Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2009

MIẾNG ĐÒN ĐỊNH MỆNH...

TRẦN KIÊM ĐOÀN
 
MIẾNG ĐÒN ĐỊNH MỆNH...
đưa võ sĩ Trịnh Công Sơn vào đời nhạc sĩ.
            Trong Đạo học phương Đông, kể cả Nho, Thích, Lão... thường nhắc đến một sự ấn chứng tuyệt chiêu nằm ngoài kinh điển:  Đó là trường hợp vô sư tự ngộ hay “không thầy tự mầy làm nên”!  Đinh Bộ Lĩnh, bà Trưng, bà Triệu... kể cả Lê Lợi, Quang Trung... không ai sinh ra là hoàng tử hay công chúa chuẩn bị thống lĩnh ba quân để sau nầy lên làm vua cả.  Tất cả đều làm nên sự nghiệp khởi đầu bằng chính trái tim và ý chí của cá nhân mình.  Có lẽ Đông Tây gặp nhau đầy thú vị ở điểm nầy.  Một nhân vật “tự mầy làm nên” vô sư vô sách ở phương Đông cũng gần giống như một “self-made man” ở phương Tây.  Một khi đã thành công thì sự nghiệp thường vinh quang và kiệt xuất hơn người.  Lý do đơn giản bởi vì sách vở luật lệ là sản phẩm do con người giới hạn và nhỏ bé làm ra, nên có người vượt ra ngoài những quy ước nhỏ bé ấy sẽ tự mình tìm thấy cho người và cho mình một phương trời cao rộng phi thường và thông thoáng hơn.
            Anh hùng hảo hán đã thế; giới văn chương, nghệ thuật nước Nam ta lại càng ít được chuẩn bị hơn; nếu không muốn nói là phần đông đều xuất thân... “tự mầy làm nên” hay có khi thời thế tạo anh hùng; và ngược lại!  Những nhân vật nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật thi, văn, ca, nhạc, họa... nước ta xưa nay kể từ buổi vô danh đến ngày bước lên đài nghệ sĩ tiếng tăm – danh vọng, chân tài như Trạng Trình, Nguyễn Du hoặc tài hoa liền với tai họa như Cao Bá Quát – hầu hết là do sự tình cờ run rủi của một hay nhiều động lực bất ngờ mà người ta quen gọi là định mệnh hay số phận.  Người theo khuynh hướng tâm linh thì cho là có “đấng Cao Dày” xếp đặt, an bài; là do tác động của trùng trùng duyên nghiệp.  Kẻ theo khuynh hướng tự nhiên thì cho là “ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết gặp chùa cũng tu” hay “gặp thời thế, thế thời, phải thế!”
             Chuyện đúng sai về câu hỏi cho rằng, có chăng một động cơ tình cờ, may rủi hay có sự sắp đặt huyền nhiệm nào đó để cho mỗi con người có một hoàn cảnh khác nhau không phải là mục tiêu của bài viết nầy, nên xin được dành lại lời bàn cho... Kim Thánh Thán thế kỷ 21 vậy.  Nơi đây, người viết chỉ mong được góp vài câu “thanh nghị” về trường hợp của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để thêm hương vị làm cho câu chuyện đầu Xuân vui dòn hơn.  Và cũng để nhớ lại dư âm ca từ gấm hoa cùng giai điệu huyền hoặc, độc sáng “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt” của người nghệ sĩ tài hoa vắng bóng khá lâu rồi mà vẫn chưa có tài năng mới nào thay thế!
            Một ngày đầu tháng 11 năm 2007, bên cạnh những người bạn thân quây quần nhắp chén nước chè bên bình trà Thái Nguyên; hay nhâm nhi cốc rượu nho Merlot Red Wine; hoặc một tí sương khói Martell Cordon Bleu... Trịnh Quang Hà kể chuyện ngày xưa.  Trong ngôi nhà lớn, đèn đuốc rỡ ràng của gia đình Trịnh Quang Hà – chứ không phải “trong căn nhà nhỏ đèn thắp thì mờ” của  Trịnh Công Sơn trong Ca Khúc Da Vàng ngày ấy – tại Sacramento, thủ phủ tiểu bang California, xứ Cờ Hoa, anh em gặp nhau “thao thức” trong buổi xế trưa vì giờ nầy ở quê hương đang ngủ ngon lành giấc nửa đêm về sáng.  Trong phòng khách được trang trí bằng một “gam” màu và một chủ đề gợi nhớ Trịnh Công Sơn thật gần gũi và ấm áp tình bằng hữu, có những “fans” của một thời Ướt Mi, Hạ Trắng, Mưa Hồng... từ phương xa lại như Năm Đồng, Nguyễn Hùng, Bùi Cung (tức là “Cung Alpha” do Trịnh Công Sơn đặt để phân biệt với “Cung Beta” là họa sĩ Trịnh Cung)... lặng nghe anh Trịnh Quang Hà, em trai kế của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói về “miếng đòn định mệnh” đã đưa Trịnh Công Sơn từ giấc mơ võ sư sang đời nhạc sĩ:
            Thời 1956 -1957, song song với việc học văn hóa, cả hai anh em Sơn và Hà (cách nhau 2 tuổi) đều học võ thuật tại Huế. Cả hai đều có thể lực tráng kiện đầy phương cường của tuổi thanh niên nên bên cạnh việc học, hai người quyết chí tập luyện võ nghệ với ước mơ thành thầy võ.  Nuôi chí võ sư, Trịnh Công Sơn chẳng quan tâm gì về âm nhạc.  Theo Trịnh Quang Hà thì “Thời anh Sơn đã lớn, 18, 19 tuổi rồi mà chỉ thấy anh mê tập võ.  Trong nhà chỉ có một cây đàn ghi-ta gỗ cũ nhưng mình rất ít thấy anh Sơn sờ tới.  Anh thường mân mê những cặp ‘găng’ bốc-xơ, tập đi những bài quyền của phái Vô Vi Nam, nghiên cứu và luyện võ theo sách Nhu Đạo... đầy thích thú mà chưa nghe một dòng nhạc nổi lên hay xen vào.  Anh thường xuyên nói chuyện võ với mình chứ không nghe anh nói về chuyện nhạc.”
