Có khi gọi là thành
phố Quảng Trị có 6 phường. Ấy là kể theo tình trạng trước 1945. Phường Đệ Nhất và
Đệ Nhị ở kế nhau, là khu vực nhà và phố chung quanh chợ Quảng Trị. Kể từ tiệm
ăn Như Ý của bà mẹ Như Xuân + Định, - nhà ông Huy, - gia đình Thu Ba, Mỹ Lệ...
dài ra tới sân Vận Động cũ, sau nầy là trường Nguyễn Hoàng là khu vực phường Đệ
Tam. Từ đường Nguyễn Hoàng (trường Nguyễn Hoàng cũ), nhà bác Xạ Quí, thân phụ
Quang Hiển, Bạch Mai... lên tới địa phận cầu Ga và nhà Ga Quảng Trị, là phường
Đệ Ngũ. Tôi không nhớ chắc địa giới!
Trước 1945, trong
nội thành có hai trại lính. Vào cửa Hữu, đường bên trái là lối dẫn vào trại
lính Khố Xanh (lính địa phương của Tây). Phía cuối thành cổ, là cửa Tả. Đây là
khu vực công đường và tư dinh của các quan Nam Triều (triều đình Huế), gồm quan
Tuần Vũ (tương đương tỉnh trưởng tỉnh nhỏ), quan Án Sát (tư pháp, tòa án), và
quan Lãnh Binh (coi về binh lính). Sau khi Tây đô hộ, Nam triều không
còn quân đội nên không còn quan lãnh binh. Canh gác và phục vụ cho quan Tuần
Vũ, quan Án Sát thì có đội lính Khố Vàng.
Lính Khố Xanh và
lính Khố Vàng đều là người Việt. Chỉ có một viên quản Tây chỉ huy lính Khố Xanh
mà thôi. Gia đình lính Khố Xanh và lính Khố Vàng ở tại khu nhà trên “thượng
thành”, tức là bờ đất phía trong của thành - phía ngoài xây bằng gạch -. Khu
nhà “thượng thành” nầy nằm ở góc “tây nam” thành cổ, góc ngó ra sân vận động
cũ. Khu nhà nầy, không quá một trăm nóc gia, được lập thành một phường, gọi là
phường Đệ Lục.
Hồi
còn nhỏ lắm, có lần tôi lên khu nhà “thượng thành” nầy. Trên đó, có nhà một
người đàn bà, tôi gọi băng dì. Bà ấy là bạn của mẹ tôi, nên gọi bằng dì, theo
phong tục người Việt Nam
thời ấy. Tên chúng tôi thường gọi là “dì Chạy”, chồng làm cai lính Khố Xanh, là
mẹ của thiếu tá Lê Bá Mùi (anh) và thiếu tá Lê Bá Ngọ (em), Biệt Động Quân. Sau
1945, dì dựng nhà ở phía ngoài Cửa Tiền, trong khu vườn của cụ Đốc Hy, có cửa
hàng bán guốc tại chợ Quảng Trị. Ông chồng của dì hình như lúc đó đã qua đời.
Lần
thứ hai tôi lên khu nhà “thượng thành” nầy là khi có trận đấu bóng đá ở sân Vận
Động, trước 1945, có bán vé. Ba anh em tôi, còn nhỏ, không có tiền mua vé, bèn
trèo lên khu nhà nầy, đứng trên thượng thành mà xem. Xa lắm, không thấy rõ,
buồn tình bỏ về.
Sau năm 1946, Tây
đóng trong cổ thành, dinh thự các quan Nam Triều không còn, dân chúng trên khu
“thượng thành” bị Tây đuổi đi hết, thành ra phường Đệ Lục cũng bị “xóa sổ”.
“Lãnh thổ” phường
Đệ Tứ thị xã Quảng Trị, chính yếu là khu dân cư, nằm dọc theo đường Cửa Hậu,
tên cũ, thời Đệ Nhất Cộng Hòa đặt tên mới là Lê Văn Duyệt. Ông là một đại công
thần nhà Nguyễn, nhưng lại là hoạn quan, nên tôi hơi buồn cho ông ta một chút!
Đền thờ ông Lê Văn Duyệt ở Gia Định là Lăng Ông đấy, rất nổi tiếng “linh
thiêng”.
Như vậy, người ta
có thể kể phương Đệ Tứ là từ bờ sông Thạch Hãn, đầu đường Lê văn Duyệt, đến
cuối đường, thường gọi là “Góc Bầu” - tại sao gọi là Bầu, bà cô nào có bầu hay
xóm ấy có hình dạng như trái bầu? Tôi không rõ. Góc Bầu là ngã ba: đường Lê Văn
Duyệt, nối góc vuông với đường Lê Văn Duyệt là đường Cửa Tả, tên sau nầy là
Trần Cao Vân. Thứ ba là đường về làng Trí Bưu, cuối đường về Trí Bưu nầy là bến
đò Ba Bến.
