Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2021

HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ & HỘI THƠ HÃN MAI Linh Đàn.


NHÀ THƠ LINH ĐÀN

Nhà thơ Linh Đàn ( Nguyễn Hữu Kiểm) Quảng Trị đã cởi hạc về trời
sau hơn 82 năm ở chốn hồng trần trải nghiệm kiếp nhân sinh. Ông để lại cho hậu thế nhiều sáng tác thơ văn đặc sắc.


 Một nhà Cổ học Quảng Trị, Nhà thơ Linh Đàn Nguyễn Hữu Kiểm. Sinh năm Kỷ Mão, 1939 tại: Làng Lan Đình, Gio Linh, Quảng Trị vừa quy tiên lúc 13h05 ngày 13.12.2020, (nhằm ngày 29.10 Canh Tý). Hưởng thọ: 82 tuổi
Năm 2018, nhân dịp dự ngày họp mặt đồng hương Gio Linh tại ks Continental,
Anh Tri gặp ông và chúc Tết. Ông cho biết rất mến mộ thầy trò trường TH Nguyễn Hoàng và thích đọc đặc san Hương Quê Nhà của Ái hữu CHS Nguyễn Hoàng, tuy báo nội bộ mà nhiều thể loại với nội dung phong phú, giá trị.
Năm 2020, ông gởi bài cho HQN và nay bài viết đó trở thành kỷ niệm với người đã khuất.
Xin giới thiệu cùng những người yêu thơ văn bài viết của cố nhà thơ Linh Đàn mà tôi sưu tấm trong trang của nhà thơ Võ Quê, trong đó có nhắc đến kỷ niệm văn chương của ông với Hội cổ học Quảng Trị nơi tụ hội nhiều giáo sư Nguyễn Hoàng, thân phụ của các anh chị NH, và đặc biệt là với anh Dương Văn Tường. Mời xem: 
 

HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ & HỘI THƠ HÃN MAI
Linh Đàn.
 
