Thứ Hai, 24 tháng 1, 2022

LẠI CHUYỆN SỐNG CHUNG

LẠI CHUYỆN SỐNG CHUNG
 
Cuộc sống thời bao chuyện lạ lùng
Đâu cùng tộc chủng buộc nằm chung
Từ khi Cô - vít lây kinh khủng
Đến chặng Đen - ta nhiễm hải hùng
Chế phẩm đưa vào ngăn chẳng túng
Vắc xin chủng tới chặn không dung
Song đồng thuốc trị năm Ka dụng
Mũi một…rồi hai,…, đuổi đến cùng…
Quảng Trị, 23/01/2022.
Văn Thiên Tùng.
Anh minh họa: Nguồn từ Internet.

 





NHỊP NHÀNG XUÂN

NHỊP NHÀNG XUÂN 

Trời XUÂN ửng ... ửng - nắng XUÂN vàng
XUÂN sắc đong đầy rước Tết sang
XUÂN nụ đẩy đà vươn khép nép
XUÂN mầm hây hẩy trổ xênh xang
XUÂN tình ấm dậm - tình tha thiết
XUÂN ý mênh mang - ý sẽ sàng
XUÂN cảnh hòa giao bừng nhịp sống
XUÂN về rộn rã - khúc XUÂN vang.
Quảng Trị, 20/01/2022.
Văn Thiên Tùng

.

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2022

THƠ VIỆT - LUẬT ĐƯỜNG - THÁI QUỐC MƯU


THƠ VIỆT - LUẬT ĐƯỜNG - THÁI QUỐC MƯU
 ( FB : Mưu Thai)
 