Tại Góc Bầu, có xóm
Thợ Rèn, thuộc thổ địa phường Đệ Tứ. Sát đó, nhà Thầy Võ Lộc, giáo viên trường
Tiểu Học Quảng Trị, thầy giáo lớp ba của tôi, đất làng Trí Bưu. Ba bốn lò rèn ở
Xóm Bầu là của mấy ông thợ rèn họ Hoàng làng nội tôi - làng Hiền Lương, huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Làng Hiền Lương nầy là làng rèn. Các ông thợ rèn
bà con họ Hoàng với tôi nói trên là các ông Hoàng Lem, Hoàng Vân (em ông Lem?),
Hòang Kiểu, v.v... Thợ rèn khéo tay, từ rèn sắt, sau thành “thợ nguội”, rồi
đóng xe hơi, rồi làm chủ xe hơi. Trước 1975, phần đông khá giả.
Từ ngã ba
Góc Bầu, lên tới Cửa Tả, là hết địa phận phường Đệ Tứ. Từ Cửa Tả trở lên, thuộc
phường Đệ Tam. Đúng ra, địa giới
phường Đệ Tứ, phía bờ sông, bắt đầu từ một con đường xóm nhỏ, gọi là đường Xóm
Heo. Con đường xóm nầy, nối với đường Lê Văn Duyệt, chỗ sát Miếu Đôi (ngay góc
bờ sông). Xóm Heo chuyên làm heo và bán thịt heo, ở phía trong. Bên phải đường
xóm là đất phường Đệ Tứ, bên trái là đất làng Cổ Thành. Khu vực Chùa Tỉnh Hội,
nhà Thầy Trợ Lẫn (Hồ Ứng Lẫn -1-), nhà ông ấm Cảnh (Hoàng Hữu Cảnh, bố nhà thơ
Cuồng Vũ - Hoàng Hữu Chỉ -, quê làng Bích Khê), - Sau nầy ông Bùi Đình Diệp,
(bố Bùi Đình Chi), và ông Minh Tuấn, chủ tịch Hội Quảng Trị Atlanta hiện nay, thuê
ở nhà nầy; nhà cựu thiếu tá Lê Văn Tịnh (em rể tướng Lãm), nhà Thầy Trợ Hào (Hồ
Xuân Hào), thuộc đất làng Cổ Thành. Hầu hết Xóm Heo đều ở trong đất phường Đệ
Tứ.
Đất phường Đệ Tứ và
thị xã Quảng Trị, ngày xưa, thời Gia Long, khi chưa xây thành cổ là đất làng
Thạch Hãn.
Trong các năm chiến
tranh 1945-54, lý trưởng làng Cổ Thành thường “lưu vong” vì sợ Việt Minh, dân
khu xóm thuộc làng Cổ Thành nói trên, muốn xin giấy tờ, gặp ông lý trưởng cũng
khó, nên dân chúng “tiện đâu xâu đó”, bèn xin ông phường Trưởng phường Đệ Tứ
chứng giấy luôn cho họ. Anh Xạ Thử (xã trưởng, gọi theo địa phương là Xạ), -
nhà sát nhà tôi nên quen biết, anh em chúng tôi thường gọi bằng anh - là người
dễ tính, không tiếc gì chữ ký và khuôn dấu, nên ký tên đóng dấu luôn, quen thì
miễn lệ phí, lạ thì đóng vài chục đồng cũng xong. Dần dà, làng Cổ Thành mất
dân, phường Đệ Tứ thêm dân mà chẳng ai quan tâm. Thời chiến tranh loạn lạc, đâu
có ai để ý làm gì. Thành ra, đất phường Đệ Tứ lấn ra đất làng Cổ Thành mà chẳng
thấy thưa kiện gì cả, khác với thời xưa.
Anh Xạ Thử, tên đầy
đủ là Lê Văn Thử, làm lý trưởng từ khi chính quyền tái lập, năm 1947, 48 gì đó.
Chỗ nhà anh ở và cái chức lý trưởng nầy, là anh “nối nghiệp” của nhạc phụ anh:
ông Xã Hưng. Sau năm 1945, ông Xã Hưng ở riệt trong quê, làng Cu Hoan, không
hồi cư, nên cái chức lý trưởng thuộc về người con rể. Khi ông Xã Hưng còn làm
lý trưởng phường tôi, tôi còn nhỏ lắm, nên tôi không biết gì nhiều về ông ta,
nhưng tôi biết “anh Mọ” - là “thằng mõ” đấy. Anh người cùng làng với ông lý
trưởng, tới đây ở để học may, với anh Thử là cái nghề gốc của anh ấy. Tôi không
phải là người yêu âm nhạc, nhưng mỗi khi “anh Mọ” cầm mõ đi rao, thì tôi thích
thú chỏng tai lên mà nghe: “Cóc, cóc, cóc...” Cũng thời gian đó, khi máy bay Mỹ
tới oanh tạc lính Nhựt, cậu mạ tôi sợ nguy hiểm, cho chúng tôi tản cư về làng
Nại Cửu, tạm trú tại nhà một ông đội Khố Xanh, là bạn của ba má tôi. Có đêm,
nằm trong nhà, - nhà quê, không có đèn điện đi ngủ sớm - nên buồn lắm, tôi nghe
có tiếng rao mõ, làm tôi nhớ “anh Mọ” phường tôi, nhưng cách rao ở đây, “lạ”
hơn. Anh con trai ông Đội rao lại lời thằng mõ, nhưng có “edit” như sau: “Cóc,
cóc, cóc... Ai có lồ... mốc thì đem ra phơi, kẻo mai động trời, phơi không
được.” Có lẽ “lời edit” không phải của anh ấy, mà của nhân dân. Nhân
dân thì cái gì cũng hay khiến thằng bé nầy nhớ lâu.
