Thứ Ba, 15 tháng 11, 2022

HỆ THỐNG KÊNH ĐÀO VĨNH ĐỊNH NAM QUẢNG TRỊ


TƯ LIỆU LỊCH SỬ THAM KHẢO 

Nhân bài đăng của Đinh Hoa Lư viết về Con đường Ngự kéo dài từ đầu Cửa Hậu - Thành Quảng Trị đến sông Vĩnh Định ( đoạn làng Nại Cửu - xã Triệu Thành, TP). Admin trang Đồng môn NH xin đăng lại bài viết "Sông Vĩnh Định - Tỉnh Quảng Trị qua Châu bản triều Nguyễn" 06:52 PM 09/09/2019
Và bài "SÔNG VĨNH ĐỊNH - QUÁ TRÌNH KHƠI THÔNG DÒNG CHẢY " Đăng trên trang https://archives.org.vn của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 để mọi người cùng tham khảo !
 
 
I/ SÔNG VĨNH ĐỊNH QUA CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN  Đinh Hoa Lư
II/  SÔNG VĨNH ĐỊNH - QUÁ TRÌNH KHƠI THÔNG DÒNG CHẢY
III/  VỀ SÔNG VĨNH ĐỊNH Ở QUẢNG TRỊ Trương Thúy Hậu, Boston

 
 I/ SÔNG VĨNH ĐỊNH  QUA CHÂU BẢN TRIỀU NGUYỄN
Một trong những công trình trị thủy lớn của tỉnh Quảng Trị dưới triều Nguyễn là công trình đào sông Vĩnh Định. Đây là con sông không chỉ quan trọng đối với nông nghiệp, giao thương của Quảng Trị mà nó liên quan trực tiếp đến Kinh sư. Vĩnh Định là 1 trong 8 con sông đào lớn được khơi thông dưới triều Nguyễn. Con sông này được đào và khơi vét nhiều lần,. trải dài từ triều vua Minh Mệnh đến các đời vua sau này. Công trình được khởi công từ mùa xuân tháng 3, năm Ất Dậu, Minh Mệnh thứ 6 (1825) đến ngày 20 tháng 7 năm đó thì hoàn thành.
Con sông đào Vĩnh Định nối liền giữa sông Thạch Hãn ở ngã ba Cổ Thành đến sông Lương Điền, thông vào phá Tam Giang nối liền với kinh đô Huế với chiều dài khoảng 17 dặm (hơn 7.5km). Đây là con đường thủy nội địa huyết mạch quan trọng dưới triều Nguyễn.Công việc đào sông Vĩnh Định được vua Minh Mệnh đặc biệt chú ý quan tâm. Trước khi tiến hành đào sông, vua Minh Mệnh ban chiếu cho Phan Văn Thúy đem theo Giám thành đến doanh Quảng Trị, phối hợp cùng doanh thần trong hạt điều tra, khám xét địa thế để xem có thuận tiện cho việc khai đào không? Đồng thời đã cho vẽ họa đồ khu vực định khai sông, có cắm hoa tiêu ghi chú. Phan Văn Thúy dựa vào họa đồ cho binh dân đào thử một hai đoạn để xem xét đất cát ở các khu vực trước khi tiến hành đào. Ngoài việc khảo sát họa đồ dự định đào con sông mới, Phan Văn Thúy còn phải khám xét hình thể sông cũ tâu lên rõ ràng để nhà vua quyết định.
Sau khi hoàn thành việc đào sông, trải qua các triều vua sau này con sông này liên tục được tu bổ, nạo vét và khơi thông. Trong tờ tấu của Bộ Công ngày 20 tháng 6 năm Tự Đức thứ 21 (1867), cho biết “ngày mồng 6 tháng này nhận được tập tấu của Lãnh quản đạo Quảng Trị Trần Ngọc Lý trình rằng: Ngày tháng 8 năm ngoái, nhận được cung lục của bộ thần trong đó trình tập tấu của các viên Khâm phái trình việc phúc khám sông Vĩnh Định. Trong đó trình rằng con sông ấy đoạn nào nông cạn, thuê dân hạt nạo vét. Còn như việc xin đình bãi thu thuế sông hai năm, bộ thần thấy đề nghị đó hợp lý. Xin đợi chỉ thực hiện.” (1)
 
Vua Tự Đức đã châu điểm cho tiến hành như phúc trình của Bộ Công. Ngay sau đó công việc khơi vét lại sông Vĩnh Định được tiến hành và đến tháng 7 thì hoàn thành. Tháng 5, năm Giáp Thân, niên hiệu Kiến Phúc năm thứ nhất (1884), triều đình cho khơi vét sông cũ Vĩnh Định ở Quảng Trị. Sông ấy vốn có mạch cát hễ khơi lên thì lại bị đầy, rồi sau mới khơi sông mới ; nước cát chưa chảy, sông cũ lại bị bồi lấp nhiều. Bốn tổng thuộc huyện Hải Lăng là: Câu Hoan, An Thư, An Nhân, An Thái, ruộng mùa rất nhiều, sông cũ không khơi, thì ruộng bị nước ngập, dân bốn tổng ấy xin xuất tài lực, thẳng khơi một đoạn ở hai xã Kim Lung, Kim Giao, lược vét một đoạn từ xã Kim Lung đến xã Hội An đều cho phép làm để tiện việc cấy ruộng mùa.
Bản tấu ngày mùng 5 tháng 9 năm Thành Thái 9 (1897) của Bộ Công về việc nạo vét sông: “Ngày 14 tháng này nhận được tờ tư của quyền hộ Phủ thần Trị Bình Phan Huy Quán trình bầy: Tỉnh ấy đào ngòi sông Vĩnh Định, ngày 18 tháng trước đào xong, tạm xuất tiền kẽm để mua sắm các hạng vật liệu cộng tiền là 180 quan.Ở bên sông có lập đàn làm lễ tạ, công việc xong, số tiền cho việc này có nên chăng được chuẩn cho thanh toán, làm tờ tư xin xem xét. Bộ thần vâng xét việc đào ngòi rãnh ở sông này vào năm Thành Thái nguyên niên, có mua sắm các lễ phẩm để làm lẽ tạ, các khoản tiền bao nhiêu được chuẩn cho quyết toán. Nay việc đào ngòi ở sông này đã xong mua sắm các lễ phẩm lễ tạ mua sắm hết số tiền như vậy xin được chiếu theo lệ trước đây chuẩn cho quyết toán. Dám xin tâu trình. Chờ chỉ sao lục tuân theo” (2
Nhiều lần các vua triều Nguyễn ngự tuần ra Bắc đều đi qua con sông này. Năm thứ 17 (1836) vua ngự ra Quảng Trị, ngự châu kinh qua đường sông, phụng ngự chế thi- chương chạm bia đá dựng ở phía nam bờ sông. Năm ấy đúc 9 cái đỉnh lấy hình sông này chạm vào Thuần Đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) đại giá Bắc tuần phụng ngự chế thi chương chạm vào bia dựng ở bờ sông. Ngày nay đi qua địa phận xóm Cồn Đống làng Cu Hoan xã Hải Thiện huyện Hải Lăng vẫn còn thấy hai bài văn bia do vua Minh Mệnh và Thiệu Trị ngự chế trong đợt Bắc tuần đi qua sông Vĩnh Định. Mặc dù đạn bắn làm mất nhiều chữ nhưng nhìn chung vẫn có thể đọc được cơ bản nội dung của hai bài văn bia. Bài văn bia do vua Minh Mệnh viết có tựa đề Ngự chế quá Vĩnh Định hà đề御製過永定河題, Minh Mệnh thập thất niên thất nguyệt nhị thập cửu nhật 明命十七年七月二十九日(1836). Trong bài văn bia này lược thuật lại quá trình đào sông sau đó là một bài thơ do vua Minh Mệnh làm ca ngợi cảnh đẹp của sông. Bài văn bia do vua Thiệu Trị viết có tựa đề Quá Vĩnh Định hà cảm tác 過永定河感作, Thiệu Trị nhị niên thập nhị nguyệt cát nhật cung thuyên. Ngự chế thi nhất thủ” 紹治二年十二月吉日恭鐫御製詩一首 (1842).
 
Bài văn bia ngự chế vua Minh Mệnh viết:
過永定河留題 (十二韻 )
此原有水渠, 竟被浮沙積
梗阻往來船 , 幾為平陸地
曾聞昔屢開 , 終見功難遂(a)
豈憚一時勞 , 務期萬世利
僱夫即起工 , 發帑急修治
十里鑿成河(b) , 九旬纔蕆事
國家運道通 , 商賈周行易
也識協民情 , 回思動我意
在是在非間 , 為己為人異
客舫本常過 , 御舟三兩至
何須費自評 , 弗若付公議(c)
略敘表衷懷 , 長篇聊以誌
 