            Cho đến một hôm..., vẫn theo lời kể của Trịnh Quang Hà, “vào một buổi sáng mùa Hè năm 1957, Sơn và Hà dợt nhu đạo với nhau để chuẩn bị thi lên đai ‘ma-rông’ ở sân nhà trên đường Phan Bội Châu (Ngã Giữa Huế) và cũng là tiệm bán xe đạp Thanh Tâm thuở ấy của gia đình.  Sau một hồi hai anh em Sơn, Hà tập dượt quần thảo xông xáo hết mình thì một sự cố bất ngờ xẩy ra.  Đó là khi Hà dùng hết sức đưa cú đấm ‘đơ-dem-ê-côn’ thì Sơn cũng dùng hết sức chận Hà rị lại, Hà té nhào trên mình Sơn và không cưỡng nổi quán tính của một đường quyền đang chuyển động, cùi chỏ của Hà theo đà ấn xuống đập một đòn chí mạng vào ngực Sơn.  Sơn thổ huyết lai láng (gần cả thau) và nằm gục ngay tại chỗ...”
            Sau biến cố nầy, Trịnh Công Sơn nằm liệt giường suốt 2 năm.  Trong suốt cả năm đầu phải húp cháo lỏng và ăn uống phải có người đút cháo vào miệng. Nhờ bàn tay chăm lo nuôi nấng của mẹ hiền trong những ngày bệnh tật, nhờ tình thương anh em ruột thịt biết hy sinh cho nhau trong buổi gian nan và nhờ sự cứu chữa tận tình của hai bác sĩ – bác sĩ Pháp Morue và bác sĩ Việt Lê Khắc Quyến – Trịnh Công Sơn dần dần hồi phục. Vẫn theo lời kể của Trịnh Quang Hà thì sau mấy tháng nằm liệt giường, yếu ớt gần như bất động, khi TCS cảm thấy khá hơn và gượng dậy được thì thú vui còn lại trong một hoàn cảnh như thế là mân mê chơi với “cây đàn bỏ quên”.  Với kiến thức nhạc lý căn bản trong những năm học trung học trường Tây, Trịnh Công Sơn tìm vào thế giới âm thanh như một lối thoát, một khúc quanh, một ngã rẽ tình cờ của thân phận vô thường.
            Ngày rời giường bệnh cũng là ngày mà Trịnh Công Sơn đã vịn âm thanh mà đứng lên như Phùng Quán đã vịn thơ mà đứng dậy trên đường đời nhiều chông gai và vấp ngã.  Nhạc Trịnh Công Sơn đã có một đường bay nghệ thuật riêng.  Ca từ của Trịnh Công Sơn có mãnh lực diệu kỳ cuốn hút người thưởng ngoạn nghệ thuật.  Đã nhiều người thắc mắc là tại sao người ta vẫn yêu thích ca từ của nhạc Trịnh ngay cả khi người ta không hiểu tác giả muốn nói gì qua lời ca. Trong thiền tịnh, người ta “quán” để hiểu tính thật của sự vật.  Quán niệm là khước từ phương tiện nghèo nàn và giới hạn của ngôn ngữ để tiếp cận và trực nhận ý nghĩa thật của sự vật.  Phải chăng hai năm nằm liệt giường trong không gian rỗng lặng và thời gian tụ tán vô thường của Huế, Trịnh Công Sơn đã “quán” được ý nghĩa đích thực của ca từ nên đã dùng chữ nghĩa mà không bị cột trói dính mắc vào hình tướng giả tạm của nó.  Trịnh Công Sơn đã thổi hồn phách vào lời nhạc mà không thông qua những khái niệm đời thường của ngôn ngữ... Vì thế, Trịnh Công Sơn và ngôn ngữ chỉ có một bên chiến thắng.  Khi người ta quên ký hiệu ngôn ngữ để chỉ còn nhớ lời ca của nhạc Trịnh Công Sơn được hát lên, tấu lên thành giai điệu đầy ắp, chiếm ngự lòng ta mà không cần phân tích lý luận “lời buồn thánh’, “cỏ xót xa đưa...” là gì thì chính là khi Trịnh Công Sơn ca khúc khải hoàn!
            Những ý nghĩ ngồ ngộ làm cho anh em bốn biển mới gặp nhau mà sắp chia tay nao lòng.  Năm Đồng và Bùi Cung sẽ lên du thuyền San Diego Cruise qua Mễ Tây Cơ.  Nguyễn Hùng sẽ bay về Las Vegas.  Trịnh Quang Hà và tôi thì vẫn “ngồi lại bên cầu.”
            Rồi cứ thế, đời đã và sẽ có bao nhiêu nụ hôn, bao nhiêu miếng đòn, bao nhiêu cuộc hẹn, sự đời, biến cố... mang tính “định mệnh” làm thay đổi con người và hoàn cảnh như trường hợp Trịnh Công Sơn?  Nếu có chăng một câu trả lời về nhân sinh, về thân phận con người rạch ròi như dữ kiện khoa học và kinh tế thì nghệ thuật đã được sản xuất theo hệ thống dây chuyền như tự điển Larousse, như viết Bic, như xe Ford... mất rồi!  Nghệ thuật mà thực dụng đến thế thì còn ai là nghệ sĩ để “trăn trở” đi tìm một ý tưởng, một vần thơ, một điệu nhạc, một đường nét sắc màu trong cô đơn, trong yếu đuối và cả trong sức bật sáng tạo bão liệt vỡ òa trong vũ trụ trên đường xây dựng tác phẩm?
            Hiểu nghệ sĩ nhưng không chủ quan như là nghệ sĩ mới mong giải đáp được câu nầy.  Lời “giải đáp” mới đến chiều nay là một ý nghĩ giản đơn và thực tế sau nụ cười rất hiền và đậm tình tri ngộ của Trịnh Quang Hà – tròn nửa thế kỷ sau ngày đưa võ sĩ Trịnh Công Sơn lên đường thành nhạc sĩ, 1957 - 2007 – khi chia tay: “Nì, mấy bạn ơi. Đời lên xuống, hợp tan ai mà nói trước được.  Mới đó mà anh Sơn đã đi năm, sáu năm rồi và phần lớn tụi mình cũng thay nhau về hưu cả rồi hỉ.  Ráng thăm nhau, đi chơi nhiều hơn cả lỡ khi ‘đi thiệt’ rồi thì còn đâu nữa mà đi chơi. Vui thôi mà!”
Trần Kiêm Đoàn
Sacramento, cuối Thu 2007
(Nguồn:  Báo Xuân Mậu Tý)