Đến thời Ngô
Đình Diệm, “Tập Đoàn Công Dân” có trụ sở tại nhà Thầy Lệ, là một tổ chức làm
“ngoại vi của đạo Thiên Chúa và chính quyền”, yêu cầu anh Xạ Thử phải “trở lại
đạo” nếu muốn giữ cái chức “Phường trưởng” - “phường trưởng” là “cách gọi dân
chủ” của chế độ mới đấy. Anh Xạ Thử than với mẹ tôi: “Chị coi! Tui bỏ “ôông bà
răng” được!” Anh Xạ Thử xin vô làm Cảnh Sát, bỏ xứ mà đi nhận việc mới. Từ đó,
gia đình anh đi mất. Sau đó thì anh Hoàng Kiểu, thợ rèn ở Xóm Bầu, được Tập
Đoàn Công Dân cho thay chức anh Xạ Thử. Anh Hoàng Kiểu là dân thợ, học hành ít,
không có khả năng. Anh chỉ làm bù nhìn để Thầy Lệ, thay mặt cho Tập Đoàn Công
Dân, ngồi ở đằng sau mà giật giây. Cũng nhờ sự thay ghế, đổi chỗ nầy, mà trong
cuộc bầu cử dân biểu năm 1958, Bà Lê Thị Ngộ, hiền thê cụ Tôn Thất Dương Thanh,
được nhiều người bỏ phiếu cho mà lại thất cử, trong khi “thầy giáo làng (Hội
Yên), nghề chuyên môn “xăng xít đít đui”, ít ai khen mà lại “đắc cử vẻ vang”.
Đời bây giờ, có nhiều cái “vẻ vang”, “vinh quang” rất buồn cười!!! Tây cũng
nói: “Oh! C'est la vie!!!!” mà.
Thổ địa phường Đệ
Tứ thẳng mà không bằng. Khu vực gần bờ sông thì thấp, nên khi có lụt lớn thì bị
ngập. Nhà mẹ tôi, chỗ thấp, lội nước lụt trong nhà là chuyện thường. Khu vực
gần thành cổ thì cao, nước lụt không tới viếng. Khu đất nầy cao là nhờ khi đào
hào thành, đất được đắp lên ở đây.
Trước 1955, trên
đường Lê Văn Duyệt, nhà dân chỉ ở một phía, phía đối diện với thành cổ. Sau
nầy, dân ngụ cư càng ngày càng đông, dân chúng mới dựng nhà phía bờ hồ. Góc
đường Ga (Trần Hưng Đạo) và đường Cửa Hậu (Lê Văn Duyệt), có một bãi tha ma
nhỏ, những nấm mộ nhỏ là nơi chôn những bào thai bị hư do bệnh viện Quảng Trị,
gần đó, đem chôn. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, phía bờ hồ, ty Ngư Nghiệp cho đào một
hồ nuôi cá phi giống để cung cấp cho dân, rào kẽm gai rất kỷ vì sợ chồn cáo.
Nhưng chỗ đất nầy thấp, thường bị nước lụt, cá giống theo nước lụt “di tản”
hết. …….
………………………
- Phường tôi không có
chùa, chỉ có 2 ngôi miếu. Đầu bờ sông có hai cái miếu kế nhau, trên nền cao,
tục gọi là “Miếu Đôi”. (2). Miếu nầy của làng Cổ Thành, việc cúng tế do làng
nầy chăm lo. Đối diện với bãi tha ma tôi vừa nói trên là một “khu miếu”. Gọi là
khu vì có nhiều ngôi miếu kề nhau, trong một khu đất khá rộng. Hình như miếu
nầy thuộc làng Thạch Hãn, về sau, ông Xạ Thử phường tôi lo việc cúng tế hàng
năm.
Phường tôi không có
Chùa. Sau năm 1954, nhờ hòa bình, đời sống tôn giáo lại hồi sinh, phường có
“Khuôn hội”. Khuôn trưởng đầu tiên là đại úy Đối, thân phụ của “con nhỏ học
trò” B. Thảo. Gia đình nầy là dân di cư, mua lại nhà ông Thị Quế. Khuôn trưởng
kế là bác thợ Khấu, thân phụ đại úy Võ Bang. Bấy giờ bác Cửu Luân, dọn nhà ra
Đông Hà, bác “cúng” chỗ đất nhà của bác cho khuôn hội. Phật tử góp công, góp
của dựng lên một “Niệm Phật Đường” ở đấy để dân chúng lui tới thờ lạy Phật và
làm trụ sở cho khuôn hội.