Quá Vĩnh Định hà lưu đề (thập nhị vận)
Thử nguyên hữu thủy cừ, Cánh bị phù sa tích.
Ngạnh trở vãng lai thuyền, Cơ vi bình lục địa.
Tằng văn tích lũ khai, Chung kiến công nan toại.
Khởi đạn nhất thời lao, Vụ kì vạn thế lợi.
Cố phu tức khởi công, Phát nô cấp tu trị.
Thập lí tạc thành hà, Cửu tuần tài siển sự.
Quốc gia vận đạo thông, Thương cổ chu hành dị.
Dã thức hiệp dân tình, Hồi tư động ngã ý.
Tại thị tại phi gian, Vi kỉ vi nhân dị.
Khách phảng bổn thường quá, Ngự chu tam lưỡng chí.
Hà tu phí tự bình, Phất nhược phó công nghị.
Lược từ biểu trung hoài, Trường thiên liêu dĩ chí.
Dịch nghĩa:
Qua sông Vĩnh Định làm một bài thơ lưu lại (thơ 12 vần)
Nơi này nguyên đã có con lạch nhỏ, rút cuộc bị phù sa bồi lấp.
Ngăn trở việc đi lại của tàu thuyền, nguy cơ trở thành đất bằng.
Từng nghe rằng trước đây đã mấy lần nạo vét, cuối cùng chẳng thấy thành công.
Há sợ vất vả khó nhọc, để đến mùa vụ muôn đời hưởng lợi.
Thuê dân phuc lập tức khởi công, cấp phát ngân khố để mau mau sửa trị.
Đào mười dặm đã thành sông, trong chín tuần mà việc đã hoàn thành.
Việc vận chuyển của đất nước đã thông suốt, thương khách đi lại dễ dàng.
Cũng biết đó là việc hợp với tình dân, nghĩ đi nghĩ lại lay động ý ta.
Trên thế gian có đúng có sai, mưu lợi cho mình hay cho người cũng khác.
Khách buôn vốn thường đi qua, thuyền ngự ba lần đi đến.
Việc gì phí lời bình phẩm, cũng chẳng cần phải để công chúng bàn bạc.
Mưu tính đã rõ trong lòng ta, nên làm bài thơ dài để mà ghi lại.
Nguyên chú:
此處原有小江, 惟淺且狹, 復屈曲縈迴下多浮沙噴上. 前朝列聖遞年頻發兵民開浚以通運道, 旋復淤塞難以卒成馴. 至明命初年芳榔詩翁等社一帶乾涸甚至徒步可步往來船艘以人代運公私之苦之重念廣治為畿輔近地, 若水路不通所關匪細, 爰於明命陸年命神策軍後營副都統制潘文璻雇撥民夫三千七百名從忠丹社起至勻涇社止長一千七百二十三丈零成十二里有奇曲者直之淺者深之, 前後三月零十八日始成命為永定河僱價共錢六萬四千六百餘貫米二萬九千四百餘方以期萬民之利多費國帑弗靳也.
Dịch nghĩa: 
Nơi này nguyên là có một dòng sông nhỏ, tuy vậy nó vừa cạn vừa hẹp, lại nhiều khúc cong, phí dưới sông nhiều phù sa bồi đắp. Các liệt thánh triều trước nhiều lần phát binh dân đề khơi thông dòng chảy để vận chuyển được thông suốt, lại nhiều lần bị ngẽn tắc khó có thể hoàn thành được.đến đầu đời vua Minh Mệnh các xã Phương Lang, Thi Ông một dải bị khô hạn, thậm chí có thể đi bộ vượt sông được, thuyền bè qua lại phải dùng người để vận chuyển việc công tư thật là khó nhọc, nghĩ đến Quảng Trị là vùng đất phụ cận Kinh Kì, nếu đường thủy không thông, việc thật không nhỏ, bèn đến năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) lệnh cho Hậu phó lý Đô thống Thần sách quân Phan Văn Thúy thuê dân phu 3700 người đào từ xã Trung Đan đến xã Quân Kinh thì dừng lại, chiều dài là 1723 trượng khoảng 12 dặm, có nơi cong nơi thẳng, nơi cạn nơi sâu, trước sau 3 tháng 18 ngày thì hoàn thành, mệnh đặt tên là sông Vĩnh Định, tiền thuê tổng cộng hơn 6 vạn 4 nghìn 6 trăm quan, thóc hết hơn 2 vạn 9 nghìn 4 trăm phương, đến mùa dân hưởng lợi, nhiều tiền quốc khố chẳng thể dè xẻn (3).
Ngày nay tuy có nhiều đoạn bị thu hẹp và bồi lấp nhưng hiện nay sông Vĩnh Định vẫn có vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp nước tưới tiêu cho các xã thôn thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị.
Từ công trình đào sông Vĩnh Định dưới triều Minh Mệnh, chúng ta có thể thấy được chính sách trọng nông của nhà Nguyễn. Sông Vĩnh Định cùng với một loạt công trình trị thủy và thủy lợi khác được tiến hành trải dài trên khắp đất nước từ Bắc vào Nam như các con sông đào: Lợi Nông (ở kinh đô Huế đào năm 1814); sông Thoại Hà (còn gọi là kênh Long Xuyên - Rạch Giá đào năm 1818); sông Vĩnh Tế (nối Châu Đốc và Hà Tiên đào năm 1819); sông Vĩnh Điện (ở Quảng Nam đào năm 1825); sông Cửu Yên (ở Hưng Yên đào năm 1835) và sông Phổ Lợi (ở Huế đào năm 1836)... ngày nay vẫn còn phát huy tác dụng trong việc tưới tiêu dẫn thủy nhập điền và giao thông đi lại mang lại bao lợi ích cho người dân.
Chú thích:
Châu bản triều Tự Đức, tập 174, tờ 282.
Châu bản triều Thành Thái, tập 31, tờ 122.
Minh Mệnh, Ngự chế thi tứ tập, ký hiệu A.134d/1-2, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Hoàng Nguyệt – Phòng Công bố- Giới thiệu tài liệu
-----------------------
-----------------------
II/  SÔNG VĨNH ĐỊNH - QUÁ TRÌNH KHƠI THÔNG DÒNG CHẢY
 
Theo ông Nguyễn Phước Hải Trung trong bài viết về 8 con sông đào lớn ở Việt Nam: “Nhìn lại lịch sử chúng ta thấy rằng việc đầu tư cho thuỷ lợi, giao thông vận tải dưới triều Nguyễn chiếm một phần đáng kể trong ngân khố triều đình thời bấy giờ.
Ðiều này được đề cập trong nhiều cứ liệu lịch sử, chẳng hạn như đã có đến gần 60 lần các vua đầu triều Nguyễn ban chỉ dụ về việc đào sông, nạo vét sông ngòi, kênh rạch... ở 15 tỉnh trong cả nước được đề cập trong Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ. Tất cả những điều ấy nói lên tầm quan trọng của hệ thống sông ngòi trong nhiều mặt, không những có vai trò và tác dụng to lớn về giao thông vận tải, thuỷ lợi mà còn tác động tích cực đến nông nghiệp, quốc phòng và môi trường sinh thái”. 
Thực tế cho thấy khoảng 30 năm trong 3 đời vua đầu triều Nguyễn đã cho đào 8 con sông lớn trên lãnh thổ Việt Nam, không kể các dòng sông nhỏ, hệ thống kênh rạch và ngay cả các hồ bên ngoài kinh thành Huế. Với khoảng 500 km đường sông với quy mô lớn nhỏ khác nhau. Trong đó miền trung đã cho có 4 con sông nạo vét và mở rộng 4 con sông lớn như sông Vinh Điện (Quảng Nam - năm 1824), sông Vĩnh Định (Quảng Trị - năm 1824), sông Phổ Lợi (Thừa Thiên Huế - năm 1835) và sông An Cựu (Thừa Thiên Huế - năm 1814) (1).
Một trong những công trình thủy lợi ở Quảng Trị dưới triều Nguyễn là đào sông Vĩnh Định. Đây là con sông không chỉ quan trọng đối với nông nghiệp, giao thương của Quảng Trị mà còn liên quan trực tiếp đến Kinh sư – kinh đô Huế.
Con sông đào Vĩnh Định nối liền giữa sông Thạch Hãn (ở ngã ba Cổ Thành) đến sông Lương Điền, thông vào phá Tam Giang nối liền kinh đô Huế với chiều dài khoảng 17 dặm (hơn 7,5km). Đây là con đường thủy nội địa huyết mạch quan trọng dưới triều Nguyễn. Con sông này được đào và nạo vét nhiều lần, trải dài từ triều Minh Mệnh đến các triều Thiệu Trị, Tự Đức và các vua sau này. “Đại Nam nhất thống chí” ghi về sông Vĩnh Định: “Ở phía đông lỵ sở cũ huyện Hải Lăng, chia ra từ ngã ba Cổ Thành sông Thạch hãn, chảy về phía đông nam 12 dặm, qua xã La Duy có khe Mai Đàn từ phía tây chảy vào. Lại chừng 16 dặm, qua xã Trung Đan, khe Trường Sinh từ phía tây chảy vào, lại chừng 7 dặm thì vào sông Lương Điền... Năm Ất Dậu Minh Mệnh thứ 6 (1825), sai Thống chế Phan Văn Thúy đốc binh dân khai đào từ xã Câu Kênh đến xã Trung Đan gồm 1.720 trượng (một trượng bằng 4,7m), ba tháng thì xong, bèn cho tên hiện nay. Năm thứ 17, xa giá đi tuần Quảng Trị, thuyền ngự đi qua sông này, có thơ ngự chế khắc vào đá và dựng nhà bia ở bờ phía nam sông; cùng năm ấy đúc Cửu Đỉnh, khắc tượng vào Thuần Đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1844) xa giá Bắc tuần, có thơ ngự chế khắc vào bia dựng ở bờ sông” (2).
Công việc đào sông Vĩnh Định được vua Minh Mệnh và các triều vua khác như Tự Đức, Thành Thái đặc biệt chú ý quan tâm. Hiện nay trong kho Châu bản triều Nguyễn bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I có rất nhiều bản tấu báo cáo về tiến độ thi công và kết quả đạt được công trình này.
Trước khi tiến hành đào sông, vua Minh Mạng ban chiếu cho Phạm Văn Thúy đem theo Giám thành đến doanh Quảng Trị, phối hợp cùng doanh thần trong hạt điều tra, khám xét địa thế để xem có thuận tiện cho việc đào sông hay không? Trước đó, Vua Minh Mệnh đã cho vẽ họa đồ khu vực khai sông, cắm tiêu ghi chú. Phan Văn Thúy dựa vào họa đồ cho binh dân đào thử một, hai đoạn để xem xét cát ở khu vực đó có thể khai đào được hay không? Ngoài việc khảo sát họa đồ dự định đào sông mới, Phan Văn Thúy còn phải khám xét hình thể sông như cũ tâu lên rõ ràng để vua quyết định (3)
Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) vua đã ra chỉ dụ cho Nguyễn Hữu Thận cấp tiền gạo cho dân hai hạt Quảng Trị và Thừa Thiên chuyên tâm làm việc. Bản chỉ dụ nêu rõ: “Các dân phu Thừa Thiên, Quảng Trị được phái nạo vét khơi thông sông Vĩnh Định lần này, đã giáng chỉ cấp cho tiền gạo. Nay nghĩ, kỳ nạo vét khơi thông đã gần tới mà doanh ấy nhất thời giải quyết, thì có thể có điều thiếu thốn. Cho Bộ Hộ theo như lệ định, phát trước cho 2000 dân phu Thừa Thiên 1 tháng tiền, gạo ở Kinh. Còn 1700 dân phu Quảng Trị thì cho thần doanh ấy đem tiền, gạo ở doanh đến tận công trường ngoài sông mà cấp phát. Đến tháng sau trở đi phàm tiền, gạo phải cho cho toàn bộ dân phu đến làm việc ấy, đều cho doanh thần doanh ấy tiếp tục chuyển đến công trường cấp phát. Về dân công tàu thuyền cần lấy để vận chuyển thì liệu mà thuê, mua. Khi xong việc, tất cả đều tâu nên, chuẩn cho quyết toán”(5). 
Cũng trong ngày 29 tháng 3, năm Minh Mệnh thứ 6 (1825) vua lại tiếp tục ra 1 chỉ dụ về việc cấp phát thuốc và cử lương y đến để chữa bệnh do dân phu tham gia khơi đào sông Vĩnh Định. Vua Minh Mệnh nêu rõ: “Các dân phu Quảng Trị, Thừa Thiên được phái đi nạo vét khơi thông sông Vĩnh Định lần này, nghĩ rằng thời tiết đang lúc nóng lực, người phải làm việc, khó tránh khỏi mắc bệnh tật càng thêm thương xót. Truyền bộ gửi tờ tư cho doanh thần Quảng Trị phái người lãnh nhận ở Kinh 8 cân nguyên thọ là vị thuốc điều trị, 2 đơn thuốc đem về cất giữ. Lại chọn điều 5 người ở ty Lương y doanh ấy, chia đóng ở ngoài công trường sông, thăm xem cho những người dân đến làm việc ấy, tùy chứng bệnh mà cấp thuốc. hoặc thuốc trong hai đơn này có những vị cần dùng mà không đủ thì lập tức chuẩn cho doanh ấy lấy tiền kho mua thêm, tiếp tục phát cho điều trị (6).
Ngày nay, đi qua địa phận xóm Cồn Đống làng Cu Hoan xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng vẫn còn thấy hai bài văn bia do vua Minh Mệnh và Thiệu Trị ngự chế trong đợt bắc tuần đi qua sông Vĩnh Định. Mặc dù chiến tranh và thời gian làm mất nhiều chữ nhưng nhìn chung vẫn có thể đọc được cơ bản nội dung của hai bài văn bia. Bài văn bia do vua Minh Mệnh viết có tựa đề Ngự chế quá Vĩnh Định hà đề 御製過永定河題 năm Minh Mệnh 17 (1836). Bài văn bia này lược thuật lại quá trình đào sông, sau đó là một bài thơ do vua Minh Mệnh làm ca ngợi cảnh đẹp của sông. Bài văn bia do vua Thiệu Trị viết có tựa đề Quá Vĩnh Định hà cảm tác 過永定河感作năm Thiệu Trị thứ 2 (1842).
Ngày nay, những cánh đồng lúa xanh mướt ở hai huyện Hải Lăng, Triệu Phong vẫn được hưởng phù sa và nước tưới của con sông này.
Chú thích.
Đại Nam nhất thống chí, tập 1, Nxb Lao động, 2012, tr 119-459.
Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006, tr 174-175.
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 13, Nxb Thuận Hóa, 1993, tr213.
Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ - Tập 13, NXB Thuận Hóa, Huế, 1994, tr 213.
Châu bản triều Minh Mệnh, tập 10, tờ 69.
Châu bản triều Minh Mệnh, tập 10, tờ 70.
 