Hồi tôi mới lớn, tôi thường thấy quý cụ gọi nhau đi dự hội Cổ Học, mỗi lần đi dự hội, quý cụ chuẫn bị mấy ngày trước khăn đóng áo dài cho vào gói đeo vai sẵn sàng, đến ngày đi từ mờ sáng quý cụ quảy gói lên đường rồi đến 3 -4… ngày sau mới về lại nhà, từ làng tôi vào thị xã Quảng Trị tính theo đường QL1 là 24km, sau ngày chia đôi đất nước 1954, việc lưu thông, từ Gio Linh, hoặc Trung Lương vào Quảng Trị phải đi bộ đến Đông Hà, cũng mất gần một buổi sáng, đến chợ Đông Hà mới có xe khách đi Quảng Trị, xe nào xe nấy chật như nêm, phần nhiều là khách đứng, nếu đi đường sông thì phải đi trước 3 ngày, thế nhưng năm nào quý cụ cũng tham gia đông đủ. (cuối năm 1958 mới có xe đò chạy từ Đông Hà ra Gio Linh, Trung Lương và ngược lại)
Đến năm 1962 tôi được đề cử vào ranh giới Trị Thiên, để đón phái đoàn Cổ Học Trung Ương từ Huế ra, tôi là người trẻ nhất của phân hội Cổ Học Gio Linh, rồi từ đó tôi được ghi danh vào Hội Cổ Học Quảng Trị. Sau nầy tôi vào Hội mới biết tôn chỉ của hội Cổ Học và ngày tế Đức Khổng Tử. tuy tôi được nhập hội nhưng chỉ được nghe ngóng và chấp hành, vì còn quá trẻ, và phải còn “giữ lễ”
Nói về tôn chỉ là phải biết về quan điểm của hội Cổ Học, biết về phần học thuyết NHÂN SINH QUAN, theo quan niệm luân lý Á Đông, và sự suy tôn VẠN THẾ SƯ BIỂU, cùng hiểu qua tiểu sử của Đức Khổng Phu Tử. và các môn đệ tiêu biểu của Ngài, như Thầy Nhan Hồi, Thầy Tử Cống, Thầy Mạnh Tử chẳng hạn…….
Còn phần tế lễ thì cứ đến giờ Dần ngày 27 tháng 8 âm lịch hằng năm là cử hành tại Khổng Miếu, trên chính điện là di ảnh đức Khổng Tử, phía ngoài là lư trầm bát nhang, kế đến là 3 ly nước trong, hai bình bông vàng, và cặp đèn bạch lạp, (không có lễ tế sát sanh) vị chủ tế đội mũ văn, áo rộng xanh, và thầy cúng đọc bài văn tế bằng chữ Hán, không có chiêng trống kèn nhạc, phần nghi thức hết sức long trọng, nhưng chỉ diễn ra trước lúc mặt trời mọc là xong, sau đó là lễ cúng ngoài trời. khoảng 8 giờ sáng (7giờ sáng hiện nay) vị tỉnh trưởng, nhân viên tỉnh tòa, và các ty sở ban ngành trong tỉnh cùng mặc quốc phục long trọng đến Khổng Miếu niệm hương, dâng hương, đến năm 1963 bắt đầu có mấy vị nữ tham dự, không phân biệt người theo tôn giáo nào, trong Nam thì không biết sao, còn riêng Quảng Trị, chỉ có Phật Giáo, Công Giáo và người thờ Ông Bà gọi là Lương, nên việc tế Đức Khổng Tử diễn ra năm nào cũng có các thầy tu, các linh mục và các cụ đến chiêm bái hết sức long trọng, có một điều không thể nào quên, là cứ đến ngày 27 tháng 8 hằng năm đoạn đường Trần Hưng Đạo - Quảng Trị từ phía sau tòa tỉnh, qua ty tiểu học vụ đến cổng Khổng Miếu là toàn bộ khăn đóng áo dài, không thấy bóng dáng một bộ âu phục nào đi qua đó, giống như một quốc gia dưới thời vua chúa xa xưa
Nói về sinh hoạt của Hội Cổ Học Quảng Trị, tôi thấy sự cung kính chào thưa ngày thường thật sự là nề nếp nho phong, đúng là phép tắc của cổ học, người xưa trọng chữ tín và tuân thủ lễ nghĩa, trọng phẩm cách nhưng không ươn hèn mà họ gọi là “đạo quân tử”, Đạo Quân Tử lấy sự “lập ngôn” (lời nói phải cách) làm đầu gọi là “lễ”, chữ lễ chia ra nhiều cách, như “lễ phép” = phép tắc xưng hô, “lễ nghi” = nghi thức ứng lễ, và “lễ nghĩa” = sự cư xử ở đời cho phải đạo ; thứ 2 là “lập đức” = “đạo đức trong việc ứng xử”, “đạo hạnh trong việc cư xử”, “đạo lý trong việc luân lý”; thứ 3 là “lập chí” = “kiên định lập trường, quyết đoán chính chắn trong việc làm”, và cuối cùng là “lập thân” = “làm tròn 3 nhiệm vụ trên”, đó là “tiêu chí của mỗi hội viên Hội Cổ Học Quảng Trị” ngày xưa. Tôi cũng xin nhắc lại ở đây “Hội Cổ Học” được danh xưng là Đạo Quân Tử nhưng không phải là một tôn giáo.
Song song với Hội Cổ Học là Hội Thơ Hãn Mai còn gọi là Hãn Mai Thi Xã, song hành nhưng rất khiêm tốn với Hội Hương Bình Thi Xã ở Huế. xướng họa thơ Đường Luật, và sáng tác thơ Song Thất Lục Bát, thơ Lục Bát, thơ Phá Thể, Văn Ai, Văn Tế, Phú, Hoành Phi và Câu Đối.
Thường thường Hội Trưởng Cổ Học kiêm luôn chức hội trưởng hội thơ Hãn Mai, hồi tôi mới vào hội, hội trưởng là cụ Tú Hiệt (Nguyễn Hữu Hiệt) bút danh là Thạch Lữ, quê làng Đại Hòa, cụ là một nhà thơ nổi tiếng của Quảng Trị, không những thơ Nôm mà còn thơ Chữ Hán, trên các tạp chí của Đài Bắc hay Hồng Kông cũng in thơ Cụ, cụ còn làm thơ thời cuộc, đại để như bài thơ tết năm Đinh Mùi 1967 dưới đây :
 
KHAI BÚT NĂM ĐINH MÙI
 
Nhảy vọt sa trường “ngựa” đã ê
Xuống thang mong tới đoạn đường “dê”
Mừng tin gió mới cành hoa nở
Nhớ hẹn trăng xưa chiếc én về
Bức vẽ văn minh nhiều cảnh lạ
Bàn cờ thế cuộc có cơ huề
Đua nhau đốt pháo chào xuân mới
Chẳng nỡ trêu người giữa “giấc mê”
Thạch Lữ.
 