NỖI LÒNG – Thái Quốc Mưu
Dòng đời ngăn cách bởi nghèo, sang
Phận bọt bèo trôi lắm bẽ bàng
Thơ phú nâng niu hồn cố quận
Tâm tình chôn chặt mớ hành trang
Ân đời gắn bó cùng sông núi
Nhân nghĩa khắc ghi với đá vàng
Món nợ non sông không trả được
Ta đành ôm ấp nỗi sầu mang
Atlanta, Feb. 11, 2010
***
CHỢ ĐỜI – Thái Quốc Mưu
Bảy mốt? – Ồ! ta bảy mốt rồi!
Dòng đời như thể một trò chơi
Vẩy vung ngọn bút đùa trăm họ
Tung ném vần thơ chọc đất trời
Gian giảo thói đời đem giấu kín
Chân thành lòng lão trải ra phơi
Bạn bè hôm sớm vui trăng gió
Chén rượu hừng lên vỗ bụng cười
Atlanta, Feb. 09, 2017
***
TỰ THÁN # II – Thái Quốc Mưu
Ta chẳng bằng ai, cũng chẳng không
Cuộc đời cứ thế mãi long đong
Công danh bạc bẽo – Mồ cha nó
Chữ nghĩa lem nhem chết bố ông!
Sự nghiệp chắt chịu tạy nải lỏng
Cái con lút nhút – Một đàn đông
Bốn mươi bốn tuổi, đời ta đấy,
May quá! Còn đây cả tấm lòng!
Long Khánh - Sau khi ra tù, 12-8-1984
***
MỘNG CHẲNG THÀNH - Thái Quốc Mưu
Vỡ một công danh - Mộng khải hoàn
Thì ta phải luyện chí nên gang
Giữ cho thẳng thắn không nghiêng lệch
Chẳng chịu nể nang kẻ bạo tàn
Ai kẻ nấu nung câu uất hận
Đâu người dọn dẹp kẻ tà gian
Mơ đi, mộng lại toàn mơ mộng
Mộng vẫn không thành - Mộng dở dang
Atlanta, 15-10-2007
***
VỀ CHỐN XƯA - Thái Quốc Mưu
Tiết trời, tuổi tác kéo nhau sang
Đất nước, quê hương mãi buộc ràng
Viếng mái đình làng cây phơi nóc
Kìa song cửa sổ nhện giăng màn
Đồng xanh vắng bóng đàn cò trắng
Lối cũ bặt tăm ngọn lúc vàng
Cuối xóm ngả nghiêng ngôi Miếu cổ
Nỗi buồn năm tháng vẫn vương mang
Xã An Quy, 8-6-2006
***
TẾU!
Tám mấy năm qua sống giữa đời
Thơ văn, ngọn bút chốn vui chơi
Nghĩa tình - Mẹ nó, trò nham nhở!
Thi phú - Thằng mình, chốn thảnh thơi
Cất bút, tứ thơ rơi lộp độp
Vung tay, lá úa rụng tơi bời
Bạn tình các mụ cười khoe nướu
Ngực mướp, lưng tôm, gậy giữ người.
Atlanta, Dec. 19, 2021
Thái Quốc Mưu
***
THAN NGHÈO – Thái Quốc Mưu
Ai biết cho chăng cái cảnh nghèo?
Một đồng kiếm được - Chín đồng tiêu
No cơm tẻ ngắt khoanh khoai, sắn
Ấm áo te tua - Mảnh giấy diều
Kín cửa phên thưa - Phỏng gió lạnh
Che mưa lá rách - Lợp chòi xiêu
Đã sinh ra đứng trong thời đất
Ai biết cho chăng cái cảnh nghèo?
Long Khánh, 1983
***
TỰ TẠI – Thái Quốc Mưu
Cuộc sống xô bồ lắm hiểm sâu
Mặc ai tham lợi - Mặc ai sầu
Riêng ta - Ngẩng cổ nêu hùng khí
Lắm kẻ - Khom mình lụy bảo châu
Nhấp nháp chung trà nghe ấm áp
Rộn ràng thi tứ xóa buồn đau
Tiếng lòng nhập điệu, vui năm tháng
Chải tóc. Nhìn gương trắng toát đầu
Atlanta July, 02 - 2002
***
XUÂN BUỒN - Thái Quốc Mưu
Hai mươi năm trước, tớ hăm hai*.
Thoắt đó - Giờ đây bốn chục ngoài.
Câu chuyện đâu buồn tuôn xối xả
Cuộc đời ô trọc kéo dằng dai.
Trăm năm trần thế bao gian khổ
Một kiếp phù sinh lắm đắng cay
Ngán ngẫm thế mà Xuân lại đến,
Cho lòng ta dậy nỗi u hoài
Trại Bàu Lâm, Xuân 1981
* Copy từ câu: “Ngũ thập niên tiền nhị thập tam” của Nguyễn Công Trứ
***
KHAI BÚT ĐẦU XUÂN - Thái Quốc Mưu
Người người nôn náo đón chào Xuân.
Rước tết - Thơ ta, rụng mấy vần.
Chén rượu đắng cay cùng bạn hữu,
Men nồng sâu đậm với người thân.
Non sông thắt ngặt - Còn lơi lỏng!
Đất nước tối òm - Chẳng chú chăm.
Đứng giữa Đất, Trời luôn khoắc khoải.
Xét mình, thẹn mặt với tiền nhân!
***
MÙA XUÂN THÊ LƯƠNG - Thái Quốc Mưu
(Sau 8.5 năm tù trở về)
Xì xẹt bên hè xác pháo văng.