III/ TƯ LIỆU LỊCH SỬ THAM KHẢO !
VỀ SÔNG VĨNH ĐỊNH Ở QUẢNG TRỊ
Xin giới thiệu với cả Làng ta một bài viết về con sông đào Vĩnh Định nối dòng Thạch Hãn từ Chợ Sãi làng Cổ Thành, Triệu Phong, Quảng Trị đi qua các làng xã của huyện Triệu Phong, Hải Lăng trước khi nhập vào sông Ô Lâu và đổ vào phá Tam Giang khu vực huyện Phong Điền, Thừa Thiên-Huế. Sông đào Vĩnh Định được khởi công vào thời vua Minh Mạng triều Nhà Nguyễn. Đây là bài thứ 3 trong chùm bài tham khảo viết về con sông đào Vĩnh Định.

SÔNG VĨNH ĐỊNH
+Tác giả : Trương Thúy Hậu
+Nguồn : Sông Vĩnh Định | Hội Đồng Hương Quảng Trị (hoidonghuongquangtri.com)
*****
Sông Vĩnh Định (永定河) là một phụ lưu của sông Thạch Hãn, chảy theo hướng Đông Nam, từ làng Cổ Thành đến làng Xuân Viên, dài khoảng 20km, rồi nhập vào sông Ô Lâu, đổ ra phá Tam Giang.(Hình phải: sông Vĩnh Định đoạn chảy qua làng Ngô Xá Đông, ảnh chụp 2021- Bs.NCV).
Tài liệu lịch sử để lại không thấy ghi tên sông mãi cho đến năm 1825, vua Minh Mạng cho đào 7.5km thẳng từ làng Câu Kênh cho đến làng Trung Đan và đặt tên là Vĩnh Định. Từ đó giòng sông thiên nhiên này được mang tên là sông Vĩnh Định.
Về địa lý, sông Vĩnh Định từ ngã ba làng Cổ Thành chảy quá 2.2 km đến Ba Bến, sông chẻ giòng làm 2 :
– Nhánh phụ dài khoảng 15 km từ Ba Bến chảy theo hướng tây bắc qua các xã thuộc huyện Triệu Phong: Triệu Thành,Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, nhập cùng sông Thạch Hãn (và sông Hiếu) đổ ra Cửa Việt .
– Nhánh chính, nguyên thủy khi chưa đào (xem không ảnh) chảy theo hướng đông nam. Từ Ba Bến sông chảy khoảng 2.3km thì gặp sông Nhùng từ phía Tây huyện Đa Krông đổ xuống tại làng Văn Vận( xã Hải Quy), chảy qua các làng Trà Trì, Phú Xuân, Trà Lộc, Duân Kinh, La Duy(xã Hải Xuân),Ngô Xá Đông, Xuân Dương, Tam Hữu (xã Triệu Trung), Phương Lang, Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi(xã Hải Ba) đến Hội Yên(xã Hải Quế),qua các làng mạc giữa 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng (cập nhật bổ túc).
Tại ngã 3 Hội Yên, sông Vĩnh Định lại chia 2 nhánh :
– Nhánh mạn Đông là chính, chảy song song quốc lộ 49C và bờ biển, cách bờ khoảng hơn 6km, đoạn sông này dài khoảng 6km từ làng Hội Yên chảy qua các làng Đơn Quế, Kim Long (xã Hải Quế) và Kim Giao, Diên Khánh, An Nhơn, Đông Dương, Xuân Viên (xã Hải Dương), đổ ra sông Ô Lâu, đi thuyền thêm khoảng 13km thì đến phá Tam Giang .
– Nhánh mạn Tây dài khoảng 5km chảy qua làng Trung Đơn, Kim Sanh, Phước Điền (xã Hải Thành)rồi cũng đổ ra sông Ô Lâu. Cũng tại hói Dét làng Trung Đơn, một nhánh nhỏ nối sông Ô giang, phụ lưu sông Ô Lâu chảy dọc theo ra tới xóm Càng. Cửa 2 nhánh sông mạn Tây này ở sông Ô Lâu cách nhau 3.2km, ôm trọn ranh giới phía Nam xã Hải Thành.
Sông Vĩnh Định là sông thiên nhiên từ bao đời, nhưng do bị bồi đắp hằng năm, nên qua lịch sử có ghi lại như sau:
– Tháng 5 năm 1681, chúa Nguyễn Phúc Tần cho đào kênh Trung Đan, chúa đích thân ra xem.
– Năm 1693, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, lại cho đào kênh Trung Đan.
– Năm 1819 vua Gia long, cho khảo sát đào sông Vĩnh Định, năm sau Vua băng hà(1820), phải đến 5 năm sau vua Minh Mạng mới kịp cho đào.
Tháng 3 năm 1825, vua Minh Mạng cho đào đoạn sông mới thẳng tắp 7.5km(như con số 1) từ Câu Kênh(Duân Kênh) đến Trung Đan(hói Dét,Trung Đơn), qua các làng Lam Thủy, Thi Ông, Cu Hoan, Hội Yên . Chiều dài đoạn sông này là: Câu Kênh-Hội Yên 5.5km, và Hội Yên-Trung Đan 2km, nối sông Ô Giang (17 năm sau khi đào xong, năm 1842 vua Thiệu Trị tuần du ra Bắc, vào địa phận tỉnh Quảng Trị theo đoạn sông này, trạm đầu ghé lại nghỉ tại làng Trung Đan, và có bài thơ Trung Đan tọa lạc ngọ đình, bài thơ được khắc in trong Ngự chế Bắc tuần thi tập. Cùng theo vua Thiệu Trị trong chuyến Bắc tuần này có quý phi Từ Dũ, mà con trai trưởng là vua Tự Đức sau này tôn lên làm Hoàng thái hậu (1849).
Lý do nhà Vua cho đào đoạn sông mới là vì, dòng sông cũ từ ngã ba làng Câu Kênh, La Duy, Ngô Xá Đông quật góc gần 90°, giòng sông khúc khuỷu(như con số 3) dài khoảng 5.5km chảy qua các làng La Duy, Xuân Dương, Tam Hữu, Phương Lang, Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi, Hội Yên bị bồi đắp, nước khó thoát, gây lũ lụt trầm trọng. Sau năm 1825 khi đã đào xong sông mới thì đoạn sông cũ chảy qua các làng này, được gọi là (xem không ảnh) Sông Vĩnh Định cũ hay Cựu hà Vĩnh Định.
Nguyên chú văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề dựng tại Cồn Đống, bên bờ sông Vĩnh Định viết:.. 前後 三月零十八日始成命為永定河 …tiền hậu tam nguyệt linh thập bát nhật thủy thành, mệnh vi Vĩnh Định hà… Đào 3 tháng 18 ngày thì xong, bèn đặt cho tên là sông Vĩnh Định.
Việc đào sông Vĩnh Định, Đại Nam Thống Nhất Chí ghi :
…”Năm Ất Dậu Minh Mệnh thứ 6(1825), sai Thống chế Phan Văn Thúy đốc dân phu khai đào từ xã Câu Kênh đến xã Trung Đan dài 1.720 trượng (một trượng bằng 4,7m), ba tháng thì xong, bèn cho tên hiện nay. Năm thứ 17, xa giá đi tuần Quảng Trị, thuyền ngự đi qua sông này, có thơ ngự chế khắc vào đá và dựng nhà bia ở bờ phía nam sông; cùng năm ấy đúc Cửu Đỉnh, khắc hình sông vào Thuần đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1844) xa giá Bắc tuần, có thơ ngự chế khắc vào bia dựng ở bờ sông”.
Công tác đào sông do Phan Văn Thúy (1758-1833), người làng Đạo Đầu, một trong 13 danh tướng triều Nguyễn đốc công chỉ huy và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831),Thượng thư bộ Hộ, người làng Đại Hòa, phủ Triệu Phong phụ trách cung cấp tiền bac, lương thực, thuốc men.
Các Châu Bản Triều Nguyễn còn lưu trữ được các bản tấu về việc thi công như sau:
– Phan Văn Thúy cùng các quan bản địa xem xét, điều tra địa thế, đào thử vài đoạn khảo sát đất cát tầng đáy, cắm tiêu ghi chú…chiều ngang 6 trượng, chiều sâu gần 1 trượng tùy chỗ, đốc công 2.000 dân phu Huế và 1.700 dân phu Quảng Trị, đào sông.
– Nguyễn Hữu Thận, cấp tiền, gạo hàng tháng ngay tại công trường. Ngoài ra, Vua còn chỉ dụ việc cấp phát thuốc men, cử toán lương y chăm sóc dân phu tại chỗ.(hình phải) theo chỉ dụ của vua Minh Mệnh .
Văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề, có ghi liệt kê tổng kinh phí đào sông:
– Tiền : hơn 6 vạn 4 nghìn 6 trăm quan .
– Thóc: hơn 2 vạn 9 nghìn 4 trăm phương.
Cũng nên thêm là năm Ất Dậu 1825, vùng đất Quảng Trị, Thừa Thiên gặp thiên tai, nắng hạn, mất mùa đói kém, dân không có việc làm nên việc đốc công đào sông gặp thuận lợi. Công dân phu được trả bằng thóc và tiền tại chỗ hàng tháng. Đất mặt bằng trưng dụng đào sông, nhà cửa, mồ mã nếu có, di dời được bồi thường thỏa đáng, dụng cụ cuốc xẻng xuất tiền công mua sắm, không đụng đến của dân. Nhà Vua viết: Từ vất vả khó nhọc một lần, để hưởng lợi muôn đời(Khởi đạn nhất thời lao, vụ kì vạn thế lợi).
Tại xóm Cồn Đống, làng Cu Hoan hiện còn hai tấm bia cao 2m, rộng 1m tạc ghi :
– Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề (御製過永定河題) của vua Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) lược thuật quá trình đào sông và thơ của Vua ca ngợi cảnh đẹp của sông (hình phải).
– Quá Vĩnh Định hà cảm tác (過永定河感作) thơ cảm tác của vua Thiệu Trị, năm thứ 2 (1842) khi tuần du qua sông.
Đầu đời 2 triều Nguyễn(1802-1841), sau khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, nước ta vốn thái bình thịnh trị, nhất là dưới triều vua Minh Mạng(1820- 1841),quân sự hùng manh, kinh tế phát triển, xã hội ổn đinh…Về mặt văn hóa mỹ thuật, năm 1835 nhà Vua cho đúc Cửu đỉnh, là 9 cái đỉnh bằng đồng, đặt ở trước sân Thế miếu trong Hoàng thành Huế, trong đó Thuần đỉnh đúc nổi hình 2 con sông Thạch Hãn và Vĩnh Định (hình phải).
Danh xưng đơn vị hành chánh Quảng Trị thời gian này là doanh Quảng Trị, năm 1827 đổi thành Trấn, năm 1832 đổi thành Tỉnh và lập bản doanh tại làng Thạch Hãn. Tương truyền trong thời gian này, vị thế ngã 3 sông Vĩnh Định là La Duy-Duân Kênh-Ngô Xá Đông cũng là địa điểm tỉnh lỵ thứ nhì nằm trong dự tính của vua Minh Mạng.
Sau khi đào sông xong(1825), thỉnh thoảng tiếp tục công tác nạo vét sông vẫn được tiếp tục thực hiện, Châu bản triều Nguyễn ghi chép :
– Niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 3(1844)Vua cho khai vét một vài đoạn trên sông.
– 42 năm sau, năm 1867 vua Tự Đức thuận theo tờ tấu của bộ Công, cho nạo vét lại giòng sông.
– Niên hiệu Kiến Phúc năm thứ 1(1884) Vua cho nạo vét giòng sông cũ(cựu Vĩnh Định hà)đoạn qua các làng Câu Hoan, An Thư, An Thái vì sông cũ bị bồi lấp nhiều, không khơi thì ruộng bị nước ngập, dân bốn tổng ấy xin xuất tài lực, thẳng khơi một đoạn ở hai xã Kim Lung, Kim Giao, lược vét một đoạn từ xã Kim Long đến xã Hội Yên đều cho phép làm để tiện việc cấy ruộng mùa.
– Năm 1897, vua Thành Thái cho nạo vét lại sông, đoạn từ làng Đồng Dương, Diên Khánh, Kim Giao thuộc xã Hải Dương qua thôn Kim Long, Đơn Quế, Hội Yên thuộc xã Hải Quế, đến Đa Nghi, xã Hải Ba nhằm khai thông sinh thái và môi trường khu vực này, vốn bị thiệt hại sau hơn 70 năm từ khi có sông đào 7.5km, như đã nêu trên.
Tưởng cũng nên biết rằng trong số 8 con sông đào trong thời gian 30 năm đầu của 3 triều Vua nhà Nguyễn, có 3 con sông được đặt tên đầu bằng chữ Vĩnh, ngụ ý mong muốn về lâu dài và đều được khắc lên Cửu đỉnh là:
– Kênh Vĩnh Tế, dài 90km nối Châu Đốc và Hà Tiên, đào năm 1819 thời cuối triều vua Gia Long.
– sông Vĩnh Điện thiên nhiên dài khoảng 23km(xem không ảnh)từ đầu ngã sông Thu Bồn, xã Điện Phong đến ngã ba gặp sông Vu Gia tại địa ranh 3 xã xã Hòa Phước, Hòa Xuân, Hòa Quý. Vua Minh Mạng cho đào, vét, nới rộng 2 lần(1822,1824), khơi thông giòng từ Câu Nhi, xã Điện An đến Cẩm Sa, xã Điện Nam dài 1.647 trượng tức khoảng 7.2km, để thông nước 2 hệ thống sông Thu Bồn và sông Vu Gia.
– và sông Vĩnh Định .
Hiện tại trong các bài viết về tỉnh Quảng Trị, có tác giả Lê Quang Thái, trong bài Quảng Trị ơi, đất sao đất lạ lùng đăng trên tạp chí Cửa Việt(2014) viết:
…”Tháng tư năm Ất Mùi, Minh Mạng năm thứ 16 (1835) nhà Vua ngự ở từ kinh đô ra hành cung trong thành Quảng Trị bằng đường thủy. Từ Huế theo Sông Hương, sông Gia Hội ra Phá Tam Giang rồi theo sông Vĩnh Định đến sông Thạch Hãn.
Vua bảo với các quan hầu rằng: “Ngày trước ta đi thuyền đến địa phận xã Ngô Xá, trông thấy một người đàn bà già, sai hỏi tuổi thì người ấy nói rằng đã 117 tuổi chưa biết có xác thực hay không, nhưng đại phàm người chỗ mạch đất núi sông thanh tú thì phần nhiều thọ, hoặc già cũng có lý đấy”…
Nhân dịp này nhà vua bèn sai đẩy xe đi xem tường thành mới xây đắp, thấy các kỳ lão thuộc hạt Quảng Trị đang đứng đón để chiêm bái. Các cụ già có người đi chậm không theo kịp, khiến các bậc quan phủ huyện phải cõng các bậc trưởng lão đi.
Vua Minh Mạng có óc hài hước lại có tính hay giỡn như vua cha vậy. nhà Vua liền cười duyên và nói rằng: “Lũ ấy ngày thường làm cha mẹ dân, nay cõng người già đến chiêm bái thì hầu như con của dân rồi !”
Trong bối cảnh lịch sử kỳ thú này, thì có sự trùng phùng của “Dân chi phụ mẫu” với “Phụ mẫu chi dân” mà bình thường hay nhầm lẫn.”…
Theo dòng lịch sử, các cuộc chiến trên dòng sông Vĩnh Định được ghi nhận như sau :
– Năm 1470, vua Lê Thánh Tông mang quân chinh phạt Chiêm Thành, bị quân Chiêm Thành phục kích tại Cổ Lũy, thuộc cựu Vĩnh Định hà.
– Tương truyền năm 1572 danh tướng nhà Mạc, Lập Bạo bị chúa Nguyển Hoàng lập kế bắt tại bờ sông Thạch Hãn, bên làng Ái Tử, Lập Bạo đã nhảy xuống sông, lặn từ đây đến làng Vân Trình, tỉnh Thừa Thiên, nhưng cũng không thoát khỏi bởi chim trảo trảo bay theo phát giác và bị bắt, từ đó Chúa cho lập miếu trảo trảo.
– Cuối bán thế kỷ vừa qua, sau cuộc hành quân Sauterelle năm 1952(trận Thanh Hương) đến Camargue của quân đội Pháp trong chiến tranh Đông Dương chống lại Trung đoàn 95/QT từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 10 tháng 8 năm 1953 trên đoạn đường tỉnh lộ 68 cũ hay là quốc lộ 49C hiện nay, dọc theo sông Vĩnh Định dài khoảng 10km, bắt đầu từ làng Vân Trình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên qua giao điểm quốc lộ 49B và 49C hiện nay, cho đến làng Cổ Lũy, xã Hải Ba và giao tranh dữ dội nhất là tại làng Đơn Quế, xã Hải Quế mà ký giả nổi tiếng Bernard Fall khi đó là phóng viên chiến trường, đã đặt tên là Con Đường Buồn Thiu(La Rue Sans Joie) và cũng tại đây 14 năm sau, tháng 2 năm 1967, Bernard Fall tử thương vì dẫm phải mìn trong cuộc hành quân Operation Chinook II của quân đội Mỹ.