Tôi không nhớ năm nào cụ Lê Hữu Nguyện (anh ruột Đúc Cha Lê Hữu Từ) lên thay cụ Tú Hiệt, sau đó là cụ Hoàng Trọng Thuần còn gọi là Thầy Thoàn hay cụ Tú Thoàn lên nhậm chức, cũng kiêm luôn 2 chức vụ Hội Trưởng, cụ Thoàn là người năng động, muốn mở rộng hội viên cho lớp trẻ, để không trầm tĩnh như hồi trước, nên các giáo viên các trường tham dự hội khá đông, và phân viện Hán Học Đại Học Huế thường giao du, có linh mục Nguyễn Hy Thích, thầy Giản Chi, thầy Phan Văn Dật, nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, vv… thường tới lui ngâm vịnh, Hội Hãn Mai còn có các nhà thơ lão thành như : cụ cử nhân Trần Doãn Trai (cựu Thị Lang Bộ Hộ) cụ Nghè Ba, Cụ Học Thược, Cụ Mộng Xuân Đoàn Lỗ Bửu, thầy Thái Tăng Liên đều rất uyên Nho, và đặc biệt dung hòa giữa tân học và cổ học như các thầy Lê Đình Ngân, thầy Trợ Khởi, thầy Trợ Triễn, thầy Thông Thạnh, thầy Trợ Bân, thầy Ấm Đức, thầy Giáo Đích, thầy Trợ Thể, thầy Trợ Đăng, thầy Trợ Ngoạn, cụ Cửu Dương, cụ Xạ Dương, cụ Khóa Dương, thầy Trợ Mễ, cụ Tổng Vận, nghị viên Lê Thọ Dương, cụ Khóa Đào, cụ Khóa Ấm, cụ Phó Đào, cụ Khóa Huyên, cụ Hai Phố, cụ Hoàng Trọng Hưởng, cụ Tổng Quỳnh,… và một số giáo viên ty tiểu học vụ Quảng Trị, đa số giáo sư Trường Trung Học Nguyễn Hoàng, và một số thầy ở phân ban Nha Học Chánh Trung Nguyên Trung Phần sốt sắng tham gia.
Năm 1969, có cụ Kỉnh Chỉ Phan Văn Hy (quê Nhan Biều là bác sĩ đầu tiên của Miền Trung VN) là hội viên hội Cổ Học QT xưa, ở Saigon về thăm quê hơn một tháng, một cuộc xướng họa thỏa thích.
Lại nói về một bài thơ của cụ Kỉnh Chỉ hồi còn ở làng Cổ Đạm (Nghệ An) khoảng năm 1930 có quen cô Tuyết Ngọc, lý do xa nhau thì không nghe Cụ kể lại, nhưng với một bài thơ thật ấn tượng sau năm 1954.
 
NHỚ TUYẾT-NGỌC
 
Tuyết-Ngọc bây giờ em ở đâu ?
Trông về Cổ-Đạm chạnh lòng sầu
Chỉn* e yếu-đuối thân bồ-liễu
Phải chịu dày-vò cuộc bể-dâu
Gần-gũi đôi khi nhờ giấc mộng
Xa-xôi ngàn dặm ứa dòng châu
Trùng-phùng ví được ngày nào nữa
Kẻ tóc hoa-râm, kẻ bạc đầu
Kỉnh Chỉ
Chỉn* e = từ cổ là sợ e
Chỉn e quê khách một mình
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày
Kiều
-------------------------
Bài thơ nầy hồi đó Dương Văn Tường (Hà Thượng) còn học lớp đệ nhị (11) trường TH Nguyễn Hoàng QT họa, được hội thơ Hãn Mai chọn là bài họa hay nhất (vì ngoài 5 vần ra, còn họa luôn 3 vần trắc cuối câu 3, 5, và 7)
 
NHỚ MỐI TÌNH ĐẦU
 
Nhớ thương giờ cũng chẳng còn đâu
Vương vấn làm chi để chuốc sầu
Vò võ chờ ai bên gốc liễu
Mõi mòn nhớ bạn cuối nương dâu
Thử xem cuộc thế thực hay mộng
Gẫm lại chuyện tình ngọc lẫn châu
Tóc bạc mong chi ngày gặp nữa
Dở dang chi thế mối duyên đầu
Phụng họa
Dương Văn Tường.
 
Những dòng thơ ngày ấy bây giờ thấy còn nóng hỗi chiến tranh khi trở lại làng :
Mãi ở trong Nam mới trở về
Viếng thăm làng xóm dạ buồn ghê
Nương vườn bỏ trống dân sưa sết
Đồn bót vây quanh Mỹ bộn bề
Đưa đón đò còn nguyên bến củ
Lại qua người cũng khác năm tê
Căm hờn muốn vạch trời mà hỏi
Dâu bể gây chi cuộc ấy tề !
Kỉnh Chỉ.
 
Những bài xướng họa thuở ấy được thầy Châu Văn Trần Văn Bân ở ty Tiểu Học Vụ cho đánh máy cẩn thận, nhưng tôi đã làm thất lạc hồi bị giải tỏa nhà quá gấp ở Bà Rịa năm 2003 thật là quá uổng, không biết còn ai giữ được những trang thơ quý hóa nầy hay không.
Rồi cuộc tiễn đưa cụ Kỉnh Chỉ cũng không ít những bài thơ đầy ắp ân tình, vào mùa xuân năm 1970 cụ qua đời, cũng có những bài thơ rơi lệ.
 
KÍNH ĐIẾU CỤ KỈNH CHỈ
 
Ba sinh duyên nợ mãn lời nguyền
Nhường chán cõi trần – chọn chỗ yên
Giấc mộng tương tư vàng nhớ tuổi
Thanh bia trường hận đá nhìn tên
Thi mơ tuyệt tác tiên dừng bút
Đàn vắng tri âm khách cặm thuyền
Đâu nữa Hãn Mai ngày hạnh ngộ
Hồn thơ lai láng bể Tây Thiên
Thạch Lữ.
 