Nhìn ra con trẻ bốn, năm thằng.
Khơi ngòi xác pháo nhà ai tịt!
Thổi đóm tàn hương khách lạ quăng!
Thấy trẻ lòng đau dường ruột thắt.
Thương con dạ buốt tựa dao dần.
Hết thời, lỡ bước đành cam phận...
Phút chốc thì ta bỗng hóa thằng… *
Long Khánh, Cuối Đông 1983
* Khi tôi đang tắm tại giếng cách cái chòi khoảng 20m. Một quan du kích đến đứng sau chòi, gọi lớn, “Ê! Thằng già vô biểu coi!” Vui ghê!
***
XUÂN NGHÈO # 1 - Thái Quốc Mưu
(Hòan cảnh khi mới ra tù)
Xuân đến sao Xuân chẳng bước vào,
Chúa Xuân cũng chán cảnh nghèo sao?
Chào Xuân mâm cỗ dăm đôi đũa.
Rước lễ ông bà một nhúm rau.
Đàn trẻ vô tâm nhìn ngớ ngáo
Thân già tủi phận nghẹn u sầu
Cái nghèo thấy thế mà hay nhỉ!
Bây đuổi theo ta đến thuở nào?
Long Khánh, Xuân 1983
***
XUÂN NGHÈO # 2* - Thái Quốc Mưu
Xuân về thiên hạ rộn chào mong.
Ôi! đón xuân sao buốt cả lòng!
Pháo lượm mấy viên kêu lẹt đẹt,
Thịt kho vài miếng nước long bong.
Con ngồi trước cửa lòn ngơ ngác,
Ta vét nồi cơm dạ phập phồng.
Xuân hỡi, xin xuân đừng đến nữa.
Vì xuân có đến cũng bằng không!
Long Khánh, xuân 1987
* Vợ lấy chồng khi còn trong tù – nhưng còn kín đáo. Ra tù bà ấy mới công khai ra mặt và dẫn chồng về địa phương tôi đang ở. Tù về, tôi xin làm cỏ rẫy cũng không ai dám thuê mướn. Vì địa phương cấm quan hệ với tôi.
***
XUÂN VỀ NHỚ ĐẤNG SANH THÀNH - Thái Quốc Mưu
Xuân đến ngàn hoa đua sắc hương.
Lòng riêng vọng bái chốn tông đường.
Bóng xưa mờ ảo cùng mây khói,
Dáng cũ nhạt nhòa trong gió sương.
Tiếng pháo giao thừa khơi nỗi nhớ,
Câu thơ khai bút gợi sầu vương
Tuổi đời càng chất, càng thương nhớ
Hai đấng sanh thành lạc bóng dương.
Georgia, cuối đông 1999
ĐÓN XUÂN TỰ TRÀO - Thái Quốc Mưu
Năm chín tuổi đời* - Sáu chục Xuân*.
Vẫn vui, vẫn hưởng thú khôn cùng.
Đường tình trải bước - Kê không được.
Bể ái lần tay - Đếm chẳng xong
Ý muốn lương hiền, e chẳng được!
Lòng mong thánh thiện, hết phương trông!
Cuộc đời dai dẳng luôn mong mỏi:
“Xã hội không còn lũ ngốc, ngông.”
Atlanta, Jan 15, 1999
* Tuổi Dương lịch 59, Âm lịch 60.
***
XUÂN CANH THÌN 2000 # 1 - Thái Quốc Mưu
Xuân về vọng nhớ cõi trời Đông!
Tranh Tết năm nay chắc lắm rồng?
Cỡi gió, uốn mình đi bốn cõi,
Vờn mây, lượn khúc khắp non sông.
Lưng trời vời vợi xa trần tục,
Vực biển mênh mông lánh bụi hồng.
Thập nhị chi - Bao lần hạnh ngộ:
“Thiên đình, hạ giới cũng tinh thông?”
Georgia, cuối Đông 1999
***
XUÂN TRÊN ĐẤT MỸ - Thái Quốc Mưu
Xuân ở xứ người nhạt khói hương!
Mai không khoe sắc - Tuyết in đường
Tiết tuôn khí lạnh đùa thân xác
Gió phẩy chồi non rụng ánh sương
Giữa buổi giao thứa lòng quặng thắt
Trong đên trừ tịch nỗi sầu vương
Xứ người Xuân đến… Sao băng giá?
Tuyết phủ! Tháng ngày khuất bóng dương
Cuối Đông 1999.
***
XUÂN NHẠT Ý - Thái Quốc Mưu
Xuân đến chạnh lòng - Gợi chút duyên
Hồn Xuân vang vọng tiếng Thu huyền!
Vô tình những cánh mai vàng ngõ
Nhạt ý hàng hoa cúc trắng hiên
Trên áng thư - Nhìn tranh gợi tứ
Bên chung trà – Hát khúc giao duyên
Như con bướm lạc đàn ngơ ngác!
Ngán ngẩm thế trần - Mộng cõi tiên!
Atlanta, Feb. 03, 1999.
***
ĐÓN TẾT XỨ NGƯỜI - Thái Quốc Mưu
Giá rét ai ai cũng chạy làng
Đông về ta đón Tết ta sang
Quê nhà nắng tỏa hương Xuân ấm
Đất khách mây che nhạc ánh vàng
Giấc mộng công danh đà khuất bóng
Cái thời ngang dọc đã sang trang
Xứ người – Xuân nhạt tình dân tôc