Dân phường Đệ Tứ
hầu hết là dân ngụ cư, nghĩa là không có ai bản quán ở đây cả. Không ít gia
đình thuộc lính tráng (binh nhì - đơ-dèm cùi bắp), bếp (binh nhứt), cai, đội
Khố Xanh... thời Pháp thuộc, đóng ở trong thành cổ: Tên các nhà tôi thường thấy
là nhà ông Quản (thượng sĩ thời Tây), nhà ông Đội (trung sĩ), nhà ông Cai (hạ
sĩ), nhà bác Bếp..[tức Võ
Thỏn ông ngoại dhl]. Ông ngoại tôi quê ở làng Nhan Biều, bên kia sông, đi lính Khố Xanh,
đóng loon “cai”, bà ngoại tôi người làng Cu Hoan, thuộc phủ Hải Lăng. Từ những
cái “loon” cai, bếp nầy, mà hồi nhỏ tôi thường nghe câu nói đùa, vần B: “Bà
Ba béo, bán bánh bèo, bên bộ Binh, bị bác bếp Bình bắt bỏ “boóc” ba bốn bựa” (đúng
ra là bữa)
Dân chúng phần đông
là dân lao động, và nghèo. Vài gia đình khá giả có sạp buôn bán ở chợ Quảng
Trị, không ít người “buôn gánh bán bưng” - bán hàng rong như cháo lòng, bún bò
(không có giò heo như ở Huế,) - cháo bò. Bún bò, không có giò heo, ăn với bún
gạo đỏ là “hết sẩy”. Mùa hè thì bán đậu hủ. Đó là nghề mấy chị, mấy bà (tôi
thường gọi là mợ hay dì, hay chị tùy theo có bà con hay không). Đàn ông thì làm
thợ may, thợ nề (hồ), thơ mộc, thợ rèn. (3)
Phường tôi có mấy
lò: Lò heo ở Xóm Heo, lò đậu hủ ở gần giữa phường, gần nhà bác Nẫm, thân phụ
đại tá Bé; lò bánh ướt của gia đình Thầy Lệ, y tá (Tống Viết Lệ, thân phụ trung
tá Biệt Đông Quân Tống Viết Lạc, Tống Thị Hồ và Tống Thị Sen)[và út gái Tống thị Huê tức Nhạn ]; một lò bánh ướt
nữa, ở Góc Bầu, tôi không rõ lắm. Rạp mộc Bác Khấu, rạp mộc ông Thú, ở Xóm Heo,
rạp mộc thân phụ anh Võ Vọng, giáo viên. Lò rèn ở Góc Bầu, và một “xưởng đặc
biệt”: “Xưởng Đẻ”, tức là “nhà hộ sinh” của mẹ tôi. Khi mẹ tôi dẹp “xưởng” thì
một “xưởng mới” mọc lên, của Bà Hóa, mẹ của anh Trần Công Pháp, ở Góc Bầu.
Dân phường
tôi hầu hết là “em ông quận công”, theo ý nghĩa câu tục ngữ “Nhất quận
công, nhì ỉa đồng”. “Nhà vệ sinh” - nói thế cho văn minh một chút, là cánh
đồng của làng Cổ Thành, chỗ có con “đường Ngự”[DHL ở đường Ngự này , hiện nay đường này bị
xóa sổ vì dân ngoài kia vào lấy hết ]
- Đường vua đi, từ
cửa Hậu nối tới sông Vĩnh Định.
Dân xóm tôi thì
xuống “núp sau những bụi rù rì” ở bãi cát trước chùa Tỉnh Hội. Bụi rù rì là
những bụi cây có tên như thế, chớ không phải ai hẹn ai sau những bụi cây đó mà
nói chuyện rù rì. Sau khi nước thủy triều lên, thì dấu tích phân Bắc đều xóa
sạch, chớ không phải có “con thuyền Nghệ An” đến vét sạch chở đi.
Tuy là
dân ngụ cư, chữ nghĩa ít, nhưng con cái của họ đều học hành thành đạt: Đoàn
Mâu, em ông cảnh sát Đoàn Quang, là thiếu tá, có thời làm quận trưởng Triệu
Phong; thiếu tá Hồ Nậu, con ông Hồ Don; thiếu tá Hồ Xuân Anh, con thầy trợ hào;
Trần Văn Tây, con ông Đội Chức, tốt nghiệp Đại học sư phạm, ban Anh Văn; Đại tá
Nguyễn Bé, và em là thiếu tá Nguyễn Cẩm (“khách thường trực” của cát-xô Dziệt
Cộng); thiếu tá Ngô Thu Thiện, con trung úy Ngô Lương; trung tá Tống Viết Lạc;
thiếu tá Khanh, con ông Cai Ngữ; thiếu tá Khôn; thiếu tá Phương, con ông Xạ
Lịch; thiếu tá Đỗ Văn Nghiêm, con bác Quản Xuyến; trung tá Dù Nguyễn Lô. Mẹ tôi
sinh 4 người con trai: Ông anh cả, Hoàng Thế Thạnh, tức Hồng Quang, chủ báo Ý
Dân ở Huế, báo chống Tây, chống Việt gian, bị thủ tiêu năm ông mới 21 tuổi. Anh
kế tôi là Hoàng Thế Lợi, tôi và cố thiếu tá Hoàng Ngọc Hùng, em út. Con trai mẹ
tôi, một người chết vì phe bên nầy, một người bị giết vì phe bên kia. Anh Lợi
tôi đi tù vượt biên về không bao lâu thì qua đời.