KÍNH ĐIẾU Bs PHAN VĂN HY
 
Cảnh Tiên Ông đã lên rồi
Nơi đây cảnh tục Ông ngồi mà chi !
Tìm đâu cho thấy bậc cao thâm
Thuốc thánh* thơ thần dội tiếng tăm
Nước Hãn đầy vơi lời ứa nghẹn
Non Mai trầm bỗng bóng xa xăm
Làng thơ còn đợi thi hào xướng
Người bệnh đang chờ bác sĩ thăm
Vòi vọi càng trông càng vắng vẻ
Ai ngờ Ông đã bước trăm năm
Phụng bút
Linh Đàn
----------------------
Thuốc thánh* = bác sĩ Phan Văn Hy chữa bệnh cả thuốc Tây lẫn thuốc Bắc cực kỳ giỏi
----------------------
Rồi cuối năm 1970 tôi lên Dalat tìm kế sinh nhai, không ở Quảng Trị nữa, hơn nữa hồi đó sự liên lạc với nhau không có phương tiện hiện đại như ngày nay, nên không còn biết gì về hội Cổ Học cũng như Hội thơ Hãn Mai nữa. vì vậy sau đó tôi viết bốn chữ hoành phi “MAI HÃN TINH THẦN” treo trên nhà ở Dalat để làm kỷ niệm “một ẩn số riêng”, khách nhà nho tới chơi lắc đầu mà phải chịu nính thinh mới tội nghiệp làm sao cho họ.
Không ngờ lên Dalat lại gặp Dương Văn Tường là Sinh Viên Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat trong những ngày chủ nhật, mà thật có duyên, nay lai gặp rất nhiều lần ở Saigon, là cựu hội viên hội thơ Hãn Mai trẻ nhất còn sót lại.
Rồi chiến cuộc năm 1972, Quảng Trị lại một lần tan nát, dân chúng hốt hoảng ra đi trong cơn lửa loạn, tình cờ tôi gặp nhà thơ Phan Văn Chiêu (là cháu gọi cụ Kỉnh Chỉ bằng bác ruột) chạy lên Dalat, sau một thời gian hoàn hồn, anh cũng nhắc lại bài thơ tặng cụ Kỉnh Chỉ hồi năm 1969 tại quê nhà.
 
MỪNG BÁC KỈNH CHỈ VỀ THĂM
 
Mười mấy năm hơn bác mới về
Quê nhà gặp bác thật mừng ghê
Bà con đón hỏi lòng sung sướng
Quan khách hàn huyên dạ hả hê
Hội ngộ câu thơ ngâm sảng khoái
Tương phùng chén rượu rót tràn trề
Biết bao thế hệ thay màu tóc
Nhìn thấy quê hương vẫn não nề
Phan Văn Chiêu.
 
Bài thơ nầy có 3 vần rất khó họa, hôm ấy tại Nhuận Ký Tửu Gia cụ Kỉnh Chỉ treo giải một con gà luộc, một rá tôm hùm và 2 chai sâmbanh nếu ai họa được vần “hả hê”, “tràn trề”, Linh Đàn hồi đó còn tấp tững nhưng cũng cố trổ tài, chỉ một giờ sau là có bài họa (thay lời Kỉnh Chỉ).
 
TRỞ LẠI QUÊ HƯƠNG
 
Lâu lâu mới có một lần về
Ngắm cảnh quê nhà nhớ nhớ ghê
Cụ lão ngày nào ngồi chững chạc
Thầy chùa thuở nọ tụng ha hê
Lần theo tường nát đau chân lội
Đứng giữa nhà hoang chép miệng trề
Chiến trận hết rồi - về sửa lại
Dù bao gian khổ vẫn không nề
Linh Đàn (họa)
 
Thế là bữa tiệc hôm đó tăng thêm “phần treo giải” thật là tuyệt diệu
Ôi ! Những bước đường lưu lạc xứ người, những hình ảnh quê hương sâu nặng bao đời có còn chăng trên gối ! người đời sau ai còn biết những sinh hoạt đầy ắp tính nhân văn mà Quảng Trị ta một thời tô đậm. Nhớ cùng đêm nhớ
Saigon mùa Xuân năm Canh Dần 2010.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

THƠ XƯỚNG -HỌA - CẢM TÁC CÙNG QUÝ THI HỮU ... 12/2021(P1).

 

Văn Thiên Tùng họa, cảm tác thơ cùng quý thân thi hữu tháng 12/2021: Hồ Nguyễn, Hồ Mỹ Đức,Thái Huy, Songquang, Lý Đức Huỳnh, Sông Thu, Lý Viễn Giao, cảm tác thơ Hàn Mặc Tử...
 