Anh trở về Hóa Đá ...

ANH TRỞ VỀ HÓA ĐÁ PHÍA BÊN TÊ…
Nhạc sĩ Nguyễn Xuân An và phu nhân Huỳnh Thị Hiền đang song ca. Tháng 6 - 2007


Nhạc sĩ :Nguyễn Xuân An và phu nhân Huỳnh Thị Hiền đang song ca. Tháng 6 - 2007
Nhạc sĩ Phương Anh Nguyễn Xuân An của Huế vừa qua đời. Có lẽ rất ít người biết Phương Anh là “ca hiệu” của Nguyễn Xuân An khi anh còn đi học. Thế nhưng người viết những dòng nầy “biết tỏng” vì chính hắn là tác giả của tên gọi nầy khi An “để ý” đến cô nàng tên Phương ở Thành Nội Huế mà “người đau khổ gieo sầu không hay…!” An có vẻ thích thú với tên tôi đặt cho chàng mỗi lần lên sân khấu. Chính tôi là… thủ phạm đưa Nguyễn Xuân An lên sân khấu đồng quê và anh… bị nổi tiếng ở vùng quê hương Hương Cần quýt ngon nhất nước.
Thuở ấy, Nguyễn Xuân An quê ở An Thuận nhưng gia đình lại dọn lên ở Thành Nội, trên con đường Nguyễn Thành có ba tụ điểm đầy tính… lịch sử nhất xứ Huế: Cửa Đông Ba, Chợ Xép và Cống Lương Y! Quê tôi là làng Liễu Hạ, phải ngang qua Hương Cần, dọc theo con sông Bồ xanh mướt mới đến làng An Thuận. Đặc sản của làng An Thuận là cốm. Cốm An Thuận ngon tới cỡ nào thì tôi chỉ còn một ấn tượng mơ hồ. Nhưng nhìn lại kho tàng kỷ niệm ấu thời tôi lại cảm thấy sợ như một “hội chứng hậu chấn thương.” Bởi đã có nhiều lần mấy chú thanh niên Liễu Hạ làng tôi đánh lộn dàng trời với thanh niên An Thuận làng Xuân An vì cứ mỗi lần thấy mấy cô nường An Thuận gánh cốm lên làng tôi bán, các chú lại tinh nghịch đón đường hát: “Hỡi cô bán cốm hai lu. Để cho tui gởi… con cu về cùng!” Thế hệ “gởi c…” ấy hôm nay chẳng còn ai. Tất cả đã rủ nhau đi về đất. Trăm năm chỉ còn lưu lại một thoáng cười cợt, đùa vui. Tất cả đều tan đi, mất dấu; chỉ còn lại niềm vui là bất tử. Ngày thế hệ chúng tôi lớn lên, làng xóm lặng mình trong chinh chiến. Chẳng còn ai có đủ nụ cười gởi gắm cho ai. Những lu cốm và những nàng bán cốm hai lu làng An Thuận điểm nụ cười đồng quê cũng phôi pha dần thành kỷ niệm ấu thời.
Năm 1962, khi tôi bắt đầu làm liên đoàn trưởng GĐPT Liễu Hạ, An nhận lời làm trưởng ban văn nghệ cho đơn vị GĐPT. Anh không sinh hoạt thường xuyên mà chỉ xuất hiện hát sân khấu do chúng tôi dựng lên trong những dịp rằm to, vía lớn. Chương trình văn nghệ đồng quê diễn ra thong dong và thông thoáng với những sân khấu lộ thiên. Khán giả là dân làng, dân xã đủ mọi thành phần trẻ già lớn bé lũ lượt rủ nhau đứng trước sân khấu. Sân khấu thường được xây dựng bằng những chiếc bàn dài học trò mượn ở trường học trên những cánh đồng trống lộng gió, ngập ánh trăng sau vụ mùa Đông Xuân. Thế nhưng sân khấu dã chiến vẫn có màn chính, màn phụ và màn gió cánh gà rất quy cách và mỹ thuật.
Nguyễn Xuân An là ca sĩ cây nhà lá vườn vừa hát vừa đệm đàn guitar tuyệt vời đầu tiên ở quê tôi đã hát hàng chục bài xen kẻ các tiết mục khác trong cùng một chương trình văn nghệ mà khán giả vẫn cứ vỗ tay rào rào hô: “Nữa! Nữa! Hát nữa” Tiếng hát của An quá mượt mà, phong phú và lôi cuốn trong những bản tân nhạc có hơi hướm dân ca thuở đó như Tình Nước Duyên Trăng, Hò Kéo Lưới, trích đoạn Trường Ca Ngày Trọng Đại… đã làm cho khán giả bảy làng thuộc xã Hương Cần và các làng lân cận ái mộ nhiệt thành. Nghe rồi còn ưng nghe nữa!
Ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, tôi và Nguyễn Xuân An còn bị tạm giam trong lô cốt quận Hương Trà cũng vì ở trong Ban Huynh Trưởng GĐPT Liễu Hạ.
Sau 1963, Nguyễn Xuân An chuyển hướng ít hát nhạc tình mà hát Ca Khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn, nhạc quê hương của Phạm Thế Mỹ, Tâm Ca Phạm Duy và nhiều nhạc phẩm làm ấm lên tình quê hương đất nước và niềm tự hào dân tộc trong phong trào Du Ca đương thời. Rất có thể chủ quan, nhưng trong đời, tôi chưa nghe ai hát những bản Đại Bác Ru Đêm, Tình Ca Người Mất Trí… hay hơn Nguyễn Xuân An trong thời kỳ còn đi học. Hay và ngọt ngào nhất là bản Thương Quá Việt Nam của Phạm Thế Mỹ. Sau nầy, có dịp về thăm Việt Nam 4 lần, lần nào cũng được nghe An hát trong tiệc thân hữu tại nhà riêng của Năm Đồng. Lần chót tôi được nghe An hát Thương Quá Việt Nam là vào một chiều mưa đầu tháng 6 năm 2007. Buổi tiệc thân tình có cả Năm Đồng, Phan Thị Châu, Phan Công Trinh, Trương Hoàng Thanh, Nguyễn Trung Dân, Quốc Thái, Đoàn, Lê… Cũng trong dịp nầy Xuân An và hiền thê, chị Hiền, hát chung với nhau những bản nhạc hòa âm rất chi là “phu xướng phụ tùy”.
Trở lại Huế xưa… Sau những năm đầy biến động, An bỏ Huế vào Nam, theo học trường Đại Học Vạn Hạnh. Giữa thập niên 1966, Nguyễn Xuân An trở lại Huế với một tư thế khác. Anh hát nhạc cộng đồng, nhạc tranh đấu và có những “đêm không ngủ”, An phụ trách nguyên cả chương trình hát nhạc đấu tranh tại giảng đưòng C và Tổng hội Sinh viên Huế. Tôi vẫn là khán giả đi dự các buổi trình diễn của An, nhưng tôi “mất” An từ đó. An mỗi ngày một nổi tiếng trong giới thanh niên, sinh viên học sinh của cả miền Nam đồng thời với Tôn Thất Lập, Nguyễn Phú Yên, Miên Đức Thắng… trong khi tôi lại e ngại tránh xa những người nổi tiếng có lẽ vì bản chất nông dân “vườn rau ao cá”, không đủ can đảm mượn hào quang của người khác để thắp sáng mặt mình. Trong tôi, Nguyễn Xuân An là một ca sĩ có giọng ca thiên phú, mượt mà, truyền cảm rất độc đáo.

Vắng đi gần 30 năm, trở lại quê nhà, tôi gặp lại Nguyễn Xuân An vào năm 1992 tại nhà Năm Đồng, vợ chồng người cháu ruột. Hình như cái giao tình “Tình Lúa Duyên Trăng” gác chân lên nhau nằm ngủ dưới trăng đồng quê với An thuở nào chỉ còn lãng đãng khói sương trong tôi và cả trong An, có lẽ. Thời kỳ này, Nguyễn Xuân An đã trở thành một nhạc sĩ với những bài hát do anh sáng tác có giai điệu tha thiết, tài hoa. Hai bản nhạc do An sáng tác được phổ biến nhiều nhất là bản về “vị đắng cà phê…” và đặc biệt là bản nhạc “Tạm Biệt Huế” phổ thơ Thu Bồn. Thơ Thu Bồn về Huế đã như một dòng chảy âm thầm mà sâu lắng; nay kết hợp với giai điệu ray rứt buồn, miên man nhớ của Xuân An làm cho người nghe mường tượng một hòn vọng phu vừa hóa đá của cảm xúc vừa đi về phía… bên tê:
“… Nhịp cầu cong và con đường thẳng
Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu
Con sông dùng dằng con sông chảy ngược
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt
Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hoá đá phía bên kia”.
Xuân An ra đi ngày 25-10-2007 ở tuổi 62 tại Sài Gòn. An hơn tôi một tuổi. Ở tuổi nào mà đi mãi không về thì cũng có người cho là quá sớm và như Hemingway thì cho là quá muộn… thế thôi – quá ngọ em về hơi muộn, quá khuya em đến chưa tàn – Những anh chị em thế hệ chiến tranh Việt Nam lần lượt ra đi. Những ly rượu nửa cạn, nửa đầy giở cuộc. Nhắc đến ca nhạc sĩ Nguyễn Xuân An là nhắc đến bản trường ca của cả một thế hệ. Tôi ở bên nầy biển, không đến tiễn bạn ra đi, nhưng rồi ai cũng sẽ gặp lại trong một ngày “hóa đá phía bên tê”. Chúc Xuân An sẽ gặp bạn hiền Thành Nội Nam Giao – như Phùng Quán, như Hẳi Bằng, như Trịnh Công Sơn, như Bửu Chỉ, như Thái Ngọc San, như Tôn Thất Văn… – trong cuộc hẹn hôm ni và mai tê trùng trùng duyên văn nghệ: Vì “Nghìn năm sỏi đá cũng còn có nhau” mà!
Trần Kiêm Đoàn
New Castle đêm Halloween 2007

