập và cùng ra mắt CGC &CHS của trường. Mong rằng đây là nhịp cầu chia sẻ tình cảm vui buồn khi thế hệ cuối cùng nay đã bước tuổi quá 50. 
Chắc rằng tên trường tuy không còn nữa, bởi chiến tranh đã chôn vùi trong hoang tàn và đổ nát ; nhưng trong mỗi chúng ta là học sinh các thế không bao giờ quên hình ảnh   ngôi trường với những kỷ niệm buồn vui in đậm trong tâm khảm; hôm nay trưởng thành trong cuộc sống khó ai có thể quên được những  kiến thức mà Thầy Cô và chiếc ghế nhà trường bên bạn  đã cho ta nguồn sống sau những lần trồng điểm vào ra…
 Một tên trường, một tên đường ta đến
Gởi tuổi thơ nhỏ bé để nên người
Gởi không gian đầy ắp tuổi đôi mươi
Gởi tình yêu vào đời thương và mến 
Mong được có một ngày bên nhau trong tiếng mi tau ngọt lịm tuổi mười lăm ./.
VTT 7/2010
* ruộng phở : ruộng đất đã cuốc ải, phơi khô  đưa nước vào đất  ướt nhuyễn  rồi bừa đi để cấy lúa.