THỨC GIẤC

Bài xướng:
Giựt mình thức giấc giữa canh thâu
Gió thổi ngoài hiên nặng tiếng sầu
Bàn giấy ngọn đèn hiu hắt bóng
Giường tre mền gối cuộn buồn đau
Thẩn thờ thơ ý vươn môi kéo
Trằn trọc cung văn ưỡn ngực cầu
Bến đợi chia tay ai có nhớ
Xin dành đôi phút kết bên nhau.
Hồ Nguyễn, 28-11-2021.

TRẰN TRỌC

Bài họa:
Dẫu cố ru nồng ngủ giấc thâu
Tàn canh trằn trọc nhấm cung sầu
Trách duyên dậm ấm sao dần nhạt
Giận số đang nồng lại chuốc đau
Nghĩ xót thân đời neo trắc trở
Thầm thương mệnh kiếp niệm kinh cầu
Ông Tơ bà Nguyệt soi xe xe gán
Mảnh ghép ân tình chẳng lệch nhau…

Quảng Trị, 06/12/21.
Văn Thiên Tùng.

MÙA THU THÁC BẢN GIỐC

Bài xướng:
Bản Giốc chiều thu nắng nhuộm vàng
Rừng cây tô điểm nét phong quang
Núi vươn thẳng tắp cùng năm tháng
Thác đổ âm vang với gió ngàn
Cảnh sắc quê hương hình đẹp đẽ
Nỗi niềm nghệ thuật bước lang thang
Nơi đây lưu luyến dừng chân lại
Ngắm cảnh thần tiên chốn địa đàng.
Hồ Mỹ Đức, 1/30/17.

THÁC BẢN GIỐC CUỐI ĐÔNG

Bài họa:
Tàn đông Bản Giốc thắm hoa vàng
Khí tiết giao hòa cảnh tạnh quang
Khói tỏa lan man lèn gió núi
Sương bay loáng thoáng quyện mây ngàn
Liên triền điệp sắc tam giác mạch
Bọt nước tung ngời cột nấc thang
Đệ nhất danh lừng kỳ vỹ thác
Người thăm kẻ viếng ví thiên đàng…
Quảng Trị, 05/12/21.
Văn Thiên Tùng.

ÁNG CHIỀU

Bài xướng:
Lững lờ nào khác áng chiều rơi
Ta cũng lang thang giữa phận người
Mình khép tình nhà trong buốt xót
Thân mang cảnh nước giữa chơi vơi
Thấu lòng ai chứ-nào tay đón
Hay nỗi này không-tất miệng mời
Chớ để thời gian trôi mất hút
Lững lờ nào khác áng chiều rơi.
Thái Huy,11/12/21.

SÂN ĐỜI

Bài họa: (nương vận)
Loáng thoáng sân đời tựa lá rơi
Vòng xoay chuyển hóa phận con người
Lưng chiều bóng ngã dần chìm khuất
Nẻo tối vô hình chẳng khoảng vơi
Dẫu biết trần ai luôn vướng buộc
Hay chăng ải nợ vốn rao mời
Hừng dương lóe ửng đêm tàn úa
Loáng thoáng sân đời tựa lá rơi…
Quảng Trị, 04/12/21.
Văn Thiên Tùng.

NỖI ĐAU TÌNH LỠ

Bài xướng:
Cuộc tình đã lỡ lắm thương đau
Thổn thức con tim rướm nỗi sầu
Trăm đắng bẽ bàng người dứt bước
Ngàn cay tan nát chuyện xa nhau
Kẻ buồn lặng lẽ rời đêm hẹn
Ta xót bàng hoàng ứa lệ châu
Ngã rẽ đôi đường đà lạc hướng
Cung đàn lỗi nhịp tự ban đầu
Songquang.

THÔI ĐỪNG TRÁCH CỨ …

Bài họa:
Dẫu cố chôn vùi chuyện khổ đau
Mà sao chẳng hóa giải u sầu
Nghe chừng nổi nhớ lèn ly biệt
Tưởng dễ nguôi buồn chạnh lánh nhau
Kỷ vật còn kia duyên mới chớm
Nụ hôn thuở nọ nợ trao đầu
Thôi đừng trách cứ hờn chi nữa
Nối nhịp cung đàn nén giọt châu…
Quảng Trị, 04/12/21.
Văn Thiên Tùng.
LẶNG LẼ PHƯƠNG NGÀN

(Thơ Họa)
Lặng lẽ phương ngàn anh lại đi,
Gió khuya an ủi lá thầm thì.
Cô đơn bản thể niềm xưa trú,
Quạnh quẽ muôn trùng khách viễn ly.
Bởi cuộc vô thường thay sắc thắm,
Nên lòng bất định níu tình si.
Đêm đen vẫn hẹn ngày mai sáng,
Xót cảnh duyên mờ ảo thịnh suy…
Lý Đức Quỳnh,30/10/2021.

ĐÂU NGỜ
Bài họa:
Đông tàn dạo ấy tiễn người đi
Dáng ngọc ngà đang thuở xuân thì
Vẫn nhớ nhung khi đà cách mặt
Hay buồn những lúc phải chia ly
Thư đi - thư lại lời trìu mến
Câu đợi - câu chờ dạ đắm si
Ước hẹn duyên nồng tình mãi thắm
Ngờ đâu mộng dỡ ái đành suy!!!
Quảng Trị, 02/12/21.
Văn Thiên Tùng.