Đạo đức Ông, Cha phải lọc, sàng.
26-12-1999
***
LỜI NGUYỆN ĐẦU XUÂN - Thái Quốc Mưu
Xuân đến - À! Xuân đến cũng hay!
Mong Xuân thay được cái cần thay
Thắm nồng tình nghĩa người xa xứ
Sưởi ấm cõi lòng kẻ cóng tay
Nhấp chén men - Quên đời lận đận
Nâng chung trà - Xóa nỗi chua cay
Trời Xuân tươi mát - Hồn Xuân đọng
Cạn chén rượu nồng ngật ngưỡng say!
Atlanta, Dec. 14, 2000
***
ĐÓN XUÂN - Thái Quốc Mưu
Nét bút, câu thơ trải mấy vần.
Yêu đời, yêu cả mảng tình Xuân.
Mẹ cha tu đức - Trời ban lộc,
Tiên tổ hãm mình - Cháu thụ ân.
Cuộc sống xô bồ bao hạch sách,
Miệng đời tanh tưởi há chồn chân?
Nhìn quanh tám hướng, ta thầm nghĩ:
“Cách nghĩ, cách nhìn, nên cách tân”
Atlanta, Jan. 22, 2002
***
XUÂN BUỒN - Thái Quốc Mưu
Đón tết thơ ta rớt mấy vần
Người thì bảo cổ kẻ rằng tân
Đù cha cầy cáo theo chân sói
Địt mẹ thú đàn hại nước dân
Lũ chó tham mồi sang đất Bắc
Chim trời ngoảnh cổ vọng trời Nam
Giữa đời lắm kẻ ngu chi lạ!
Tham bã danh - Đành để nhục thân?
Atlanta, Jan. 28-2016
***
LÒNG XUÂN - Thái Quốc Mưu
Sống với nhau lâu - Biết đá vàng...
Lòng lành xa lánh lũ tà gian
Đời ta đạo nghĩa luôn vương vấn
Bọn chúng lợi danh mãi buộc ràng
Cất bút cung nghênh ngày Tết đến
Lên đèn tống biệt tiết Đông sang
Yêu đời, ta viết vần thơ đẹp
Nếu chẳng nên danh - Cũng rỡ ràng.
Atlanta, Jan. 27, 2017
***
VUI XUAN - Thái Quốc Mưu
Bảy mươi lăm tuổi vẫn yêu đời
Cõi chết Diêm Vương ngại chẳng mời
Khai bút làm thơ tung bốn cõi
Nghênh xuân nâng chén nhấp vài hơi
Bạn bè chân chất luôn luôn giữ
Chữ nghĩa miệt mài mãi mãi tôi
Phone tặng nhân tình câu đối Tết
Các nàng phụng phịu: “Hổng về... “Chơi!”
Mùng Một Tết Giáp Ngọ
***
HAI MẶT XUÂN - Thái Quốc Mưu
Tết đến - Thì ra Tết đến rồi!
Thảo nào cây trái trổ hoa khôi
Én đàn tíu tít kêu đầu ngõ
Cánh lá lao đao lượn giữa trời
Khốn khó nhìn người đi sắm Tết
Ấm no dạo dáng để trêu người
Dân nghèo buốt dạ ba ngày Tết
Quan chức tiệc tùng khắp mọi nơi
Atlanta, Feb, 5, 2018
***
XUÂN NẦY TA NHỚ XUÂN XƯA - Thái Quốc Mưu
Tết đến nỗi buồn chợt vút cao
Gợi bao nhung nhớ thuở Xuân nào
Áo dài khoe sắc thêm duyên dáng
Trai trẻ chơi xuân rất bảnh bao
Nhà giàu đón Tết không kênh kiệu
Kẻ khó chơi xuân cũng dạt dào
Khác hẳn cái thời đầy bát nháo
Ngợm người, người ngợm… Nghĩ càng đau!
Atlanta, Feb. 08, 2018
***
CÁCH BIỆT GIỮA TRỜI XUÂN - Thái Quốc Mưu
(Thể Táo Tạo)
Tết đến dân nghèo đi móc bọc
Cáo cầy, cầy cáo khác chi đâu?
Mặt to, bụng phệ trên mâm cổ
Dạ đói, trẻ thơ dưới dạ cầu
Xuân ngại bay ngang nơi khốn khó
Hoa cười trước ngỏ kẻ sang giàu
Thói đời sau trước - Y nhau – Rặt!
Chỉ đám dân nghèo mới khổ đau.
Atlanta, Feb. 08, 2018
***
KHAI BÚT XUÂN KỶ HỢI – 2019 - Thái Quốc Mưu
(Thể Táo Tạo)
Ngẩng đầu đứng thẳng - Chào Xuân đến
Ngoảnh lại thằng mình đã tám mươi
Cất chén câu thơ mừng Tết mới
Vung tay thi tứ rộn hoa tươi
Nắng hừng ý chí nghênh ngang bút
Lòng thắm hương quê ấp áp đời
Xua bầy chó má vô rừng rú
Đón Tết dân gian rộn tiếng cười
Atlanta, 28-12 Mậu Tuất – 2018
***
KHAI BÚT NĂM CANH TÝ - Thái Quốc Mưu
(Thể Táo Tạo)
Từ lúc bọn mi lòi mặt mẹt
Dân ta cam gánh nỗi lầm than
Đồng xanh, ruộng lúa mi banh nát
Nhà cửa, ruộng vườn chúng phá tan
Trước đã chui đầu trong hốc hẻm
Nay ra lộ mặt ở ven đàng
Dẫu bây vênh váo bên mâm cổ
Mặt mũi khác chi lũ điếm đàng.
Mồng Một Tết Canh Tý 2020