Phường tôi sĩ quan
cấp úy không thiếu chi, kể không hết. Loon lá như vầy, tù cải tạo về sớm thế
nào được, ít ra cũng 5 – 7 năm nên đi HO cũng bộn lắm. Ở Mỹ, có nhiều Hội Quảng
Trị, tình hình cũng na ná như thế cả.
Trước 1945, xứ tôi
chỉ có vài nhà ngói. Đó là nhà Thầy Trợ Lẫn, nhà ông Võ Liêu, nhà ông Xạ Lịch,
còn ngoài ra toàn là nhà tranh. Từ 1950 về sau, nhà ngói dần dần mọc lên. Đó là
nhà ông Quản Bật, ở chỗ đất cũ của nhà Từ Thiện, sau bán lại cho thân phụ anh
Võ Tư Đản, lại xây thêm lầu; nhà ông Đội Chức, nhà Thầy Lệ, nhà Bác Cai Lạp,
nhà anh Lân, giáo viên; nhà cô Cơ, vợ thiếu tá Võ Lý; nhà anh Đỗ Văn Nghiêm,
nhà ông trung úy Trương Lợ (thân phụ Trương Văn Thông, Trương Văn Hoàng).
Về dân “cố cựu”,
nghĩa là sinh sống ở đây từ trước 1945, không rõ thời gian nào, thì có gia đình
tôi. Bà chị cả của tôi sinh năm 1925, lúc đó cha mẹ tôi vừa khoảng 20 tuổi, như
vậy, gia đình tôi cư ngụ ở đây trước khi “cậu mạ tui” có con đầu lòng. Khi tôi
vào Sói Con, anh Trần Văn Vệ, con ông Đội chức là huynh trưởng của tôi, đã có
nhà ở chỗ sau nầy. Gia đình Thầy Trợ Hào, Thầy Trợ Lẫn, ông Xạ Lịch; gia đình
Thầy Lệ; gia đình ông Trương Lợ; gia đình mẹ Hoàng Văn Thị, Thị gọi tôi bằng
anh, con dì, phần đông có thể gọi là “cố cựu”.
Những gia đình cố
cựu, tản cư năm 1945, rồi đi luôn, không hồi cư thì có thể kể: Nhà ông Thị Quế,
thân phụ ông Phấn, sau nầy làm giáo sư ở trường Nguyễn Du, Huế; gia đình ông
Thị Bàng, sau dời lên phố chợ; gia đình ông Võ Liêu, bị Việt Minh giết năm
1947; nhà ông Đoàn Hòe, tản cư ra Thủy Ba, Vĩnh Linh, sau tập kết ra Bắc; vợ
thứ hai ông Đoàn Hòe, “dì Lý”, sau nầy hồi cư, bà nầy bán nem chả ngon nổi
tiếng.
Danh giá nhất là
gia đình ông Ưng Siêu?
Tại sao có một ông
Hoàng lưu lạc ra xứ quê mùa nầy?
Ông Ưng Siêu, còn
có tên là Ưng Ly, con ông Hồng Chiêu, ông Hồng Chiêu là con trưởng vua Thiệu
Trị. - Trong Việt Nam Sử Lược thì gọi là Hồng Bảo thay vì Hồng Chiêu -. Vì việc
tranh ngôi giữa Hồng Bảo va Hồng Nhậm, - tức vua Tự Đức, mà Hồng Bảo bị bức tử.
Đến đời Ưng Siêu, ông dính líu vào vụ Cao Bá Quát, thường gọi là “Giặc Châu
Chấu”, nên bị tước bỏ “quốc tính” (họ vua), đổi tên là Nguyễn Siêu và bị đuổi
khỏi kinh thành. Ông Nguyễn Siêu về sinh sống tại Quảng Trị. Con cháu đổi từ
“Nguyễn Phước...” ra “Nguyễn Thành...” Các ông Nguyễn Thành Đăng, có thời làm
quận trưởng Trung Lương, em là Nguyễn Thành Hương, nguyên chánh sở giáo dục Phú
Yên, là con của ông Nguyễn Khánh (ông Ngự Khanh) tên trong gia phả là Bửu
Khánh, là con của ông Ưng Siêu.