Con Đường Buồn Thiu (dài khoảng 10km)năm 1953 và Đại Lộ Kinh Hoàng (Highway of Horrors) khoảng 9km, từ cầu Trường Phước đến quá cầu Bến Đá) năm 1972 là những nghiệt ngã trong chiến tranh Việt Nam mà dân Quảng Trị đã phải hứng chịu trên trên địa bàn của giòng sông Vĩnh Định, sông Nhùng và sông Bến Đá.
Các sự kiện diễn biến cuộc sống cư dân trên vùng đất này là đề tài âm nhạc được sáng tác như, nhạc sĩ Nhật Ngân có viết bài Con đường buồn thiu, là đoạn đường sinh tử, chết chóc, đau buồn, trong chiến tranh Việt-Pháp năm 1953.
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ viết bài Đưa Em Xuống Thuyền(do Ái Vân, con dâu làng Xuân Dương hát) theo lời kể của Ông, mô tả đám cưới người anh của nhạc sĩ vào đầu thập niên 40 thế kỷ vừa qua, thuyền rước dâu trên giòng Vĩnh Định, từ làng Thi Ông, Hải Lăng đến làng Bích Khê, Triệu Phong.
Hệ thống sông ngòi tỉnh Quảng Trị gồm 7 sông, nhưng quan trọng hơn cả là hệ thống sông “Bến Hải-Thạch Hãn-Ô Lâu” chạy dọc theo chiều dài tỉnh từ sông Ô Lâu tới sông Sa Lung(huyện Vĩnh Linh) các thế kỷ trước, là thủy lộ từ kinh đô Huế ra Bắc, ngắn và an toàn hơn đường biển.
Sông Vĩnh Định nối sông Thạch Hãn và Ô Lâu chảy vô phá Tam Giang, nhánh phụ sông Vĩnh Định cũng nối sông Thạch Hãn(và sông Hiếu) đổ ra biển Cửa Việt, sông Cánh Hòm nối sông Hiếu và sông Bến Hải là thủy lộ thuận tiện hàng đầu từ thế kỷ 19 trở về trước, trục thị tứ sầm uất thời kỳ này là chợ phiên Cam Lộ, thị xã Quảng Tri, chợ Sãi, chợ Ngô Xá, rồi đến Chợ Sịa, chợ Bao Vinh thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Dĩ nhiên, so với sau này ở giữa thế kỷ 20, khi khoa học kỹ thuật phát triển, với xe hơi, xe lửa, đường hàng không thì vai trò vận chuyển bằng đường thủy, trên sông ngòi khắp mọi miền đất nước trở nên yếu kém hơn, không riêng gì trên thủy lộ. Nhưng thử nghỉ, tự hằng trăm năm trước, cho đến khi Quốc lộ 1 được người Pháp cho làm từ năm 1918, thì con đường bộ Nam-Bắc là con đường Thiên lý, con đường cái quan nhỏ hẹp băng qua những vùng ít dân cư, lắm thú dữ, và chưa có xe cộ, thì rõ ràng vai trò vận chuyển trên đất liền bằng đường sông là chiếm ưu thế và tiện dụng.(Hình bên: Quốc lộ 1A trước năm 1918 khi chưa làm, chỉ là con đường cái quan thiên lý). Cũng vậy, đường xe lửa Bắc-Nam từ Hà Nội đến Saigon dài 1.730 km, chạy dọc theo quốc lộ 1, hoàn thành và được đưa vào xử dụng vào năm 1936.
Sông Vĩnh Định không chỉ là nguồn nước chảy, sông Vĩnh Định còn mang theo cả tinh thần cuộc sống của cư dân 2 bên bờ. Tiếng chuông chùa ngân nga buổi sáng, vang vọng kinh cầu buổi chiều tại các giáo đường, tiếng hát câu hò trên đò doc, hay tiếng đập loong coong xúc cá của vạn chài... là những kỷ niệm êm đềm vốn có và là tưởng niệm muôn đời của những ai đã từng sinh sống tại đây(Hình phải:Bến nước làng Trà Lộc, nhìn sang từ bến Miệu làng Ngô Xá Đông, ảnh chụp 2021- Bs.NCV). Tính từ năm 1825, đến nay là đã 196 năm, thế hệ Baby boomers sinh sau thế chiến thứ 2, đặc biệt được chứng kiến sinh hoạt cùng các cư dân, làng mạc dọc theo giòng sông Vĩnh Định rõ nét cùng hoài niệm dòng sông đã mất bởi công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, trong ngậm ngùi tiếc nuối một thời, một đời.
Công trình dẫn thủy nhập điền đập Trấm năm 1977 rất đáng được ghi nhận, tuy thế việc ngăn chặn giòng chảy của sông Vĩnh Định tại đập An Tiêm và Ba Bến là một thiếu sót khoa học kỹ thuật chuyên môn và công tác dẫn thủy nhập điền, trị thủy của gần nửa thế trước là do điều kiện khó khăn tạo nên như thế. Nay tình thế đã khác, thiết nghĩ cư dân 2 bên bờ sông cùng chính quyền sở tại, nên có các cuộc thảo luận , trao đổi để đi đến quyết định chuyên môn là, điều chỉnh đập An Tiêm và Ba Bến, điều hòa lưu lượng nước, khơi thông giòng chảy, nạo vét giòng sông…giải quyết môi trường môi sinh khu vực, phát huy chức năng cũ của giòng sông về kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế…tránh thảm họa lũ lụt, thoát khỏi dịch bệnh do ô nhiễm, tái tạo sinh thái 2 nhánh phụ và chính của sông Vĩnh Định với hơn 100.000 cư dân sinh sống tại đây. Vấn đề là kinh phí nhưng có thể xin thêm các quỹ quốc tế tài trợ nếu tự túc còn thiếu và điều này không khó. Hạ 1 cây che bóng mát đã là một điều bất nhẫn, huống là ngăn chặn một giòng sông. Cứu lấy giòng sông là cứu lấy chúng ta.
Và nếu được như thế, hãy tưởng tưởng một ngày nào đó, thử ngồi thuyền máy theo tours du lịch Quảng Trị, đi từ mạn Nam tỉnh nhà tại làng Xuân Viên bên sông Ô Lâu, theo giòng Vĩnh Định, đổ qua sông Thạch Hãn, ra sông Hiếu, vượt sông Cánh Hòm, đến sông Bến Hải, theo giòng Sa Lung, dừng chân ở Hồ Xá, huyện lỵ Vĩnh Linh… chúng ta như được sống lại cùng tổ tiên từ hằng trăm năm về trươc, nhất là từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận-Quảng tại Ái Tử năm 1558, mở đầu công cuộc Nam tiến.
Xin ghi chú thêm rằng, cùng mục đích bài viết này là, để điều chỉnh các sai lệch thuộc tài liệu về sông Vĩnh Định vốn có trong sách vở và trên internet, đặc biệt hiện nay, vì tam sao thất bổn trong suốt thời gian dài 196 năm, đồng thời cũng là để tưởng nhớ những em bé bơi lội, các bà chị, bà mẹ giặt giủ bên sông, các bác nông phu ra đồng sau ngày cày cấy, ra bến sông tắm rữa, bầy trâu mẹp, làn hơi nước tỏa trên sông buổi sớm, âm vang tiếng hò lãng đảng trong đêm trăng… cứ thế, qua nhiều thế hệ xưa nay… từ đó, rất mong muốn được mọi người, mọi giới đặc biệt các sinh viên tỉnh nhà, nếu có dịp nên viết, làm luận văn tốt nghiệp về đề tài này, để xem xét lại, hoàn thiện và quy củ hơn chủ đề Khơi Lại Giòng Sông Vĩnh Định, bảo đảm môi trường môi sinh và sinh thái vùng đất của lòng người, trong lòng lịch sử, thì không có gì quý hơn. Đa tạ !
Boston, ngày 9 tháng 3 năm 2021
Trương Thúy Hậu
@cohocvietnam
 