***
KHAI BÚT NĂM SỬU - Thái Quốc Mưu
Dương lịch bắt cầu Xuân đến nơi
Quê xa vắng ngắt tiếng vui cười
Dân nghèo cơm áo bùi ngùi khóc
Vận nước đau buồn uất nghẹn trôi
Quan chức cửa công vênh váo mặt
Bờ mông trôn đĩ xót xa đời
Trời xua Trâu xuống nơi trần thế
Xông xáo vào đời khắp mọi nơi
Atlanta, 02-01-2021
***
DIỄU XUÂN NHÂM DẦN - Thái Quốc Mưu
Thoắt cái - Giờ, năm Sửu đã qua!
Rượu không, bình nóng chẳng hương trà
Dân nghèo – Gạo ẩm khôn tiêu hóa
Nắng thét - Cành khô chẳng trổ hoa
Lính lệ, nghênh ngang tuồng tướng tá
Cửa quyền hống hách tợ sân nhà
Ra đường quan chức ngông nghênh mặt
Cọp đến mừng Xuân - Một tiếng, “Khà!”
Atlanta, 31-12-2021
**
VỊNH NĂM DẦN – 2022 - Thái Quốc Mưu
Tết đến con trâu trở lại đồng
Năm Dần mãnh hổ xuất sơn lâm
Ngại ngần cầy cáo nghe hơi đến
Dáo dác đàn nai vọng tiếng gầm
Chân bước núi đồi rung khắp chốn
Vuốt vờn muôn thú phải kinh tâm
Uy phong lừng lẫy trong trời đất
Vinh nhục không qua một chỗ nằm
Atlanta, 15-01-2022
***
THÓI THƯỜNG – Thái Quốc Mưu
Xuân đến, Xuân đi, Xuân lại đến
Dân lành no ấm - Bóng chiều rơi!
Quan ôn biệt thất tranh cung điện
Tổ ấm người dân sánh mái chòi
Rượu ngoại thừa tiền viên chức nốc
Thôn làng thiếu gạo cải rau xơi
Xưa nay tất cả phưởng quan lại
Lớn tiếng thương dân – Chỉ dối đời
Atlanta, 24 tháng Chạp, năm Tân Sửu
***
HÁT NÓI - CHƠI XUÂN - Thái Quốc Mưu
Mưỡu:
Mỗi năm chỉ một Xuân hồng,
Thưởng Xuân nâng chén rượu nồng đầy vơi.
Vui Xuân cùng với Đất, Trời,
Chơi Xuân cùng với người người du Xuân.
Nói:
Quẳng những ưu tư trên đất khách.
Đón Xuân về phong cách thảnh thơi.
Yêu đời hưởng cảnh Xuân tươi.
Vui Xuân thắm, đậm men đời trong Xuân.
Cuộc sống nhạt nhòa cơn nắng hạ,
Bốn mùa thắt chặt một lần Xuân
Trăm tuổi đời, Xuân đến được bao lần,
Sao chẳng hưởng, chẳng chơi cho thỏa chí?
Hãy dứt bỏ cảnh chợ người dâu bể.
Mặc thói đời, mặc cuộc thế vần xoay.
Cùng nàng Xuân chuốc cạn chén men cay.
Cho ngất ngưởng quên tháng ngày vất vả.
Hãy sống động kẻo tình đời băng giá.
Lắng tâm hồn nghe gió hát, chim ca.
Đón chào Xuân thinh sắc cũng chan hòa...
Dù cuộc sống lắm bôn ba vất vả.
Một lần Xuân xuất thế đủ an bình.
Chơi Xuân - Chơi phải hết mình.
***
XUÂN VỌNG - Đỗ Phủ.
春望
國破山河在,
城春草木深。
感時花濺淚,
恨別鳥驚心。
烽火連三月,
家書抵萬金。
白頭搔更短,
渾欲不勝簪。
DIỄN ÂM
Quốc phá sơn hà tại,
Thành xuân thảo mộc thâm.
Cảm thì hoa tiễn lệ,
Hận biệt điểu kinh tâm.
Phong hoả liên tam nguyệt,
Gia thư để vạn kim.
Bạch đầu tao cánh đoản,
Hồn dục bất thăng trâm.
(Năm 757)
PHỎNG DỊCH - VỌNG XUÂN - Thái Quốc Mưu
Nước mất, quê hương mãi mãi còn.
Xuân về cây cỏ mãi xanh non.
Hoa rơi cánh đọng lời ly biệt!
Chim cất tiếng vang nỗi uất hờn.
Khói lửa triền miên trong gió bụi,
Thư nhà quý giá tựa cung son.
Mái đầu bạc trắng dần rơi rụng.
Búi tóc giờ đây cũng chẳng tròn.
Thái Quốc Mưu
* Đỗ Phủ (712-770) người Tương Dương, ngụ ở Đỗ Lăng, vì nghèo khó nên tự xưng là Đỗ Lăng Bố Y, trượt tiến sĩ, về già xưng Đỗ Lăng Dã Lão, đến đời vua Huyền Tơn, Đỗ Phủ dâng ba bài thơ, vua mến tài cho làm Thị Chế ở Viện Tập Hiền. Thời An Lộc Sơn nổi dậy, Đỗ Phủ bị bắt giam, sau trốn thóat, nghèo vẫn hòan nghèo. Ông mất năm 59 tuổi. Chết vì bội thực.
__________________
Hình: Thư Tổng Thống Hoa Kỳ gởi cám ơn Thái Quốc Mưu, sau khi nhận được, "ĐỀ ÁNH CHO HOA KỲ Ở CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG"
 