Vợ thứ sáu của ông
Ưng Siêu là bà Nguyễn Thị Giao, thường gọi là Bà Nghè, nhà ở xóm đại tá Bé. Bà
có hai người con gái lớn tên là Diệu, còn gọi là Bà Kỳ (chị), lấy chồng Tây,
sau đi Pháp. Người kế là Nguyễn thị Nam Hy, còn gọi là bà Kỳ (em), tên trong
gia phả là Công Tằng Tôn Nữ Kim Hy (hay Nam Hy?), và một người con trai tên là
Nguyễn Thành Quế, (Vĩnh Quế) làm trưởng chi thông tin thị xã Quảng Trị (khoảng
1950) và các anh Nguyễn Thành Ngô, Nguyễn Thành Đồng. Gia đình nầy cũng rời
khỏi phường Đệ Tứ vào thời gian ấy.
Bà Kỳ (em) là vợ
thứ hai ông Xã Bào (Võ Bào) là thân sinh anh Võ Tử Đản (xin xem bài Làng Nại
Cửu), cách nhà mẹ tôi chỉ có một cái hàng rào. Bà có người con trai riêng là
Trương Đá, trung úy Dù (4) và ba con gái là An (hiện còn ở Quảng Trị), Mỹ (tên
là Mỹ nên ở Hoa Kỳ?), và Tịnh hiện ở Hà Nội.
Một chuyện “động
trời” thứ hai:
Năm 1949, “ông quan
ba” Khanh từ trong Nam
về. Hồi ấy, chưa gọi thiếu úy, trung úy, v.v... mà gọi như hồi còn Tây: “quan
hai”, “quan ba”... Ông Khanh, người phường tôi, sau khi đậu tiểu học khoảng đầu
thập niên 1940 thì lưu lạc vào Nam kiếm kế sinh nhai. Gần 10 năm sau, ông về,
mang “loon quan ba”, quân đội Cao Đài. Ông đội ca-lô, quân phục kaki vàng, ba
gạch trên cầu vai, tướng tá cao ráo, đẹp trai. Dù là quân đội Cao Đài, mang
trên vai cái “loon quan ba” cũng le lói lắm, không thiếu cô bà chạy theo.
Ông về thăm bà mẹ
già mà ông xa mẹ từ lâu. Thế rồi ông ta dựng một ngôi nhà tranh, rước mẹ về ở.
Để mẹ có bạn chuyện trò, ông mời mẹ con “dì Lý” về ở chung, và cưới chị M., nhà
ở làng Thạch Hãn làm vợ, để vợ chăm sóc cho mẹ. Ông ta nói chưa có vợ, chị M.
là vợ cả. Trước khi về lại miền Nam,
ông dặn vợ “vườn dâu em đốn, mẹ già em thương”, mặc dầu chẳng có
vườn dâu. Lâu lâu ông sẽ về thăm. Khi nào mẹ qua đời, ông sẽ về “rước vợ”, để
“thiếp theo chàng”.
Thế rồi việc đời
đâu có như lời ông nói, mà theo ý ông làm. Không mấy lâu sau, mẹ ông qua đời,
chị M. vào Nam
tìm chồng chưa được mấy hôm thì lại hát bài “đường về quê”. Té ra ông ta có vợ
con đùm đề ở Tây Ninh rồi. Chị M. gặp bà ấy, không biết bà vợ ông ta hiền dữ
như thế nào, nhưng việc “Cô Quờn đốt chồng” là cái nét chung của mấy bà Nam Bộ,
khiến chị M. lo dọt lẹ về quê để bảo toàn tính mạng. Dân chúng phường tôi lại
náo động lên vì chuyện tráo trở, thủ đoạn của một con người. Ông ta có tính
chuyện vợ con gì đâu, chẳng qua, ông “mướn khéo” một cô gái “đi ở đợ không
công”, để chăm sóc mẹ già thay thế cho ông. Mẹ ông qua đời rồi, ông cắt đứt
“sợi giây tình” một cái rẹt, chẳng một chút thương xót nào cả. Về câu chuyện
nầy, mẹ tôi nói: “Thằng nớ làm rứa, mạ hắn chết xuống âm phủ mắt còn mở trừng
trừng”.
Dân phường tôi là
dân lao động, làm chi có tiền để chơi Tơ-nít, chơi bóng rỗ. Cứ một trái bưởi,
cả chục thanh niên kéo nhau ra ruộng, chia phe đá banh cũng vui chán. Cũng nhờ
vậy mà các anh Tẩu, anh Bái, anh Phục, anh Mông trở thành cầu thủ hay đội bóng
tròn của tỉnh. Và mấy anh rủ nhau đi “Nam bộ kháng chiến”, rồi theo Việt Minh,
sau thành Cộng Sản. Hai ông Bái và Phục, sau 1975, hồi kết về Saigon, hai ông
đều là đại tá không quân Việt Cộng, dân vô sản trở thành đại tư bản. Thế cũng
là “hy sinh cho dân tộc” đấy!
Tội nghiệp thằng
Tâm!
Anh Mông em ông Hà,
ông Hải ở Xóm Heo, đi “Nam bộ Kháng chiến” về, cưới chị Cháu, đẻ ra thằng Tâm.