CHIỀU BUÔNG LẶNG LẼ

Bài xướng:
Tần ngần, tôi đứng mãi nơi đây
Trong ánh chiều vương khóm trúc gầy
Bến nước quạnh hiu, bờ vắng lặng
Con đò đơn độc, bóng im ngây
Lao xao gió chuyển trong vòm lá
Rầu rĩ chim gù giữa đám cây
Màn tối dần buông, đành trở gót
Đêm nay nỗi nhớ lại dâng đầy.
Sông Thu,30/11/2021.
THẦM TRÁCH CHIỀU ĐÔNG

Bài họa:
Cứ mỗi chiều buồn lại viếng đây
Nhìn lau nuột trắng tắm heo gầy
Đàn chim soãi cánh nghe trầm mặc
Bầy cuốc giao lời nhã điệu ngây
Ráng ửng chân trời lòe đỉnh núi
Sương là mé suối bủa triền cây
Ai đem đông tới gieo ngần nhớ
Để biển tình ta sóng ngất đầy…
Quảng Trị, 02/12/21.
Văn Thiên Tùng

ĐỘNG THIÊN CUNG

Bài xướng:
Cảnh trời rộng mở giữa lòng hang
Viễn khách chân đưa dạ ngỡ ngàng
Ngọc nhũ nhô nhô phô thắm biếc
Huyền điêu lớp lớp ngợp xanh vàng
Hương non phảng phất trong yên lặng
Hồn biển dạt dào giữa xốn xang
Ngơ ngẩn đường mây tiên giáng thế
Lòng trần mê mẩn luống đa mang
Lý Viễn Giao.

LẠC BƯỚC ĐỘNG TIÊN

Bài họa:
Nhớ đợt ta cùng viếng thạch hang
Thiên nhiên cảnh tác tựa cung vàng
Nhìn lên sắc lóa pha huyền ảo
Ngó xuống âm lèn vọng xệng xang
Cửa uốn vân viền tinh khó tả
Trần cong nhủ thết đẹp ngơ ngàng
Tưởng chừng lạc bước bồng lai cõi
Quay gót lui về dạ đắm mang…
Quảng Trị, 02/12/21.
Văn Thiên Tùng.

ĐÊM KHUYA Ở NHÀ QUÊ

Bài xướng:
Lều tranh lạnh lẽo mấy canh thâu,
Lạnh cỏ cây trời lạnh đến đâu...
Hé cửa nhìn trăng, trăng tái mặt,
Gài then thắp nến, nến rơi châu.
Chiêm bao bóng lẩn Dao Trì động,
Mường tượng hồn chơi thệ thủy cầm.
Năm ngón đường tơ ngồi dậy bấm,
Gió quên than thở dế quên sầu.
Hàn Mặc Tử.

CÔ PHÒNG QUẠNH QUẺ

Bài họa:
Cô phòng quạnh quẻ - quạnh đêm thâu
Quạnh vắng buồn dâng - quạnh hóa sầu
Xót phận nào suôn dầm giọt đắng
Thương đời nỏ thuận nén dòng châu
Vần thơ níu vướng duyên tri kỷ*
Nghiệp dĩ đà vương nợ Mộng Cầm
Mệnh đoản trời ban đâu cưỡng số
Khi lìa cõi tạm chả còn đâu!?
Quảng Trị, 01/12/21.
Văn Thiên Tùng.
* Mai Thanh.








NUỘT NÀ DÁNG NGÀN LAU

NUỘT NÀ DÁNG NGÀN LAU

Bên triền dốc thẳm điệp trùng lau
Trắng nuột rừng hoa - trắng nuột màu
Mặc chớm heo may lay lất ngọn
Hay tàn đông buốt chở che nhau
Mây trời rủ rượi - trời sầu thảm
Cảnh sắc tàn trơ- sắc chẳng nhàu
Tựa thế nhân quần luân vận chuyển
Theo vòng nhật nguyệt điểm phau … phau…
Quảng Trị, 01/12/21.
Văn Thiên Tùng.
 