 

 

Thứ Năm, 20 tháng 1, 2022

NHỮNG BÀI THƠ VỀ HẢI CHIẾN HOÀNG SA ( ST)

 https://www.youtube.com/watch?v=HPHBnUIzy_o  

 

HẬN HOÀNG SA
 
Bốn bốn năm mà như hằng thế kỉ
Hoàng Sa quặn mình bao vết chém đau
Mắt tổ quốc chưa bao giờ ráo lệ
Quàng khăn tang nên sóng hóa bạc đầu!
 
Máu hùng anh nhuộm lòng biển đỏ
Càng đớn đau càng sục chí kiên cường
Quân thù hỡi! Bạch Đằng Giang rực lửa
Mi chờ đi, ngày nhặt xác sa trường!
 
Trăm triệu anh em cùng chung hòn máu
Như Hoàng Liên cao mãi chí ngang tàng
Năm tháng xót thương người em hải đảo
Cuồn cuộn căm hờn sóng nước Cửu Long Giang!
 
Muôn lạch suối chung lòng về biển cả
Ngàn núi non luôn bền chí phục thù
Người bé lớn giáo mài, gươm tuốt vỏ
Thề một lòng cùng trả hận thiên thu'
*
Vỗ kiếm, giận đời chưa thỏa chí
Đối diện quân thù một trận đá tro bay
Ôm nhục nước nén vào tim chánh khí
Rượu ba miền không đủ một ta say!
Kha Tiệm Ly.
 
Hôm nay 19 - 1 - 2016, kỷ niệm 42 năm hải chiến Hoàng Sa . Mình có một bài viết (với thiển ý khá mộc mạc năm ngoái đã up rồi , nay xin được post lại , mặc dù câu từ chưa được hoàn chỉnh mong quý bạn fb đừng ném đá ạ .
 
VIẾNG 74 NGƯỜI LÍNH HOÀNG SA
 
Hỡi ôi ! Khơi dấu vong linh
Các anh ngã xuống năm nào nay sáng tỏ
Dù sử sách chưa một lần ghi , nhưng công ơn tạc dạ
Những ai ngày đó còn in dấu rành biển Đông dậy sóng
Người còn mất, nhưng đâu dể sử sách quên
Hải chiến xưa tuy không xua quân thù xa bờ cõi
Nhưng cũng làm lủ cường bạo khiếp vía, hải kinh
Giun oằn mình xéo phải đứng lên
Chứ nào ai muốn ghi tên muôn thuở
Bốn ngàn năm oai hùng còn đó, nay không lẻ chịu ngồi yên
Súng bắn liên hồi, đại bác ầm ào khạc lửa
Tàu chiến ra vào như cá voi gầm gừ nơi biển bạc
Máu rơi, thịt đỏ cố giành giang sơn từ quân hung bạo
 
Nhưng than ôi !
Dù cố xông pha nhưng trâu nhà không địch nổi cọp beo
Cố giữ bờ bao, nhưng nào “lực bất tòng tâm”, được
Muốn yên biên thùy tuy rằng “đâu quản nguy nan”, khó
Dẫu thế thời, khói lữa ngút trời các anh chẳng từ nan
Máu đổ xương tan nào đâu sá
Dấu hình hài không hề kể ghi
Con đất Việt ngàn năm vẫn thế
Giống Lạc Hồng không tiếc tuổi thanh xuân
Khi ra đi không người đưa tiễn
 
Ngày trở về , hình hài gởi lại biển khơi
Nhớ Đống Đa xưa trống dập trống dồn hương hồn còn đó
Như Xoài Mút – Rạch Gầm ầm vang tiếng vọng thấu đại dương
Nhưng ôi thôi ! Máu chảy đầu rơi
Mắt mẹ mờ trông ngóng chồng ngọc ngà, con núm ruột
Người vợ ôm con chờ chồng đá hóa vọng phu, còn đó
Trẻ ầu ơ khóc cha như mưa ngàn đổ biển
Ôi tang thương năm nào còn dấu biển ghi
Vậy mà nay vận nước muốn yên bình nào đâu có được
Đại dương kia bọn bành trướng rập rình đòi lăm le đòi nuốt chửng
Bao xương máu các anh hùng năm nào ngã xuống không lẻ hư vô
Hỡi con dân đất Việt thấy cường bạo mà thoái lui, chăng
Thấy bất bình mà ngồi yên nhìn ngó, được
 
Nay hồn thiêng các anh về nơi đất Mẹ
Hình hài còn đó, hòa mình trong nước biển xanh
Dẫu con dân chiến tuyến nào, sinh linh ai cũng da vàng máu đỏ
Cũng là mẹ Việt Nam mang nặng đẻ đau mười ngày chín tháng, đó thôi
Cũng ruột cắt từng khúc thương tiếc như nhau, mắt trào lệ đẫm
Xin một nén nhang viếng người dưới mộ
Giữa đại dương trùng trùng lặng yên, không gầm gào cuồng nộ
Các anh ngủ yên, ngủ yên nhưng bao người mến mộ
Một thuở, một thời ghi ơn tạc dạ vào biển xanh
Sử sách đã rành, biển nhớ, công ghi mãi ...mãi ...
Vx 21h 03 - 5- 2014.
(Dr Khuoc)
Bài này tag với chú Đào Dân_người từng tham gia hải chiến Hoàng Sa , nay định cư ở Mỹ.
 