Ai quý hơn ai ?

Mẹ hay Vợ: Ai Quý Hơn Ai?
Mẹ và vợ ngã xuống sông cùng một lúc, nếu cứu mẹ thì vợ sẽ chết hoặc cứu vợ thì mẹ sẽ chết. Vậy nên cứu mẹ hay cứu vợ hoặc là không cứu cả hai?
MẠNH TỬ:
Bố chết từ khi còn nhỏ, mẹ nuôi nấng, dạy dỗ ta rất khó nhọc. Mẹ phải ba lần dọn nhà để tránh những ảnh hưởng xấu, dành món ngon cho ta ăn, mua áo đẹp cho ta mặc, tất cả là để cho ta có thể ngẩng cao đầu nhìn thiên hạ. Mẹ và vợ cùng ngã xuống sông, tất nhiên ta phải cứu mẹ rồi. Lấy chữ hiếu làm đầu, vợ chết thì lấy vợ khác, mẹ chết làm gì có mẹ nữa!
Trên thế gian này chỉ có Mẹ là tốt nhất. Không có mẹ, con trẻ như cỏ cây, biết bấu víu vào đâu? Mẹ! Con sẽ cứu mẹ! Mạnh tử nhảy ùm xuống sông.
CHU U VƯƠNG:
Vợ và mẹ cùng ngã xuống sông, tất nhiên là phải cứu vợ trước. Nghĩ lại ngày trước ta đùa giỡn với nàng, nhìn nàng cười, đến cả giang sơn lẫn sinh mạng nhỏ bé của ta cũng chẳng nghĩa lý gì, huống hồ là mẹ! Khi lập Thái tử, bà ấy còn định bỏ ta làm ta suýt mất cả ngôi báu.
"Tình cảm đằm thắm, ta yêu nàng rất nhiều, ta sẽ cứu nàng!" Chu U vương cũng nhảy ùm xuống sông.
LƯU BỊ:
Anh em như chân tay, vợ con như áo mặc; áo rách có thể vá, chân tay gãy không thể lành.. Chỉ cần Nhị đệ và Tam đệ của ta không ngã xuống sông là được, những kẻ khác ta không thèm để ý.
"Mẹ ơi! Nàng ơi! Các người chết thật thê thảm!" Lưu Bị đứng trên bờ sông khóc lớn.
TÀO THÁO:
Thà rằng ta phụ người chứ không để người phụ ta, mẹ ta hay vợ ta cũng thế thôi, chỉ cần ta không ngã xuống sông là được rồi.
"Ta nhẹ nhàng đi cũng như khi ta nhẹ nhàng đến, ta vẫy tay chào không một chút vấn vương." Tào Tháo vừa ngâm thơ vừa chầm chậm bước đi.
KHUẤT NGUYÊN:
Thế gian này u ám quá,triều đại này thật hủ bại! Sống cũng chẳng còn có ý nghĩa gì, chi bằng chết cho trong sạch. Song anh có thể rửa mặt và rửa chân cho ta.
Khoảng trời hiện tại là khoảng trời u ám, chẳng còn có thể nhìn tinh tú trên trời. Mẹ ơi! Nàng ơi! Ta cùng nhau chết ở nơi đây!" Khuất Nguyên vừa hát vừa từ từ nhảy xuống sông..
TRANG TỬ:
Sinh về đâu và chết sẽ về đâu? Mẹ và vợ ta chết cứ chết, chẳng qua chỉ là từ trạng thái hữu hình trở về trạng thái vô hình, có gì phải đau đớn, có gì phải xót thương? Chẳng cần phải cứu ai cả! Trang tử ngồi xuống, tay nắm một mảnh sành vừa gõ nhịp vừa hát, mắt nhìn mẹ và vợ chìm đần xuống sông, nét mặt mãn nguyện.
HOÀ THÂN :
Ai ngã xuống sông thì cứ ngã, cái ta yêu là tiền bạc. Tiền bạc là mẹ ta, là vợ ta. Sao trước khi ngã, các người không mặc ít quần áo thôi, điều đáng tiếc nữa là trâm vàng, khuyên bạc còn ở trên đầu các người.
"Có tiền là có tất cả!" Hoà Thân đứng trên bờ vùa nhìn mẹ và vợ dần dần chìm xuống sông vừa thở dài.
VƯƠNG BỘT:
Lòng bàn tay và mu bàn tay đều là thịt. Vợ là người ta yêu nhất, mẹ là người thân thiết nhất.. Vậy phải làm thế nào đây? Thôi cứ nhảy xuống sông, thấy ai ở gần thì cứu. Vương Bột vội nhảy ùm xuống sông.
"Chết rồi! Ta quên mất là ta cũng không biết bơi!" Vương Bột vẫy vùng một cách tuyệt vọng rồi từ từ chìm xuống sông.


LỜI BÀN :
1. Mạnh Tử: Thương mẹ hơn vợ thì chắc là lai………VIỆT NAM !
2.Chu U Vương: Yêu vợ nồng nàn nên chắc lai…….PHÁP QUỐC !!
3. Lưu Bị: Lo cho anh em đồng chí hơn gia đình là lai………...NGA SÔ (tinh thần quốc tế vô sản)
4.Tào Tháo: Thấy chết không cứu phớt tỉnh……….ĂNG LÊ (ENGLAND)!!
5. Khuất Nguyên: Tự sát chết theo là tinh thần võ sĩ đạo xứ Phù Tang (JAPAN)
6. Trang Tử: Giống Tào Tháo lai ………Anh Cát Lợi
7. Hòa Thân: Thực tế kiểu…………….MỸ !
8. Vương Bột: Không biết trời cao đất rộng nhắm mắt liều mạng thì là chính gốc………Tàu (CHINA)

Ngày xưa Hoàng Thị- PTT


"Ngày Xưa Hoàng Thị"