Xong rồi để thằng Tâm lại cho hai bác nuôi, hai anh chị kéo nhau lên chiến khu
Ba Lòng rồi tập kết ra Bắc. Thằng Tâm lớn lên, không cha không mẹ, thiếu người
chăm sóc dạy dỗ, học hành chẳng tới đâu, lêu lỗng, ăn cắp, ăn trộm, phá xóm phá
làng. Đại tá Bé về đám ma ông thân sinh, bị Thằng Tâm nhơn cơ hội “tang gia bối
rối”, chôm mất cái ví. Tiền bạc không quan trọng, nhưng còn giấy tờ. Tôi nói
đùa, ông Bé sợ mất cái thẻ “Xịa” là kẹt lắm. Cả bọn ngồi uống cà phê với tôi
đều cười, cho rằng tôi nói có lý đấy. Ông Bé phải cho người tìm thằng Tâm năn
nỉ. Nó trả lại cái bóp, tiền nó giữ lại, như lời hứa của ông Bé. Tới tuổi “quân
dịch quân gà”, thằng Tâm đi lính. Dân Quảng Trị, bị đưa tuốt vô miền Tây cho
khỏi đào ngũ. Rồi nó tử trận đâu trong ấy. Gia đình nhận cái “giấy báo tử”. Thế
là xong. Chỉ là thằng lính “đơ dèm cùi bắp”, chết đâu chôn đó, ai hơi đâu mà
“con đò đưa xác” về quê. …….
……….
Lại chuyện điên mà chết của anh chàng Trần
Văn Đại.
Đại là con ông Đội
Chức, em Trần Văn Tây, bạn học của tôi.
Đầu thập niên 1950,
ông Đội Chức lấn đất của cái miếu ở ngã ba Trần Hưng Đạo - Lê Văn Duyệt, dựng
một cái nhà ngói. Việc nầy là không nên. Cái khu vực miếu nầy là linh lắm.
Người người nói vậy. Tin hay không tin thì cũng lắm người sợ. Lê Văn Tịnh kể,
một buổi trưa anh ta nằm nghỉ mệt trên bãi cỏ, gần miếu, sau một trận đá banh
“chết bỏ” với mấy đứa bạn cùng lớp ở cái bãi tha ma bên kia đường. Đang tơ lơ
mơ, Tịnh thấy “xẹt” một cái ngang trời. Tịnh nói: “Chắc là Bà về miếu”. Một
hôm, tôi thấy bông sứ trong khu miếu thơm lắm, tính trèo cổng vào hái trộm đem
về ướp vào sách chơi, nhưng cũng sợ Bà nên không dám vào. Ở nước ta, bông sứ
thuộc loài hoa “linh thiêng”, chỉ được trồng ở các đền chùa miếu mạo. Vào miếu
bẻ bông của Bà chắc là “đắc tội”, Bà không mấy rộng rãi, khoan dung:
Bàng hoàng cõi mộng
Hương Khê
Vườn ai sứ trắng
rụng về Tây Thiên.
(Hoàng Xuân Sơn –
“Huế buồn chi”)
Đâu có phải vườn
ai? Vườn Chùa, vườn miếu đấy!
Chùa, miếu là đất
linh thiêng, vì ông đội Chức chiếm đất của Bà nên Trần Văn Đại mắc bịnh điên.
“Bà bắt đấy”. Người ta đồn vậy. Cuối cùng, chạy đủ hết năm thầy bảy bà nhưng
Trần Văn Đại cũng phải vào cõi âm, “đi mây về gió” để theo hầu Bà mà chuộc tội
“lấn đất” của cha.
Sau khi Tây trở
lại, phường tôi có sẵn mấy thầy cai, thầy đội, quan quản từng đi lính Khố Xanh,
ra làm lính với Tây, rồi chuyển qua lính Bảo Vệ của Hội Đồng Chấp Chánh Lâm
Thời, sau chuyển qua Quân Đội Quốc Gia mới thành lập. Cũng có vài ba gười đi
lính Partisan Commando của Tây, đi lính Quốc gia.
Những người mới, đi
khóa sĩ quan đầu tiên là anh Nguyễn Bé, sau nầy là đại tá, anh Đỗ Văn Nghiêm,
sau nầy là thiếu tá Pháo binh, và ông anh kế tôi, Hoàng Thế Lợi. Anh Bé là con
trai đầu bác Nẫm, trước 1945, bác Nẫm sắm xe hơi Vedette để đi chơi. Ông với
một người bà con, - thân phụ nhà thơ kiêm vỏ sĩ Như Bi, - làm nghề xe hơi, chạy
đường Đông Hà - Savanankhet (Lào), trúng độc đắc một triệu đồng Đông Dương.
(lương ba tôi lúc ấy chưa tới một trăm đồng một tháng). Sau 1947, gia đình tới
ngụ cư ở phường tôi. Năm đó, có khóa 4 Sĩ quan ở trường Võ Bị Địa Phương / Đập
Đá Huế. Ông Bé mới cưới vợ, sau khi cho chúng tôi ăn một chầu, uống rượu Anis
đã lắm, ông kiếm đường sinh nhai. Có con đường nào tốt hơn binh nghiệp. Thế là
ông Bé rủ hai ông cùng phường, ông Nghiêm và ông Lợi cùng nhau nhập ngũ cho có
bạn bè. Anh Lợi tôi lúc đó đang đi học, có lần nói với tôi: “Tao thấy ông
Nguyễn Thanh Sằng mang loon quan một ngon lắm.” Thế rồi ông sửa giấy khai sinh
cho đủ 18 tuổi để đi lính cùng khóa với ông Bé.