 


 


 

 

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2021

TRƯỜNG HIỀN LƯƠNG NGHĨA THỤC Q.TRỊ LÊ HỮU THĂNG


BẠN CÓ BIẾT,
NGÔI TRƯỜNG "HIỀN LƯƠNG NGHĨA THỤC" ?
Nhân thắc mắc của nhiều bạn đã từng học trường HLNT :


  • " Chúng mình cùng học trường Hiền Lương Nghĩa Thục , thầy Thái Mộng Hùng làm hiệu trưởng , nhưng học bạ thì tên trường Khai Trí và hiệu trưởng lại là thầy Nguyễn Ngọc Bôi ?
    +Xin cùng nghe Thầy Lê Hữu Thăng trả lời :
Thưa Tất cả !
Tôi, Lê Hữu Thăng, một trong 5 thành viên vận động, sáng lập Trường HIỀN LƯƠNG NGHĨA THỤC ( cùng quý Thầy Thái Mộng Hùng , Lê Văn Mãn, Lê Hữu Nam và Trần Kiêm Đoàn ) .
Lúc bấy giờ, tôi đang giữ chức Đại diện Hồng Thập Tự Vùng I, bên cạnh tôi có một Nhóm HTT Quốc tế..nên văn phòng chúng tôi luôn rộn ràng giao dịch với các tổ chức xã hội trong nước cũng như hải ngoại.
Chiến sự tạm ngưng, số người tỵ nạn trong khu vực Vùng I ước tính đã hơn 1 triệu người. Các tổ chức xã hội lúc bấy giờ đều nhiệt tình tham gia cứu trợ, đặc biệt cho người dân Quảng Trị với thực phẩm, áo quần, chăn mền...( nhưng không có chương trình hỗ trợ giáo dục ). Từ đó , tôi có dịp quen biết với ông Peter Down - Giám đốc Tổ chức Xã hội Tin Lành tại Việt Nam.
Trong một buổi giao hữu thân mật giữa thầy Thái Mộng Hùng, tôi và ông Peter Down ( ông này nói tiếng Việt rất giỏi), chúng tôi đã trình bày và xin ông hỗ trợ mở một trường trung học trong trại tạm cư...Đại khái tổng quát là như thế ! Sau đó, chúng tôi có hẹn gặp ông ta một buổi để trình bày chi tiết hơn.
Buổi họp được tổ chức vài ngay sau đó, có mời một số thầy cô giáo và ông Peter Down . Tôi là thuyết trình viên (tiếng Việt) và thầy Trần Kiêm Đoàn thông dịch những điểm cần thiết. Kết quả, ông ta rất hoan nghênh và đồng ý hỗ trợ 100% dự án, từ kinh phí điều hành đến lương bổng sinh hoạt cho một trường trung học từ lớp 6 đến lớp 11.
Lúc bấy giờ, Trường chia ra 2 khu vực Hoà Khánh và Non Nước. Trường được khai giảng vào tháng 8-1972 ( lúc này, các trường trung-tiểu học của Quảng Trị chưa hoạt động).. với tên trường HIỀN LƯƠNG NGHĨA THỤC do thầy Thái Mộng Hùng làm hiệu trưởng. Đồng hành khai giảng với HLNT, có tổ chức 10 trường tiểu học được mang danh xưng Ái Tử 1 đến Ái Tử 10.
Cũng trong buổi họp và điều trần trên, khi bàn chuyện tiền phụ cấp giờ dạy cho gs , lấy tiểu chuẩn giờ dạy lúc bấy giờ là 130 đồng/giờ....ông Giám đốc tăng lên thành 200 đồng/giờ để góp phần chia sẻ thêm với thầy cô-người tỵ nạn.
Về Hải Lăng sau hồi cư , Trường tiếp tục hoạt động và phát triển tốt đẹp. Trường cũng là nơi hẹn hò của quý thầy Lê Mậu Tâm, Hoàng Văn Liệu, Lê Văn Mãn, Lê Ngọc Dinh, Trần Kiêm Đoàn, Lê Hữu Nam,... còn có Cha Nguyễn Ngọc Hàm dạy Pháp văn ( hiện ở Mỹ ), cha Trần Văn Thanh dạy Anh văn ( hiện ở Pháp) cũng tham gia giảng dạy.
Riêng tôi, vì quá lu bu công việc của Hồng Thập Tự Vùng 1, hỗ trợ cho HTT Huế, HTT Đà Nẵng, HTT Quảng Trị...liên tục lo vận chuyển tặng phẩm của các Tổ chức cứu trợ cho bà con kịp dùng trong những ngày đầu khó khăn..( Nhóm Hs. HTT như Mỹ Liên, Nguyễn Đức Bình, Lê Văn Chánh... đã tham gia cắm trại mấy tuần ở Mỹ Chánh và làm việc không mệt mỏi cho hoạt động này ! ) nên không có thời gian tham gia các hoạt động giảng dạy của nhà trường nữa !