Viết theo các tài liệu trên internet dẫn giải trong các insert links, cùng không ảnh từ vệ tinh do Google chụp.
*************
NHỚ VỀ SÔNG VĨNH ĐỊNH
 
Xa quê luôn nhớ về Quảng Trị
Cả đời buộc chặt một giòng sông
Sông chảy ngàn đời như lòng mẹ
Xanh trong Vĩnh Định nước xuôi giòng.
 
Thạch Hãn phụ lưu sông quặt phải
Cổ Thành-chợ Sãi tới Ô Lâu
Hai mươi cây số qua làng mạc
Bồi đắp phù sa đất bạc màu.
 
Ngô Xá-La Duy đất nội ngoại
Duân Kinh đối diện ngã ba sông
Đào tới Hội Yên qua hói Dét
Nối tiếp Ô giang suốt một giòng.
 
Văng vẳng dư âm từng hồi trống
Rộn ràng thúc dục khúc hoan ca
Bảy cây số rưỡi, đào ba tháng
Minh Mạng: “mệnh vi Vĩnh Định hà”.
 
Tuần thú Bắc phương vua Thiệu Trị
Thuyền rồng ghé lại bến Trung Đan
Thần dân trăm họ tung hô dậy
Vạn tuế quân vương vạn vạn lần.
 
Cồn Đống-Cu Hoan bia đá dựng
Ngự chế thơ đề vạn thế sau
Cửu Đỉnh văn minh phương Đông đứng
Danh xưng nước Việt Nam lẫy lừng.
 
Ngày hân hoan cờ hoa lễ hội
Xóm làng vui trăm họ sum vầy
Xuân Hạ Thu Đông vòng trục xoáy
Đời trước đời sau tiếp lại ngày.
 
Cám ơn sông Nhùng sông tiếp nước
Lòng tràn Triệu-Hải đất bao dung
Ba Bến ngã ba chia nhánh phụ
Đổ qua Hãn-Hiếu lại chung cùng.
 
Sông, nước, con người, chung một thế
Đời này đời nọ tiếp theo nhau
Tháí bình thịnh trị niềm hoan hỉ
Nghĩa tình chung ruột thịt đồng bào.
 
Sông chiếu lại góc trời lịch sử
Chúa Nguyễn Hoàng trấn thủ phương Nam
Trống chiêng rộn kèn loa mở nước
Xóm làng xưa qui ước dựng thành.
 
Ông cố ông sơ lòng hăm hở
Ngoài sân rộn rã trẻ thơ cười
Vuốt chùm râu bạc ngồi lên chiếu
Gia phả từ nay đã lập rồi.
 
Cuốc ruộng cày bừa cha chân đất
Chày vồ táng đập tảng đất khô
Mồ hôi đổ xuống nền thêm mặn
Ơn sao trời mưa gió thuận hòa .
 
Nhớ xưa chị ra sông giặt áo
Con trâu nằm mẹp gốc cây sung
Bến nước trưa gió Nam lồng lộng
Em thơ ngụp lặn lội vẫy vùng.
 
Thằng cháu mới sinh trông tuấn tú
Rõ ràng cha mẹ gặp lương duyên
Có phải trời xui cùng đất khiến
Kế thừa Lê- Nguyễn chuyển truyền đời.
 
Vầng ráng lạ báo tin lũ dữ
Trời thấp cao kéo nước đổ về
Con cá cấn bụng to đầy trứng
Lá gừng kho miếng mặn vùng quê.
 
Sông cũng buồn qua nhiều cuộc chiến
Vòng vây xưa Đơn Quế- Đồng Dương
Nước buồn thiu con đường đổ lệ
Những oan khiên đè nặng đôi đường.
 
Cầu bắc qua niềm thương nỗi nhớ
Tiển người đi giây phút chạnh lòng
Rứt ruột tha hương tìm đất lạ
Mẹ mong sao con cứng đá mềm.
 
Sông yêu cầu mà sông ghét đập.
Đập chặn giòng sông chảy của sông
Sông với cầu có chung có thủy
Lở bồi bên chung thủy có nhau.
 
Rượu Kim Long bước chân cao thấp
Nước chè xanh níu áo con người
Khói lam chiều quê hương vẫy gọi
Hát ru em kẻo kẹt vành nôi.
 
Vĩnh Định những đêm trăng vằng vặc
Theo thương hồ những chuyến buôn xuôi
Tiếng hát hò vọng lên trầm bỗng
Sắt son người duyên thắm kết đôi.
 
Chú học trò vào kinh ứng thí
Thỏa lòng mong khung cửi yêu ai
Cõng việc đời gánh nặng đôi vai
Vốn kẻ sĩ triều đình không phụ.
 
Nhớ sông xưa như nguồn sữa mẹ
Một thời đằm thắm tuổi hoa niên
Nước xanh trong nuôi điều hy vọng
Ái Tử mong từng bước con về.
 
Sông là mạch nổi của lòng đất
Nước bốc hơi tụ khí mây trời
Không chỉ nước mà là sự sống
Trần gian này khép mở khôn nguôi.
 
Nước non ngàn dặm ra đi mãi
Chớp bể mưa nguồn chạnh ngoái lui
Tìm về quê cũ nơi yêu dấu
Có một giòng sông lỡ hẹn hò.
 
Chuyện An Tiêm làm vua phật ý
Lẻ loi đảo vắng tội Mỵ nương
Biển mênh mông nào ai đắp đập
Dưa hấu ngon giống lại mang về.
 
Mai này chắc hẳn giòng sông ấy
Trở mình xếp lại nếp thương đau
Nước chẳng phụ người, đất cũng chẳng
Niềm vui xé đập nước tuôn mau.
 
Trời đất bao la mà ngắn ngủỉ
Chỉ còn sót lại một giòng sông
Xin gửi nơi đây lòng tín cẩn
Khơi ngòi cứu lấy một giòng sông.
 
Trời cao xin thành tâm cúi lạy
Gọi ơn người xin cáo đất chung
Vĩnh định muôn đời sông Vĩnh Định
Thạch Hãn mong sông nối lại giòng.
@Trương Thúy Hậu
Boston, 15.11.2021
 


 






 

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2022

VTT XƯỚNG HỌA CÙNG QUÝ THÂN THI HỮU GẦN XA tháng 11/2022:

VTT xướng họa cùng quý thân thi hữu gần xa tháng 11/2022: 

Cao Bồi Già, Mailoc, song quangSắc tứ Minh Thiện, Trần Mạnh Hảo, Phan Thượng Hải, NĐT, Khanh Trần Đức, Duy Anh, Tâm Minh-Ngô Tằng Giao, Mỹ Nga. sông Thu, Chung Văn, songquang, Hương Huong Mrs-Le,, Trần Như Tùng, ...


 

 

ĐẮM HỒN THU
(N.Đ.T.)
 
Bài xướng:
Da trời biếc nhuộm vãng chiều thu
Lãng mạn chàng cu thả tiếng gù
Đỉnh núi mây hồng say mục mãn
rừng phong lá đỏ quyện sương mù
Đường xa lữ khách say lòng ngẩn
Nhĩ lạc nương diều bổng sáo vu
Họa dễ hòa giao người với cảnh
Tênh cười, vất sạch nỗi sầu tư…
Cao Bồi Già, 15/11/22.
 
TUYỆT TÌNH THU
(NĐT) 
 
Bài họa (nương vận):
Mây lồng gió bỡn tuyệt tình thu
Vẳng vọng lời cu tiễn hạ... gù
Sáng ửng dương hừng nhòa nhạt chiếu
Chiều buông cảnh tĩnh hé he mù
Hồn quê ẩn dấu nguồn thương …cảm
Đất mẹ u hoài nỗi nhớ …vu
Núi tạc non hằn sơn thủy đắm
Ai người viễn xứ chẳng trầm tư…
Mai Vân-VTT, 18/11/22.

 VƯỜN THU

Bài xướng:
Rừng phong vàng, chiều về man mác
Lá xạc xào ngơ ngác mắt nai.
Tà dương hiu hắt phai phai
Trên cành chiêm chiếp lạc loài kêu thương.

Công viên chiều buồn vương trong nắng
Quạnh hơi thu ghế vắng đìu hiu,
Hồ thu in bóng rừng chiều
Trăng non lặng lẽ mỹ miều vành cung.

Sương thu mờ chập chùng mây khói
Lá trên cành mòn mỏi thời gian
Xoay xoay trong gió phủ phàng
Lạnh lùng một kiếp gió ngàn cuốn đi

Vườn xơ xác, sầu bi cánh bướm
Tuổi vàng đâu ? tóc nhuộm sương thu.
Một mình trong gió vi vu
Hư vô một cõi, mịt mù phù vân . …

Cánh chim ngàn bâng khuâng cánh mỏi
Trăng tần ngần le lói trong sương
Ai ngồi đếm lịch vấn vương ?
Thì thôi buông xả, vô thường trần gian !
Mailoc

THU VÃN

Bài cảm tác:
Mây vần vũ cuốn lá vàng xao xác
Tróc trụi dần phờ phạc dáng nai
Lưng chiều bóng ngã nắng phai
Dường nghe thu thở than dài mà thương

Từng ngọn gió vén sương gọi nắng
Cả rừng thu yên ắng quạnh hiu
Lời muông giọng thú tru chiều
Phối đồng cảnh thác tạc đều bậc cung

Biển nhòa nhạt trập trùng sương khói
Sóng cuồng reo inh ỏi không gian
Thương từng bóng bọt bẽ bàng
Hóa thân chuyển kiếp lẹ làng xao đi

Còn đâu thuở hoa si ghẹo bướm
Hương tỏa ngây sắc ướm hạ thu
Đại ngàn trùng điệp hoang vu
Dập dìu bướm lượn ong vù quần luân

Thu điểm nét xác thân rệu mỏi
Bóng thu xao còm cõi chìm sương
Đời như cảnh phối thu vương
Từng cung thu vãn lẽ thường cõi nhân…
Mai Vân-VTT, 18/11/22.

EM ĐI CHẲNG TRỞ VỀ
(Cho hiền thê đi chẳng trở về)

Đã biết em đi chẳng trở về
Dù rằng vẫn nặng nghĩa phu thê
Thiên đàng nàng đến say hoa mộng
Hạ giới anh còn đắm mỏi mê
Lặng lẽ nỗi sầu khơi hẹn ước
Âm thầm cõi nhớ gợi câu thề
Sinh ly tử biệt bày chi thế ?!!!
Nuốt lệ thôi đành …dạ tái tê
Songquang, 20221115.