 
Khi bài thơ Hoàng Sa vượt vĩ tuyến 17 vô Nam
Lê Đức Dục
 
Năm 1974, khi Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, đất nước vẫn còn chia hai miền Nam /Bắc.
Nhiều trận đánh vẫn chỉ là người Việt bắn vào người Việt.
Anh Trương Huy San có một đúc kết rất sâu sắc: “Hoàng Sa – đấy là chiến trường duy nhất trước ngày 30-4-1975 mà ở đó người Việt đã không nổ súng vào người Việt.”
(Dĩ nhiên đánh Trung Quốc bảo vệ xứ sở thì khỏi phải lo khi hòn đạn bay ra người trúng đạn rất có thể đó chính là anh em máu mủ của mình.)
Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10 và hạm trưởng Ngụy Văn Thà, cả con tàu và chiến binh hạm trưởng đã hy sinh trong hải chiến Hoàng Sa 19.1.1974. Ảnh tư liệu
Trở lại với bài thơ Hoàng Sa nói trên, khi ấy ở miền Bắc rất ít người biết thông tin này và nếu biết vẫn không hiếm người nghĩ chính Trung Quốc đã giải phóng Hoàng Sa từ tay VNCH giúp cho ta vì Tàu và ta cùng là anh em trong phe XHCN, sau này Tàu sẽ giao lại!
Nhưng giữa ngày tháng Hoàng Sa bị xâm lược đó, một thi sĩ miền Bắc làm bài thơ này, gửi từ Hà Nội qua Pháp và từ Pháp về Nam Việt Nam bày tỏ tấc lòng.
Năm 2005 câu chuyện và bài thơ được kể trên giai phẩm Quảng Đà in ở hải ngoại. Có người nghi tác giả là Việt Phương, có người dẫn lại cơ sở nói tác giả là Hoàng Xuân Huế, người em bà con của cụ Hoàng Xuân Hãn…
Nhưng mình nghĩ trong bối cảnh năm 1974 ấy ở miền Bắc mà viết được như thế này thì biết trái tim thi sĩ dũng cảm ấy đã rỏ máu với Hoàng Sa như thế nào.

Hoàng Sa
Xin kể thêm tôi
thành mười chín triệu một người (*)
Trái tim tôi đập về trong nớ
Dòng máu xa nguồn bỗng giận sôi
Hoàng Sa, Hoàng Sa
Cái tên nghe buồn như thuở ban sơ
Từ tuổi ấu thơ, hay tự bao giờ
Ðối với tôi đã là da thịt
Dầu chỉ là một mảng san hô
Lại đau chăng vết buốt tự ngàn xưa
Trang sử cũ còn hằn dấu ngựa
Từ thảo nguyên xa, từ biên ải lửa
Khói tràn về đen thẫm những giấc mơ
Đếm biết bao nhiêu người vợ đợi chờ
Em ơi! Trên từng trang sử nhỏ
Xin kể thêm tôi thành mười chín triệu một người,
Thành viên gạch hồng tươi
Làm bức tường thành ngăn triền sóng dữ
Làm chiếc vò đựng mùa xuân ngọt lự
Giữ không rơi một giọt mật nào
Mỗi giọt ra đi, chính giọt máu đào
Từ cuộc đời cha ông rỏ xuống
 
Em trai ơi!
Trên đảo mù sương
hôm đó có em tay cầm súng
Từ những hạm tàu rẽ sóng đại dương
Anh thấy pháo em dương nòng sừng sững
Cuộc chiến đấu kết thúc dù bi thảm
Bài ca anh hùng vẫn vọng trời cao
Xin cho thơ tôi góp phát súng chào
Vĩnh biệt tuần dương chìm dần giữa sóng
Ðáy biển âm thầm, ngàn năm lạnh cóng
Vẫn mặn nồng lòng Tổ quốc ta
Xin cho thơ tôi làm thảm sóng ngân nga
Ru giấc ngủ những chàng trai dũng cảm
Tiếng cười ngày nào còn ran trong nắng
Đôi mắt ngày nào đọng mắt người thương
Tôi biết mùa xuân chưa đến bao giờ
Ngực đảo còn đau ngàn bàn chân lạ
Hoàng Sa, xa vời ơi Hoàng Sa!
Tên người ngân buồn như bản thánh ca…
(1974- Khuyết danh)
(*) Giải thích thêm vì có bạn chưa rõ: Dân số miền Nam khi ấy là 19 triệu, miền Bắc 21 triệu.
 