** Tháng 7-1973, sau khi tái chiếm Quảng Trị, chương trình hồi cư được tiến hành, trường HLNT di chuyển ra Quảng Trị và hoạt động trên cơ sở mới vừa xây cất với quy mô 11 phòng, tường gạch, mái tôn, tọa lạc ở cầu Bến đá, xã Hải Trường, quận Hải Lăng.
** Lúc này, thầy Thái Mộng Hùng trở về chức vụ Chánh sự vụ Sở Học chánh Quảng Trị và thầy Nguyễn Ngọc Bôi đảm nhiệm chức vụ hiệu trưởng nhà trường.
** Tháng 10-1974, trường chuẩn bị làm thủ tục để học sinh dự thi Tú tài nhưng vì danh xưng của trường HLNT chưa được Bộ Giáo dục phê duyệt nên trong hồ sơ phải dùng tên Trường Trung học Khai Trí - một ngôi trường có từ trước 72 và thầy Nguyễn Ngọc Bôi đã từng làm Hiệu trưởng.
Xin cám ơn đã theo dõi !
( @baolam đăng lại từ comment của thầy Lê Hữu Thăng )
***************
Ghi chú thêm của @baolam :
+Thêm vài chi tiết liên quan tới lai lịch hình thành và hoạt động của Trường Hiền Lương Nghĩa Thục của thầy Nguyễn Bảo :
- Tên trường HLNT do thầy Nguyễn Bảo đề xuất và được công nhận, tên trường thường gọi tắt là Trường Hiền Lương .
- Trường HLNT đã tổ chức Trại họp bạn toàn trường ở Lăng Cô và lấy tên là Trại Hoa Niên Độ. Tên trại do thầy Nguyễn Bảo đặt tên và cuộc họp phân công cũng đã được tổ chức tại nhà thầy Nguyễn Bảo trong Trại tỵ nạn Hòa Khánh.
-Thầy Nguyễn Bảo cũng đã tham gia giảng dạy các lớp 10B... của Trường HLNT từ đầu ở Trại TC Hoà khánh cho đến khi trường hồi cư về tại Tân Trường, Hải lăng.
************
+Trường Trung học Tư thục Khai Trí được một số nhân sĩ địa phương thành lập năm 1965 tại thôn Đại Hào , xã Triệu Đại, Triệu Phong . Đến năm 1971, Trường ngưng hoạt động vì lý do mất an ninh .
" Thật ra, để mở trường trung học tư thục Khai Trí, nhiều nhân sĩ Triệu Phong đã góp tâm huyết, công sức và của cải; có vị bỏ công vận động, lo thủ tục xin phép như cụ Hoàng Trọng Thuần, làng Phúc Lộc – một lương y thuốc Bắc, cụ Trần Văn Bân, làng Quảng Lượng – một trợ giáo, cụ Nguyễn Ngọc Duệ, làng Đại Hào – một giáo viên và ông Hoàng Xuân Tửu, tỉnh trưởng Quảng Trị thời đó dùng uy tín trong chính quyền đệ đạt đề nghị lên bộ Giáo Dục. Còn để xây trường, các vị sau đây đã góp cổ phần – mỗi cổ phần quy định là 50,000 đồng (theo thời giá lúc ấy, mỗi lượng vàng # 10,000 đồng, nếu trí nhớ của tôi còn tốt):
1- Bà Nguyễn thị Lan sinh 20/02/1892 tại thôn Đại Hào, góp một cổ phần (50,000 đồng);
2- Ông Trần Văn Thạnh sinh 01/02/1911 (1) tại thôn Quảng Lượng, góp nửa cổ phần (25,000 đồng);
3- Ông Nguyễn Văn Cổn sinh 01/6/1912 (2) tại thôn Đại Hào, góp một cổ phần (50,000 đồng);
4- Ông Nguyễn Ngọc Bôi sinh 08/4/1936 tại thôn Đại Hào, góp một cổ phần (50,000 đồng);
5- Ông Nguyễn Đình Viêm sinh (?) tại thôn Quý Lộc, xã Lộc Điền, quận Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, góp một cổ phần (50,000 đồng);
6- Ông Lê Văn Ngọc sinh 07/9/1940 tại Phú Cát, Thừa Thiên, góp một cổ phần (50,000 đồng).
Trường được xây dựng trên đất thôn Đại Hào; ông Nguyễn Ngọc Bôi được cử làm hiệu trưởng ..."
( Đoạn trong dấu "..." được trích từ một bài viết về trường Khai Trí của thầy Hoàng Đằng đã đăng trên trang Đồng môn Nguyễn Hoàng ngày 15.11.2018 để người đọc tiện tham khảo thêm ! @baolam )
+Ảnh minh họa trích từ Album ảnh " Thầy xưa - Bạn cũ " của trang FB Đồng môn Nguyễn Hoàng .
+Comment của Anh Tri : Xin nói thêm về các cổ đông của trường TH Khai Trí:
1-ông Trần Văn Thạnh là thân sinh của các chị Trần Thị Thuỷ An và Trần Thị Nghĩa, chs Nguyễn Hoàng.
2- ông Nguyễn Văn Cổn là thân sinh của các CHS NH : Nguyễn Văn Vinh, Trị, Hà, Tế.
3- Ông Nguyễn Đình Viêm và Lê Văn Ngọc vừa là cổ đông vừa là giáo sư dạy trường Khai Trí. Không rõ các thầy này có dạy trường NH không.
Ngày xưa cha ông và thầy cô chúng ta làm những điều vô cùng ý nghĩa và góp công sức cho việc học tập của thế hệ trẻ. Mừng thay cây tốt có được quả ngọt phải không quý anh chị?