Phạm Thiên Thư và Ngày Xưa Hoàng Thị
Mặc Lâm,
“Anh trao vội vàng, chùm hoa mới nở…”đó là hình ảnh đầy sức sống của một thời niên thiếu mà ai trong chúng ta cũng đã từng qua. Thế nhưng đối với những ai tò mò thì tác giả bài thơ nổi tiếng này có thật là đã trao chùm hoa cho cô Ngọ để bài thơ trở thành nổi tiếng đến như thế hay không?
Vì Phạm thiên Thư, như chúng ta đều biết là một nhà sư, vậy bài Ngày Xưa Hoàng Thị được ông sáng tác từ bao giờ?
“Bài Ngày Xưa Hoàng Thị tôi viết trước khi đi tu. Khi tôi vào chùa rồi thì hình ảnh trên đường đi làm tôi nhớ lại kỷ niệm xưa. Nhớ lại hình ảnh của cô Ngọ, thời học trò ấy mà. Chẳng có tình yêu đâu chỉ là học trò vui vui thôi. Đó là lý do tại sao tôi viết bài đó.”
giọng ca Hiếu Thuận
http://www.youtube.com/watch?v=OzmrNCfTs1I&feature=related
Bài Ngày Xưa Hoàng Thị tôi viết trước khi đi tu. Khi tôi vào chùa rồi thì hình ảnh trên đường đi làm tôi nhớ lại kỷ niệm xưa. Nhớ lại hình ảnh của cô Ngọ, thời học trò ấy mà.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư
Phạm Thiên Thư vừa cho chúng ta biết một chút lý lịch của bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị, bài thơ này đã một thời gây sóng gió trong khuôn viên các trường Trung cũng như đại học tại Việt Nam vào đầu những năm bảy mươi. Nhạc sĩ Phạm Duy đã tinh tế khi chọn bài thơ này để phổ nhạc và sau đó hàng loạt bài khác của Phạm Thiên Thư liên tục chiếm lĩnh đài phát thanh Sài Gòn trong nhiều năm trời.

Ngày Xưa Hoàng Thị
 Giọng ca Thái Thanh
Trở lại với “Ngày Xưa Hoàng Thị”, tác phẩm đem người đọc tới với thơ Phạm Thiên Thư như chính tác giả thừa nhận. Âm hưởng vừa ngây thơ như thư sinh lại vừa thâm trầm như người tu thiền khiến bài thơ có nét độc đáo khác biệt vừa lãng mạn vừa uyên nhu, rất riêng tư nhưng không thiếu phần lôi cuốn. Hình ảnh người con trai âm thầm theo sau cô Ngọ mang nét đẹp của vụng dại, hồn nhiên khá tương phản với cái trầm tư của những từ kinh điển như “Áo Tà Nguyệt Bạch” hay “Ðời Như Biển Động” hoặc “Xóa Dấu Ngày Qua”. Bài thơ có những chi tiết rất đắt khi gợi lên hình ảnh chú chim non đang dấu mỏ dưới cội hoa vàng. Chú chim lén nhìn một cách thích thú gót chân chàng trai lẽo đẽo theo cô Ngọ trong một chiều tan trường với áo trắng đầy sân.
  Em tan trường về
Ðường mưa nho nhỏ
Chim non dấu mỏ
Dưới cội hoa vàng


Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài


Anh đi theo hoài
Gót giày thầm lặng


Ðường chiều uá nắng
Mưa nhẹ bâng khuâng ...


Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhòa mau


Tưởng đã phai màu
 Đường chiều hoa cỏ 


Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng dáng đỏ


Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu  

Chân theo tìm nhau
Còn là vang vọng
Ðời như biển động
Xóa dấu ngày qua


Tay ngắt chùm hoa
Mà thương mà nhớ
Bài thơ tuy nhắc lại một cách dịu dàng kỷ niệm thời xưa nhưng đã động lòng biết bao thế hệ sau đó. Những chàng trai thời a vòng hôm nay đâu thua gì thế hệ Phạm Thiên Thư bởi họ cũng đã và đang bâng khuâng chờ tiếng chuông tan trường để được xao xuyến theo sau gót chân những cô Ngọ thời nay. Mặc dù cô Ngọ của thế kỷ 21 không còn e ấp như xưa nhưng nét duyên muôn thuở của thời áo trắng dễ gì phai nhạt?
Phạm Thiên Thư tuy xuất hiện không lâu trên vòm trời văn học Việt Nam nhưng thơ của ông có những nét rất riêng và sự khác biệt chọn lọc đó đã được trả công từ người đọc lẫn người nghe thơ ông. “Ngày Xưa Hoàng Thị” tuy chỉ là một bài thơ phổ nhạc nhưng có sức thu hút lòng người một cách mạnh mẽ. Bốn mươi năm sau khi nghe lại bài thơ này người ta vẫn không khỏi ngạc nhiên tự hỏi sao lại có một bài thơ hay như thế? 


Mang Thiền vào Thơ
Phạm Thiên Thư có những bài thơ tình tuyệt vời mặc dù bản thân ông là một nhà tu. Điều gì đã dẫn ông tới bên bờ luyến ái khi từ tâm thức ông là đồ đệ chân chính của thiền môn?
Thật ra không phải lúc nào nhà thơ cũng theo đuổi tình yêu. Bên cạnh những lời thơ mang bóng sắc của cái ngã, Phạm Thiên Thư đã mang Thiền vào thơ của ông kể từ bài Động Hoa Vàng. Tác phẩm đã mở một hướng nhìn mới vào thế giới của tu trì và từ bên trong người theo gót thiền có cơ hội dàn trải những tình cảm trước thiên nhiên, cuộc sống trong đó không loại trừ tình yêu đôi lứa. Tình yêu trai gái trong thơ ông cũng nhuộm phần nào hơi hướm của tăng sòng và từ đó thơ ông trở nên tĩnh tại và sâu lắng hẳn.
“Sau khi vào chùa, thời gian đó cái tư tưởng của nhóm thầy Nhất Hạnh đưa ra gọi là tu sĩ mới ảnh hưởng. Tôi có ý làm sao mà tu theo hướng tinh thần mới, con người mới trong đó có cả thơ phú dưới hình thức Thiền. Đó là lý do tại sao tôi sáng tác thơ tình cảm có nhuốm chất Thiền. Thứ nhất tôi cũng là một người trong học hội Hồ Quý Ly từ năm 19 tuổi cho tới năm 23 tuổi thì tôi vào chùa. Tôi muốn làm sao sử dụng sức mạnh dân tộc vì theo gương Hồ Quý Ly, ông là một vị nghiên cứu chữ Nôm cho nên tôi đưa tinh thần dân tộc là làm sao tạo nét độc sáng cho thanh niên để vươn lên sức mạnh dân tộc qua bài thơ này, mỗi đoạn 4 câu chứa những nét của dân tộc.”
Động Hoa Vàng
Bốn trăm câu lục bát của bài Động Hoa Vàng mà Phạm Thiên Thư vừa nhắc tới như một bức tranh xuân trong đó ẩn chứa nhiều triết lý thú vị của cảm quan cuộc sống. Sự bừng nở thi tứ yêu đương trong suốt bài thơ làm hơi thơ trở thành sương sớm quyện trong chút nắng hừng ấm đầu xuân. Động Hoa Vàng có thể là nơi non cao, núi vắng nhưng cũng có thể là một xóm nhỏ nào đó giữa buổi chiều xuân im ắng hanh hao. Kẻ theo Thiền đạo có thể tin rằng mình vừa tìm được một lối nhỏ mong manh giữa cuộc trần dẫn đến sự thoát thai ý thức. Trong khi đó, người trần tục cũng không thể phớt lờ được từng ẩn dụ ý nhị lấp lánh phía sau mỗi câu thơ trong như suối ngàn và xanh như rừng thẳm.
Con chim mùa nọ chưa chồng
Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
Từ em giặt áo đông tơ
Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm
 
Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
Cửa sương nhẹ mở âm vào
Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca
 
Lên non cuốc sỏi trồng hoa
Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
Vớt con cá nhỏ lòng đòng
Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ
 
Em nghiêng nón hạ cầu mưa
Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
Hoa sầu cỏ cũng sầu chia
Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha
 
Thôi thì thôi để mặc mây trôi
Ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
Thôi thì em chỉ là phù vân
Thôi thì thôi nhé có ngần ấy thôi...
 
Con khuyên nó hót trên bờ
Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
Tưởng xưa có kẻ trên lầu
Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa
 
Tóc dài cuối nội mây xa
Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
Dùng dằng tay lại cầm tay
Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa
.................
Ừ thì mình ngại mưa mau
Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
Sông này chảy một dòng thôi
Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông 
......
Ðôi uyên ương trắng bay rồi
Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha
 
Con chim chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
Mai anh chết dưới cội đào
Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu 
....
Tiếng chim trong cõi vô cùng
Nở ra bát ngát trên rừng quế hương
Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng
Em Lễ Chùa Này
Phạm Thiên Thư cũng được biết tới qua một bài thơ khác mang tên “Em Lễ Chùa Này”. Bài thơ có dáng dấp của truyện kể dân gian. Thật ra theo nhà thơ thì câu chuyện này hoàn toàn có thật, ông kể:
… ông ấy nhớ lại tình cảm hồi xưa khi ông còn là chú tiểu thì ông ấy gặp một cô bé đi chùa, ông tiểu cứ đánh chuông cho cô ấy nghe và cuối năm thì cô ấy chết đi. Cảm động từ câu chuyện này tôi làm bài thơ “Em lễ chùa này”.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư
“Bài thơ này sáng tác theo lời một ông thầy khi ấy đã quá 50 tuổi rồi, ông ấy nhớ lại tình cảm hồi xưa khi ông còn là chú tiểu thì ông ấy gặp một cô bé đi chùa, ông tiểu cứ đánh chuông cho cô ấy nghe và cuối năm thì cô ấy chết đi. Cảm động từ câu chuyện này tôi làm bài thơ “Em lễ chùa này”.”
 
Đầu Mùa Xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này - vườn nắng tung bay
Và ngàn lau - vàng màu khép nép
Bãi sông bay - một con bướm đẹp
 
Tàn Mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa - Trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa - tơ óng như mây
 
Mộ của em - mộ vừa mới lấp
Có con chim - nào hót trên cây
Lời của chim - chìm vào tiếng suối
Suối xanh lơ - buồn khóc ai hoài
 
Rồi từ đây - vườn chùa thanh vắng
Đến thăm em - ngày tháng qua mau
Một nụ mai - vừa nở trong nắng
Hỡi em ơi - mây đã qua cầu
Đoạn Trường Vô Thanh
Phạm Thiên Thư cũng được biết đến nhiều qua tác phẩm “Đoạn Trường Vô Thanh” Tác phẩm này bị nhiều người cho là chạy đua với Nguyễn Du khi dùng cùng một thể thơ lục bát và tên gọi của tác phẩm. Sự thật ra sao chúng ta hãy nghe nhà thơ trần tình.
“Trong thời gian đó bên Trung Quốc có cuốn sách tựa là “Nguyễn Du Là Gì”. Cuốn sách nói rằng Nguyễn Du chỉ dịch của Trung Quốc, về văn chương không có gì độc sáng cả chỉ lấy từ Trung Quốc mà thôi. Tôi viết “Đoạn Trường Vô Thanh” nhằm nói về những nét độc đáo của dân tộc.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

Thông Minh tuyệt vời


THÔNG MINH TUYỆT VỜI


 Xin mời các bạn đọc để thấy sức thông minh phi-thường của em bé trai 6 tuổi …
Bé Tèo năm nay 6 tuổi nhưng đă học tiểu học đến lớp 5 . Học được một tuần thì bé Tèo chán học, không chịu làm bài vở nữa. Cô giáo bèn hỏi nguyên nhân tại sao thì bé Tèo nói là tại chương trình  học quá thấp so với trình độ của bé, và  bé Tèo xin cô cho lên học bậc trung học. Cô giáo dẫn bé Tèo lên văn phòng ông hiệu- trưởng, trình bày đầu đuôi câu chuyện.  Ông hiệu trưởng bán tín  bán nghi, bàn với cô giáo là ông sẽ hỏi bé Tèo một số câu hỏi về Khoa học còn cô giáo sẽ hỏi Tèo về kiến thức tổng quát, nếu  bé Tèo trả lời đúng ông sẽ cho bé Tèo nhảy lớp .
  Hiệu trưởng hỏi bé Tèo:
 25 lần 25 là bao nhiêu ?
  Bé Tèo : Dạ là 625
  Hiệu trưởng : Công thức tính diện tích vòng tṛòn ?
  Bé Tèo : Dạ là bình phương bán kính nhân Pi
  Hiệu trưởng : Nước bốc thành hơi khi nào ?
  Bé Tèo : Dạ khi nước sôi ở 100 độ C...

Sau gần 1 tiếng "tra tấn" bé Tèo, câu nào bé Tèo cũng đáp đúng hết,ông hiệu trưởng rất hài lòng về kiến thức khoa học của bé Tèo và giao cho cô  giáo hỏi về kiến thức tổng quát :

 Cô giáo : Con gì càng lớn càng nhỏ ?
 Ông hiệu trưởng nhíu mày suy nghĩ nhưng bé Tèo trả lời ngay
  Bé Tèo : Dạ là con cua nó có càng lớn và càng nhỏ
 Cô giáo : Cái gì trong  quần em có mà cô không có ?
 Ông hiệu trưởng xanh cả mặt
 Bé Tèo : Dạ là 2 cái túi quần
 Cô giáo : Ở nơi đâu lông của đàn bà quăn nhiều nhất ?
 Ông hiệu trưởng run lên
 Bé Tèo : Dạ ở Phi Châu
 Cô giáo : Cái gì cô có ở giữa 2 chân của cô ?
 Ông hiệu trưởng chết điếng người
 Bé Tèo : Dạ là cái đầu gối
 Cô giáo : Cái gì trong người của cô lúc nào cũng ẩm ướt ?
 Ông hiệu trưởng hốc mồm ra
 Bé Tèo : Dạ là cái lưỡi
 Cô giáo : Cái gì của cô còn nhỏ khi cô chưa có chồng và rộng lớn ra  khi cô lập gia đ́ình ?
Ông hiệu trưởng ra dấu không cho bé Tèo trả lời nhưng bé Tèo đáp ngay
Bé Tèo : Dạ là cái giường ngủ
Cô giáo : Cái gì mềm mềm nhưng khi vào tay cô một hồi thì́ cứng ra ?
Ông hiệu trưởng không dám nhìn cô giáo
Bé Tèo : Dạ là dầu sơn móng tay
Cô giáo : Cái gì dài dài như trái chuối, cô cầm một lúc nó chảy nước ra ?
Ông hiệu trưởng gần te xỉu
Bé Tèo : Dạ là  cây cà lem
Cô giáo: Đàn bà thích sờ cái gì nhất của ông chồng?
Ông hiệu trưởng tự bịt 2 lỗ tai              
Bé  Tèo: Đàn bà thích sờ cái pay check của ông chồng nhất
Ông hiệu trưởng đổ mồ hôi hột ra dấu  bảo cô giáo đừng hỏi nữa
 và nói với bé Tèo :
Thầy cho con lên thẳng đại học vì từ năy giờ thầy đáp không trúng được 1 câu nào cả.
Hi...Hi...Hi. .. ST



Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Độc Ẩm

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

Ý nghĩa của bàn phím ...

Nhìn lên bàn phím máy tính nào cũng vậy:

- Phím C luôn sát cánh bên phím V nghĩa là Chồng và Vợ luôn gắn bó và mãi mãi bên nhau.

-Ngay phía dưới phím A là phím Z, thế mà xưa nay ta cứ tưởng A và Z xa nhau lắm. Có nhiều thứ cũng nghĩ là khác nhau rõ ràng như A và Z… hóa ra khoảng cách cũng mong manh lắm.

- Phím S và phím D nằm cạnh bên nhau, trong cuộc sống sự phân biệt và khoảng cách giữa Đúng và Sai có bao giờ rõ ràng…
- Tại sao phím U luôn đứng cạnh phím I nhỉ ? Và ngay bên trái đó là 2 phím T và Y nữa ? Vì Tình yêu” của “U and I", đúng thế !


-Chú Phúc máy mó mần chi ba cái chuyện tầm phào.

-Bàn phím tiếng Mỹ : Q (trên) A (ngay dưới). Bàn phím tiếng Pháp : A và Q đổi chỗ cho nhau. Rứa là răng? A Q (anh cu) hay Q A (cu anh)hayhơn? 
-N và M (anh và em) bên nhau. Bàn phím tiếng Pháp : N ở lại một mình, M bị đưa đi nơi khác, thay vào sát đó là
phím ; có nghĩa N và M (Ngưu Lang Chức Nữ) bị ngăn cách, mãi mãi không hề được đoàn tụ.
(Lượm lặt từ email)

Thơ Từ đâu đến -NĐT

Một cựu HS Nguyễn Hoàng BBC giới thiệu. Nguyễn Đức Tùng, em Nguyễn Văn Dũng lớp 10C. mời đọc:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/2009/12/091201_thodentudau.shtml