MIỀN CỰC LẠC ẮT CHỊ ĐẾN
(Cầu mong hương hồn hiền thê
của anh sớm tịnh an nơi cõi Vĩnh Hằng)

Bài họa:
Cực lạc hồn thăng bến giác về
Thương hình tủi bóng khóc hiền thê
Bà con tiếc nuối buồn khôn tả
Con cháu ưu phiền nhớ lắm tê
Chốn tạm trần gian đà thoát khỏi
Đường lên Tây trúc thỏa lời thề
Âm dương cách trở thầm mong nguyện
Vãng cảnh tiên bồng …tịnh cõi mê…
Mai Vân- VTT, 17/11/22.

MIỀN CỰC LẠC ẮT CHỊ ĐẾN
(Cầu mong hương hồn hiền thê
của anh sớm tịnh an nới cõi Vĩnh Hằng)

Bài họa:
Nẻo tịnh hồn thăng chốn chị về
Gia đình trống trãi nhuốm sầu thê
Bà con tiếc nuối buồn khôn tả
Bạn hữu ưu phiền nhớ lắm tê
Cõi tạm nhân trần đà thoát khỏi
Đường lên Tây trúc đúng y thề
Âm dương cách trở cầu mong đặng
Cực lạc thiên đình …vãng cảnh mê…
Mai Vân- VTT, 17/11/22.  

GIẤC HỜ !

Bài xướng:
Cuộc hẹn ba sinh quạnh nẻo chờ
Cung tình lạc phách nghẽn hồn thơ
Thuyền say bến lạ thuyền neo bến
Sóng đắm bờ xưa sóng vỗ bờ
Những ước trăm năm hồng lối mộng
Đâu dè một thoáng sẫm màu tơ
Thềm khuya khẽ vọng âm cầm sắt
Khép chặt buồng tim dỗ giấc hờ !
Sắc Tứ Minh Thiện,12/11/22.

TRÁCH PHẬN!

Bài họa:
Bến mộng thuyền neo mãi đợi chờ
Hương tình gửi gắm sũng vần thơ
Ngày đong sầu nghẽn đong vô tận
Tối ngốn buồn ngây ngốn dẫy bờ
Hẳn tưởng trời cao đà tác phận
Đâu dè Nguyệt Lão ướm lơi tơ
Nên chừ yến dạt oanh vàng võ
Trách cuộc bể dâu hợp cẩn … hờ
Mai Vân-VTT, 16/11/22.

HÌNH BÓNG
(Vịnh con cò trắng đứng một mình một bóng trên đồng nước. Không biết nó có thấy một con cò khác đứng chổng ngược dưới chân mình không?)

Đâu là bóng, đâu là hình
Hai con cò trắng đứng rình ...một chân
Một mình nào phải đơn thân
Biết đâu mình hóa tình nhân của mình.
Sài Gòn 31/10/2022,
Trần Mạnh Hảo

KIA LÀ BÓNG …

Cảm họa:
Kia là bóng… kỉa là hình
Nom hai mà một so mình đọ chân
Nước vô tình hóa kiếp thân
Dung dăng dung dẻ tựa nhân tình mình…
Mai Vân-VTT, 16/11/22.

LÁ THU

Ai bảo thu về lá rụng rơi?
Suốt mùa nhan nhản khắp nơi nơi
Phô trương đa sắc theo làn gió
Ngoạn mục liên chi dưới mặt trời
Nhiếp ảnh thành hình, thi tứ khởi
Nhân tâm sầu mộng, nhạc tình khơi
Huy hoàng phong cảnh, mưa hay nắng
Hồng thắm thiên nhiên đẹp tuyệt vời.
Phan Thượng Hải,11/6/22.

CẢNH THU

Bài họa:
Xưa rày thu vẫn… tiếng thu rơi
Chuyển biến tùy vào mỗi một nơi
Xứ sở ôn hòa vàng phủ đất
Vùng miền tuyết lạnh tía hây trời
Màu pha gam phối mầm thi lộng
Sắc tạc tông hòa cảm hứng khơi
Cảnh đắm mê hồn đời nghệ sỹ
Văn chương thơ họa … dệt thêu vời…
Mai Vân-VTT, 16/11/22.

TIẾNG ĐÀN BẦU

Bài xướng:
Đàn bầu não nuột như tiếc nuối
Thanh âm ai oán buổi tàn Thu
Ngoài hiên vẳng tiếng trầm u
Hoàng hôn hấp hối, sương mù phủ vây

Tâm tư lắng, đong đầy xúc cảm
Ai gieo dòng nhạc thảm vào tim
Hồn người lãng tử lịm lìm
Nhớ ngày ly tán, đàn chim khuất mờ...

Tiếng đàn khiến ngẩn ngơ mặc khách
Điệu ru buồn khoan nhặt, thê lương
Ai đàn khơi nỗi niềm thương?
Cung trầm tưởng nhớ quê hương, rầu rầu...

Tiếng đàn bầu, canh thâu sầu lắng
Văng vẳng nghe cay đắng, vấn vương
Nửa vầng trăng rọi viễn phương
Nửa vầng dõi bước bạn đường cùng ta

Thương quê Mẹ thiết tha... tình tự!
Tiếng Đàn Bầu tâm sự với người
Tàn Thu héo hắt nụ cười
Nghe tin bão lụt, rõ mười buồn hơn...
Duy Anh, 11/1/22.
Late Autumn in Orlando, FL.

NỖI BUỒN KHÔNG TÊN

Cảm tác:
Khúc ai oán não nùng… não nuột
Từng cung day đứt ruột trời thu
Mây sà xám xịt âm u
Đàn ơi thôi nhã điệu sầu giăng vây

Đêm trầm lắng ngất đầy cảnh cảm
Nổi buồn dâng sầu thảm ngăn tim
Người ơi ta mãi ngóng tìm
Nửa đời viễn xứ cánh chim mãi chờ

Tiếng đàn vọng dật dờ khoan nhặt
Từng cung day lay lắt đêm trường
Đàn thôi dạo khúc sầu vương
Cung ngân nhường dấu lệ thương nhớ rầu

Độc cầm nén giọt sầu yên ắng
Héo hắt lòng quạnh vắng dạ vương
Nửa đời lạc bến … nào phương
Từ khi chiến cuộc rẻ đường tình ta

Nhớ đất mẹ phong ba vần vũ
Thương quê nhà lam lũ thân người
Thu đông bão quyét lụt bời…
Xuân khai chửa thắm hạ thời nắng chan…
Mai Vân-VTT, 14/11/22.

ĐƯỜNG HOA PHỐ NÚI

Bài xướng:
Ngàn thông cùng tấu khúc hoan ca
Vui đón người em ở chốn xa
Gió núi mơn man vờn gót ngọc
Hương rừng ngan ngát ướp chân ngà
Đường hoa xao động câu tình tứ
Dốc đá ngân vang điệu thiết tha
Từ buổi em xuôi về phố cũ
Đá mòn tâm sự lặng kề hoa.
Tâm Minh Ngô Tằng Giao

THÀNH PHỐ MÙ SƯƠNG

Bài họa:
Đà Lạt xưa rày vẫn ngợi ca
Nao lòng viễn khách khắp gần xa
Nom mây vắt vẻo lèn sương bạc
Ngắm thác chênh vênh thả bọt ngà
Thung lũng muôn màu phô trầm mặc
Núi rừng điệp sắc điểm thướt tha
Nào ai vốn một lần chiêm ngưỡng
Ắt ngẩn ngơ hồn giữa phố hoa…
Mai Vân-VTT, 14/11/22.

TẬP LÀM THI - THƠ.

Bài xướng:
Mới biết làm thi thấy ngại ghê
Dù sao cầu học luyện thi nghề
Vun bồi Thi tứ Văn chương khó
Ý tứ tuôn trào ngượng bạn phê...
Thi Đạo,Thơ Đời xin miễn chấp
Cố sao diễn đạt đỡ phiền chê,
Tâm an gắng sức trau giồi nhé
Thi Sĩ Cao Nhân dẫn dắt hề...
Mỹ Nga, 11/11/22.(18/10/Nhâm Dần).

NÀO ĐÂU DỄ

Bài họa:
Thục thuần THI tứ khó khăn ghê
Cảm xúc THI nhân nhuyễn hóa nghề
Chải chuốt THI từ ngâm lộng vút
Suôn vần THI nhạc xướng càng phê
THI hòa ý quyện hay ra phết
THI họa tương đồng khỏi phải chê
THI thuật cao siêu … THI tuyệt diệu
THI - THƠ đạt đỉnh mấy ai hề !!!...
Mai Vân- VTT, 13/11/22.

CÔ ĐƠN

Bài xướng :
Tôi thường ra đứng ở sân ga
Lặng lẽ cô đơn, mắt lệ nhòa
Nhìn cảnh đoàn viên mừng hội ngộ
Thấy người giã biệt khóc chia xa
Luyến lưu tình cảm đầy thân ái
Đầm ấm gia đình ngập thiết tha
Tủi phận lạc loài ôm bóng chiếc
Lạnh lùng ngày tháng cứ dần qua.
Sông Thu, 07/11/22.

CẢNH SÂN GA

Bài họa:
Bao điều góp nhặt tại nhà ga
Kẻ đón người đưa lệ sũng nhòa
Chậm rãi đoàn tàu dừng điểm đích
Tần ngần hành khách bước lìa xa
Nào bao khuôn mặt vui khôn xiết
Ấy những tay rời tủi thướt tha
Cảnh ngộ nơi đây thường tái diễn
Thương sầu chia biệt mỗi lần qua.
Mai Vân-VTT, 13/11/22.

 GẶP MẶT THẦY TRÒ

Bài xướng1:
Ai không thấu hiểu tự xưa xa:
Chữ nghĩa từ thầy chuyển đến ta.
Trọng đạo ngàn năm nồng khúc hát
Tôn sư muôn thuở ấm lời ca
Ân dày kẻ lái đò chăm chở
Công nặng người chèo sóng vượt qua
Gặp mặt thầy trò lòng quá thỏa
Tâm thành kính cẩn triệu bông hoa
Đông Hà, 15.11.2015
NĐT

TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO

Bài họa 1:
Trường học bao trò chẳng lạ xa
Nơi thầy cô lớp bạn cùng ta
Rèn văn luyện ngữ thuần câu ý
Đọc viết trau lời thục giọng ca
Nghĩa lý xưa rày hằn tạc dạ
Ân tình muôn thuở nỡ xao qua
"Tôn sư trọng đạo" xưa rày ví:
Triệu …Triệu cây đời rạng sắc hoa.
Mai Vân- VTT, 11/11/22.