Thời đại tôi, sau
hiệp định Genève có khác đi, “hòa bình” rồi, sự học phát triển, binh nghiệp ít
ai ưa. Vã tôi cũng không có số làm quan. Tôi đi khóa 8 Quốc gia Hành chánh, rồi
lại nộp đơn khóa 8 Sĩ quan Hải quân Nha Trang, lại cũng xin đi khóa 13 Võ Bị.
Ông anh tôi “phán” một câu: “Chừ mi lo thân mi, nghĩ chi tới em út.” Nghĩa là
Hùng móm, Lựu còn đi học. Tôi không lo cho em thì ai lo? Mẹ tôi già rồi. Vậy là
tôi vừa học vừa dạy, nuôi thân và nuôi em. Chẳng có chi phải than van, khi mẹ
và các anh chị em đều vui. Hai đứa em tôi vẫn tiếp tục cắp sách, trong khi tôi
thì nửa đời nửa đoạn, lỡ dịp thời trai trẻ “thi gan với đời, với sương gió”...
mãi đến 1968, cùng nhập ngũ với đám học trò của tôi.
Bạn nối khố của tôi
ở thị xã Quảng Trị đông lắm, nói chi tới phường Đệ Tứ. “Thằng” mà tôi thương
nhất là Nguyễn Cẩm, bạn học với tôi từ lớp Ba, em ông Bé. Tôi thường “làm quân
sư quạt mo” cho nó, trong việc khuyên: “Thôi mày đi lính đi cho rồi!” vì Cẩm
“văn chương phú lục” học trước quên sau. Tôi còn làm “quân sư” cho Cẩm ra tòa
ly dị vợ, sau khi tôi và Cẩm, “được tha ra khỏi trại cải tạo” (chữ trong lệnh
tha đấy). Người thứ hai, Trương Văn Thông, là anh bạn nối khố trước 1945, khi
học chung lớp Đồng Ấu với Cô Hồ. Anh có đạo Thiên Chúa, nhưng là người độc
nhất, đi biểu tình cùng tín đồ Phật giáo, hô to: “Lương giáo Đoàn Kết” do Việt
Minh tổ chức năm 1946. Thông mồ côi mẹ khi mới 1 tuổi. Mẹ kế, cũng là dì ruột,
“hiền” tới mức khiến anh ta phải làm “Thầy Mẫn Tử”. Bố là trung úy Quân đội
Quốc gia, có tiền, có nhà ngói, nhưng Thông thì “đói triền miên”. Bà dì càng
rầy, Thông bỏ nhà đi hoang càng nhiều. Bố về nhà, tìm Thông cho ít trận đòn về
tôi ăn cắp tiền của dì. Hơn mười tuổi, Thông đã là “thiên tài” về tội làm “chìa
khóa giả”. Chờ dì ngủ say, anh ta lấy chìa khóa, in vào cục xà bông, nhờ một
người quen thợ rèn, làm cho một cái chìa khóa giả. Từ đó, anh ta có tiền tiêu
đều đều, không còn “đói triền miên” nữa. Ba dì bỗng thấy tiền để trong rương,
cứ 10 tờ bỗng mất vài tờ. Bà ta nghi Thông, nhưng không bắt được.
Có lần tôi hỏi
Thông: “Mày ăn cắp tiền của dì. Chủ nhật đi lễ có xưng tội với cha không?”
“Có chứ sao không!”
Anh ta trả lời.
“Cha nói răng?”.
“Cha biểu đừng!”
Thông trả lời.
“Rồi còn ăn cắp
tiền nữa không?” Tôi hỏi.
“Không ăn cắp, lấy
chi sống?” Thông lại trả lời tôi.
Đời là vậy. Có khi
ăn cắp, ăn trộm không phải là xấu.
Tới thời của Hùng,
chẳng có “thằng” nào chịu trốn “quân dịch, quân gà”. Bọn nó nhập ngũ hết, “loon
lá” đầy mình, như tôi kể ở trên, và nay làm kẻ ngụ cư nơi xứ người.
Thế rồi “Mùa hè đỏ
lửa”, cùng với thành phố Quảng Trị, “phường của tui” tan tành hết cả. Sau khi
tái chiếm cổ thành, anh Lợi tôi về thăm nhà, kể: “Nhìn không ra miếu đôi” (ngôi
miếu kế bên nhà tôi, bên kia đường Xóm Heo). “Cột điện xi-măng (ngay trước nhà
tôi), ngọn thì bay mất, gốc chổng lên trời. (Gốc là một khối xi-măng). “Từ nhà
mình (đầu đường Lê Văn Duyệt) ngó thẳng tói Góc Bầu, thấy trống rốc”. Nghĩa là
dọc suốt con đường Lê Văn Duyệt, không còn một ngôi nhà nào….
……………………………….