Một cách tự hóa giải
Nguyễn Thụy Kha


Nhà thơ, nhạc sỹ
Bìa cuốn "Thơ từ đâu đến"
Tác giả Nguyễn Đức Tùng hiện sống tại Canada
Bước vào thiên niên kỷ mới, không ít nhà thơ vẫn còn quyến luyến với thời đại cũ, cũng không ít nhà thơ hoang mang trước ma thuật hậu hiện đại.
Chỉ có một số người can đảm dám khước từ những thói quen xưa, lặng lẽ trong việc tự làm mới mình, dù “chín muộn” thì cũng không chịu lưu ban cùng thế kỷ.
Chính giữa những ngổn ngang rối bời, những băn khoăn trăn trở ấy của thời đại chúng ta, có một nhà thơ, nhà phê bình, tự đặt câu hỏi cho mình và cũng cho tất cả chúng ta rằng “thơ đến từ đâu?”.
Sau đó, câu hỏi ấy đã được nhiều nhà thơ trong nước và hải ngoại tìm cách trả lời.
Người đặt câu hỏi là nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, hiện sống ở Canada.
Đấy là câu hỏi của muôn thuở, nhưng không phải ai cũng biết cách đánh thức nó dậy giữa một thời kỳ đầy biến động như hiện nay.
Theo tôi, Nguyễn Đức Tùng đã làm được điều đó một cách hữu hiệu.
Tập tiểu luận thực hiện bằng thủ pháp phỏng vấn tài hoa, dày dạn kinh nghiệm, mang tên “Thơ đến từ đâu” đã minh chứng cho sự hữu hiệu đó.
Thơ là một nghệ thuật có tính nhân loại, nhưng những người được phỏng vấn là những nhà thơ Việt, vậy tập tiểu luận này có bị khu biệt, bị “địa phương hóa” hay không?
Phỏng vấn các nhà thơ Việt
Câu trả lời của tôi là không.
Đã là nhà thơ thì ở đâu trên hành tinh này đều là nhà thơ cả, nhưng nhà thơ Việt lại là những kẻ phải gánh chịu thử thách cam go nhất của mấy thập kỷ chiến tranh mà dân tộc Việt phải đương đầu với những cường quốc. Và cả với đồng bào mình với nhau nữa.
Bởi vậy, có vẻ như những câu trả lời xuất phát từ đây sẽ nặng tính thuyết phục nhất. Nhưng sự thuyết phục cũng bắt đầu ở chính người đặt câu hỏi, vì những câu hỏi hay có khả năng gợi mở cao, tạo cảm hứng lớn cho những câu trả lời hay.
Những câu trả lời hay lại tạo cảm hứng ngược lại cho những câu hỏi tiếp theo. Trong các cuộc trò chuyện văn học vừa thân mật vừa căng thẳng như thế này, để gợi mở và tạo cảm hứng, người hỏi phải có một “phông” văn hóa thâm hậu, đặc biệt là văn hóa thơ , lại càng phải thâm hậu hơn nhiều lần.
Qua những phỏng vấn vừa nặng tính chất học thuật vừa đầy cảm xúc cá nhân, các nhà thơ trong nước có dịp hiểu kỹ hơn các nhà thơ hải ngoại và ngược lại. Khi các nhà thơ đã hiểu và cảm thông với nhau trên ý tưởng thơ, nghệ thuật thơ, thì có lẽ dân tộc chúng ta sẽ có một ngày, một cơ hội “hóa giải” cho chính mình.
Nguyễn Thụy Kha
Theo tôi, Nguyễn Đức Tùng thật sự là một người đang đặt ra cho thơ Việt những câu hỏi vừa hấp dẫn vừa khó khăn, một người phỏng vấn văn chương độc đáo đương thời.
Tôi gặp anh tại Sài Gòn tháng Tư 2007.
Rất ngạc nhiên vì vẻ thanh cao của anh sau cặp kính trắng, sau những bày tỏ nhã nhặn. Ngạc nhiên hơn khi tôi biết anh vẫn đang hành nghề bác sĩ, tốt nghiệp ngành cấp cứu ở Canada. Vậy là chàng thầy thuốc này phải yêu thơ lắm thì mới cả gan làm cái việc ngỡ như một “trò chơi vô tăm tích” (chữ của Phạm Thị Hoài) này.
Nhưng điều bất ngờ hơn nữa đối với tôi là anh vốn quê ở Quảng Trị. Và anh đã ra đi từ đó vào năm 1972 của “mùa hè đỏ lửa”.
Khi Nguyễn Đức Tùng rời quê hương cũng là khi tôi đến quê anh dấn thân vào “mùa hè đỏ lửa” này. Anh có một Quảng Trị từ ấu thơ cho đến 1972. Tôi lại có một Quảng Trị từ 1972 ác liệt, từ 1973, chống lấn chiếm. Và 1975 phục hồi trên những tro tàn đổ nát. Cho tới hôm nay.
Quảng Trị chính là giao điểm một vòng đời giữa tôi và Nguyễn Đức Tùng, tình thơ và tình bạn văn chương. Một đoạn đời mơ mộng của anh, nối một đoạn đời nhức nhối của tôi. Chuyện đi, chuyện lại kiểu gì rồi cũng quay về với sông Thạch Hãn, với trường Nguyễn Hoàng và những gì rất đỗi thân thương, bao kỷ niệm vui buồn không ngớt trở về gõ cửa tâm hồn.
Hình như, thơ đến từ đây chăng?
Mùa hè ấy, chúng tôi ôm nhau cười trên tòa nhà cao khách sạn Sài gòn, cười theo nắng tỏa xuống sông Sài Gòn, trôi theo những con tàu du lịch về mãi xa xăm, nơi tâm tưởng một mùa hè khác. Quả thật, Quảng Trị là ám ảnh của anh và tôi.
Song có lẽ, từ nỗi ám ảnh của “vết sẹo câm” này, chúng tôi bắt đầu nhìn rộng ra ám ảnh toàn cục của cuộc chiến tranh, ám ảnh trở về và ám ảnh ly tán sau chiến tranh. Cuối cùng, câu chuyện dẫn đến một mơ ước “ hóa giải dân tộc” trong một tương lai gần.
Ai cũng cảm thấy để “hóa giải” được cái thời dâu bể này, nghệ thuật, trong đó có thơ, thật quan trọng. Bởi vậy, câu hỏi “thơ đến từ đâu” theo tôi hình như cũng chứa đựng tinh thần “hóa giải” này.
Như thế, qua những phỏng vấn vừa nặng tính chất học thuật vừa đầy cảm xúc cá nhân, các nhà thơ trong nước có dịp hiểu kỹ hơn các nhà thơ hải ngoại và ngược lại.
Khi các nhà thơ đã hiểu và cảm thông với nhau trên ý tưởng thơ, nghệ thuật thơ, thì có lẽ dân tộc chúng ta sẽ có một ngày, một cơ hội “hóa giải” cho chính mình.
Chính vì ý tưởng ấy, tôi nghĩ rằng khi tác giả tìm đến với các nhà thơ khắp nơi, vốn là một công việc khó khăn do cách trở, thực hiện câu hỏi “thơ đến từ đâu”, cũng là một chuyện bắt nguồn sâu xa từ nhu cầu tự hóa giải trong tâm hồn mình. Là một bác sĩ, anh đã chữa lành cho nhiều người bệnh, nhưng để chữa lành vết thương của chính lòng mình, anh đã tìm đến với thơ, không những thế, đã tìm đến nguồn cội của thơ.
Tôi đã thầm chiêm ngưỡng Nguyễn Đức Tùng khi cùng anh ngồi nghe một canh “quan họ làng” ở Bắc Ninh, trong chuyến đi cùng Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đặng Mừng, Phạm Xuân Nguyên.
Những ối á, í à, “vang, rền, nền, này” của những giai điệu quan họ lãng mạn và đầm đìa chất thơ đã làm chàng thi sĩ xa xứ vừa lạ lùng, bỡ ngỡ, lại vừa bổi hổi yêu thương. Những câu ca làm mềm lòng kẻ viễn du, mây nổi. những chiếc nón quai thao và những giải lụa đào vừa che chở, vừa thắt buộc con người vào những tâm thức khác thường.
Trong những khoảnh khắc ấy, sao những con người Việt chúng ta thấy gần nhau quá đỗi, thấy là nhau, như nhau, không còn gì cách biệt như thể không bao giờ có muôn dặm địa lý, ngàn trùng lịch sử.
Hình như, thơ đến từ đây chăng?
Cuốn 'Thơ đến từ đâu' của Nguyễn Đức Tùng do Nhà xuất bản Lao Động ấn hành, ra mắt ngày 01/12/2009 tại Hà Nội.

các món ăn thức ăn kỵ nhau

BÀI THƠ VỀ CÁC MÓN ĂN KỊ NHAU
________________________________________
Mật ong, sữa, sữa đậu nành?
Ăn cùng tắc tử - phải đành xa nhau!


Gan lợn, giá, đậu nực cười?
Xào chung, mất sạch bổ tươi ban đầu!


Thịt gà, kinh giới kỵ nhau?
Ăn cùng một lúc, ngứa đầu phát điên!


Thịt dê, ngộ độc do đâu?
Chỉ vì dưa hấu, xen vào bữa ăn!


Ba ba ăn với dền, sam
Bụng đau quằn quại, khó toàn vẹn thân!


Động kinh, chứng bệnh rành rành?
Là do thịt lợn, rang chung ấu Tầu!


Chuối hột ăn với mật, đường?
Bụng phình, dạ trướng, dọc đường phân rơi!


Thịt gà, rau cải có câu?
Âm dương, khí huyết thoát vào hư vô!


Trứng vịt, lẫn tỏi, than ôi?
Ăn vào chắc chết, mười mươi rõ ràng!


Cải thìa, thịt chó xào vô?
Ăn vào, đi tả, hôn mê khôn lường!


Sữa bò, cam, quýt, bưởi, chanh?
Ăn cùng một lúc, liên thanh sấm rền!


Quả lê, thịt ngỗng thường thường?
Ăn vào cơ thể đùng đùng sốt cao!


Đường đen pha sữa đậu nành?
Đau bụng, tháo dạ, hoành hành suốt đêm!


Thịt rắn, kị củ cải xào?
Ăn vào, sao thoát lưỡi đao tử thần!


Nôn mửa, bụng dạ không yên?
Vì do hải sản ăn liền trái cây!


Cá chép, cam thảo, nhớ rằng?
Ăn chung, trúng độc, không cần hỏi tra!


Nước chè, thịt chó no say?
Thỉnh thoảng như thế, có ngày ung thư!


Chuối tiêu, môn, sọ phiền hà?
Ruột đau quằn quại, như là dao đâm!


Khoai lang, hồng, mận ăn vô?
Dạ dày viêm loét, tổn hư tá tràng!


Ai ơi, khi chưa dọn mâm?
Nhắc nhau nấu nướng, sai lầm hiểm nguy!


Giàu Vitamin C chớ có tham
Nấu cùng ốc, hến, cua, tôm, nghêu, sò!


Ăn gì? ăn với cái gì?
Là điều cần nhớ, nên ghi vào lòng!
Chẳng may ăn phải, vài giờ?
Chúng tạo chất độc bảng A chết người!
Quý nhau mời tiệc lẽ thường!
Thức ăn tương phản, trăm đường hại nhau!