ƠN NGHĨA CÔ THẦY

Bài xướng 2:
Cô thầy dạy dỗ khắc ân sâu
Bụi phấn còn vương bạc mái đầu
Vất vả từng đêm rèn ý tứ
Âm thầm những buổi sửa vần câu
Tinh thần vẫn nhớ hoài mong đợi
Sức khỏe nào quên mãi nguyện cầu
Vững lái tay chèo sang bến mộng
Con thuyền kiến thức được dài lâu.
Khanh Trần Đức, 09/11/22.

ÂN TÌNH SƯ ĐỆ

Bài họa 2:
Xa trường cách bạn vốn đà lâu
Khắc dạ ghi tâm bước khởi đầu
Uốn lưỡi ê a nhuần mẫu tự
Trau bài ú ớ rặt từ câu
Về nhà bố mẹ ngầm khen ngợi
Đến lớp thầy cô hẳn ước cầu
Trí huệ dần khai mầm quả mọng
Ân tình sư đệ nghĩa hằn sâu...
Mai vân-VTT, 11/11/22.

KHÚC CA CHÀNG TRƯƠNG

Bài xướng:
Tự hỏi, nàng Thơ có chút tình ?
Đừng mơ anh hỡi, nắng bình minh
Sớm mai, say đắm nhìn ve vuốt
Chiều lại, mơ màng đứng lặng thinh
Nàng Mỵ ngày xưa vui giọng hát
Chàng Trương muôn thuở khóc duyên mình
Tiếng ca bằn bặt thuyền ngư phủ
Chỉ hiến cho ai khúc nhạc tình...
Chung Văn, 1/11/22.

XÓT THAY MỘT UẨN TÌNH

Bài họa:
Nàng Mỵ - chàng Trương một uẩn tình
Dẫn nguồn nhạc sáo ngỏ cầu thinh
Chiều ngân lịm dáng vầng trăng nhạt
Tối nhã ngây hồn ánh nguyệt minh
Lảnh lót xuyên canh ru điệu khúc
Du dương từng quảng réo tim mình
Thầm thương… trộm nhớ sầu giăng kiếp
Giọt lệ tiêu tương …cảm sử tình…
Mai Vân-VTT, 06/11/22.

 
1. KHÓC HIỀN THÊ

Em ơi ,giã biệt kể từ đây
Giây phút từ ly lệ đẫm đầy
Hương lửa thôi đành tan giấc mộng
Ba sinh cam chịu dứt đường bay
Thương nàng côi cút thân cô độc
Xót bậu bơ vơ phận đắng cay
Duyên kiếp đôi ta đà rẽ lối
Thiên đàng em hưởng thảnh thơi nầy
Songquang, 20221103 lúc 7 giờ 27 pm

1. THÀNH KÍNH PHÂN ƯU!!!
(cùng thi huynh songquang trước
nỗi đau Hiền thê đã từ biệt cõi trần)

Bấy vần thơ khóc đọc ngùi cay
Ắt hẳn là huynh cảm xót đầy
Biết thuở yêu kiều ngào ngạt đắm
Hay thời hoa mộng lượn là bay
Nhân duyên ướm định trời đà gán
Mệnh số tất nhiên phận ghép đây
Nợ chốn trần ai nay đã vãn
Cầu hương hồn chị thoát cõi nầy!!!
Mai Vân-VTT, 05/11/22.

2. PHÚT TỪ LY

Giây phút chia tay đã đến rồi
Em về sum hợp mẹ cha thôi
Sinh ly con cháu lòng đau đớn
Tử biệt phu thê dạ rối bời
Nỗi nhớ ngập tràn khôn dứt bỏ
Niềm thương giăng mắc chẳng phai phôi
Trời sầu ảm đạm buồn tê tái
Con tạo gây chi cảnh rã rời?
Songquang,
20221103 lúc 7 giờ 27 phút pm

2. CHIA SẺ CÙNG HUYNH!!!
(Thành kính phân ưu cùng thi huynh
songquang đồng tang hiếu quyến)

Mệnh số trời ban định phận rồi
Vợ chồng đến lúc đoạn đành thôi
Thương ngày tương hợp bao gian khổ
Cảm lúc phân ly lắm đoạn bời
Khó nhọc chu toàn nào oán thán
Vui buồn san sẻ nỏ pha phôi
Nay tin chị sớm lìa trần thế
Chia sẻ cùng huynh… cảnh biệt rời!!!
Mai Vân-VTT, 05/11/22.

TRĂNG MUỘN
Thơ Hương Mrs- Le

Bài xướng:
Em thế đấy… vẫn là vầng trăng muộn
Dẫu không tròn.. dẫu khuyết có sao đâu
Vẫn tỏa sáng dịu dàng trên dốc đá
Vẫn nôn nao.. vẫn lạ.. thủa ban đầu..

Em thế đấy … vẫn là vầng trăng muộn
Chao đảo hồn.. anh lạc bến bờ em..
Ly rượu mạnh bên đời ta uống cạn..
Dẫu trăng non.. trăng muộn cũng say mềm…

Em thế đấy .. vẫn là vầng trăng muộn
Vẫn vạt cỏ mềm khao khát sương đêm…
Trong tinh tú mơ một vì sao lạc..
Cứ đứng chờ.. ngơ ngẩn.. đó là em…
Sg, 27/10/22.

ƯỚC GÌ ANH LÀ VÌ SAO LẠC !!!

Cảm tác:
Anh đâu biệt phân trăng tròn sớm muộn
Nào phân chi khuyết lỡ dáng không đâu
Dẫu xa lắc hay trên từng phiến đá
Trăng vẫn là trăng như thuở trăng đầu

Anh đâu biệt phân trăng tròn sớm muộn
Dáng tình trăng đà ngự trị tim anh
Mồi chiều rơi chẳng khi nào xa vắng
Trăng bên đời ủ giấc ái ngọt mềm

Anh đâu biệt phân trăng tròn sớm muộn
Cuối chiều vơi trăng thủ thỉ thâu đêm
Thôi chẳng ngóng ….chờ chi vì sao lạc
Anh mãi mãi… vì sao ngự tim em!!!
Mai Vân-VTT, 01/11/22.

CHƯA HẾT LỜI RU

Bài xướng:
Mẹ tặng gương soi, mẹ tịch rồi
Con à là gái phải luôn tươi
Cho dù vất vả vùi bao chốn
Đừng để u sầu lộ mỗi nơi
Bỏ túi nhỏ nhoi dường chẳng bận
Thuận lòng âu yếm hé mà chơi
Thấy mình, thấy lại lời khuyên nhủ
Chưa hết lời ru đã nửa đời.
Trần Như Tùng, 07/2022.

MẸ ĐÃ THỎA LÒNG

Bài họa:
Ước đợi từ lâu mãn nguyện rồi
Tâm từ hiếu hạnh tánh hiền tươi
Ngôn truyền ngữ trút trao điều phải
Nghĩa giải tình phân lý tận nơi
Thân thích tùy căn nguyên tính nhượng
Bên ngoài liệu xử cách mà chơi
Bao lời dạy bảo con đà thấu
Mẹ thỏa lòng …thôi …giã biệt đời…
Mai Vân-VTT, 03/11/22.

 Ảnh minh họa: Nguồn từ Internet...



 




KHÓC HIỀN THÊ Songquang

 1. KHÓC HIỀN THÊ

Em ơi ,giã biệt kể từ đây
Giây phút từ ly lệ đẫm đầy
Hương lửa thôi đành tan giấc mộng
Ba sinh cam chịu dứt đường bay
Thương nàng côi cút thân cô độc
Xót bậu bơ vơ phận đắng cay
Duyên kiếp đôi ta đà rẽ lối
Thiên đàng em hưởng thảnh thơi nầy
Songquang, 20221103 lúc 7 giờ 27 pm

1. THÀNH KÍNH PHÂN ƯU!!!
(cùng thi huynh songquang trước
nỗi đau Hiền thê đã từ biệt cõi trần)

Bấy vần thơ khóc đọc ngùi cay
Ắt hẳn là huynh cảm xót đầy
Biết thuở yêu kiều ngào ngạt đắm
Hay thời hoa mộng lượn là bay
Nhân duyên ướm định trời đà gán
Mệnh số tất nhiên phận ghép đây
Nợ chốn trần ai nay đã vãn
Cầu hương hồn chị thoát cõi nầy!!!
Mai Vân-VTT, 05/11/22.

2. PHÚT TỪ LY

Giây phút chia tay đã đến rồi
Em về sum hợp mẹ cha thôi
Sinh ly con cháu lòng đau đớn
Tử biệt phu thê dạ rối bời
Nỗi nhớ ngập tràn khôn dứt bỏ
Niềm thương giăng mắc chẳng phai phôi
Trời sầu ảm đạm buồn tê tái
Con tạo gây chi cảnh rã rời?
Songquang,
20221103 lúc 7 giờ 27 phút pm

2. CHIA SẺ CÙNG HUYNH!!!
(Thành kính phân ưu cùng thi huynh
songquang đồng tang hiếu quyến)

Mệnh số trời ban định phận rồi
Vợ chồng đến lúc đoạn đành thôi
Thương ngày tương hợp bao gian khổ
Cảm lúc phân ly lắm đoạn bời
Khó nhọc chu toàn nào oán thán
Vui buồn san sẻ nỏ pha phôi
Nay tin chị sớm lìa trần thế
Chia sẻ cùng huynh… cảnh biệt rời!!!
Mai Vân-VTT, 05/11/22.