 
Ngày 19 tháng 1 năm 1974
Lúc ấy
Tôi mười ba tuổi
Và dù có là 23, 33, 43, 53, 63, 73, 83, 93, 103… thì cũng chẳng khác gì
Tất cả xứ sở chìm trong u u mê mê
Chỉ có khẩu hiệu treo khắp nơi
Tất cả để giải phóng miền Nam
Mỹ phải cút ngụy phải nhào
Tất cả chỉ là như thế
Loa phóng thanh tiếng mờ tiếng tỏ
Nói tất cả những gì có thể
Trừ tin Trung Cộng chiếm Hoàng Sa…
Không người dân nào được biết hung tin
In hệt sau này Gạc Ma năm 1988
Tất cả nằm trong vùng u tịch
Tất cả nằm trong vùng bí mật
Một vài người được biết
Hoàng Sa lá bài trong canh bạc quyền lực
Đang mặc cả và chia chác
Ngày ấy chưa xa
Với tôi gần như là cổ tích
Đọc lại thấy ngỡ ngàng
Chuyện máu người Việt đổ
Hoàng Sa Hoàng Sa những ngày khói lửa
Xa vời vợi ngàn trùng như chuyện đẩu đâu
Tôi hỏi đồng nghiệp đã bạc đầu
Ai được hỏi cũng từng như tôi ú ớ
Tôi hỏi đồng nghiệp ngực còn căng cũng thế
Ú ớ u ơ
Tôi hỏi mấy ông bà bạn làm thơ
Ồ Hoàng Sa cát vàng sóng biếc đẹp tựa Hawaii tha hồ tắm nắng
Hoàng Sa Hoàng Sa anh sẽ đưa nàng thơ đến
Tôi chỉ còn biết thở dài
Ngao ngán
Giữa bạn bè khi cao hứng
"Trường Sa hành" tôi đọc vang lên
Tiếng thơ bi hùng
Trường Sa Trường Sa đảo chếnh choáng…
Gió miên man thổi
Lòng ta cũng rách
Cây bật rễ trôi trên sóng
Xám ngắt
Bạn tôi nghe
Có người run rẩy khóc
Có người nghiến răng mặt lạnh
Không ít người ngơ ngác
Có người quát
Sao đọc thơ của tay lưu vong từng làm tên bán nước!
Hoàng Sa ơi! Trường Sa ơi!
Nước mắt tôi rơi
Khóc cho ai?
Cho Hoàng Sa
Hay cho lòng người tan nát?
Ngày này năm ấy đã đủ xa
Cho tôi cho bạn nhìn lại
Ngày ấy và bây giờ
Bây giờ và mai sau
Chỉ còn lại nỗi đau
Hỏi có ích gì?
Đặng Tiến
Ảnh minh họa: Nguồn từ Internet.
 



 

Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

SƠ LƯỢC THI CỬ NGÀY XƯA -Mục Văn chương thi cử- Thơ phú

SƠ LƯỢC THI CỬ NGÀY XƯA
Chương Ba -Phần 2 : Thơ - Phú (thời Nguyễn) .
Nguyễn Giụ Hùng (Sưu tầm, chọn lọc, tổng hợp và trình bày)
( Trích từ Chim Việt Cành Nam số Số 84 / 21-11-2021 Văn hóa -Gíao dục - sơ lược về thi cử ngày xưa - Mục Văn chương thi cử- Thơ phú.) tại link:
 
 

THƠ
Cuối đời Đông Châu, Khuất Nguyên ở bên Trung Hoa có bày ra điệu Ly Tao, ở giữa hay cuối câu ta thường gặp chữ "hề". Nó mở đầu cho một thể thơ của Trung Hoa thời cổ xưa.
Rồi lần lượt mãi sau, mới có một lối thơ, hình thức thuần thục hơn, hạn định hơn, người ta gọi là cổ thi, cổ thể hay là cổ phong.
Rồi mãi tới đầu Đường có thi sĩ Lý Bạch đặt ra nhiều bài thơ có âm điệu hay, nhà vua mới cho một nhóm quan văn lựa điệu, chọn âm theo thơ Lý Bạch, đặt ra luật nhất định gọi là Đường luật. Thơ Đường luật phát xuất ra từ đấy.
Tóm lại thơ Trung Hoa du nhập vào nước ta gồm hai thể thơ chính dùng trong thi cử:
- Thể thơ Đường luật, hay cận thể (gần đây), theo vần, đối, luật và niêm của Đường luật.
- Thể cổ phong, hay cổ thể (từ xưa) có trước thời nhà Đường, không theo niêm, luật.
Mỗi thể có hai loại:
- Mỗi câu có 5 chữ gọi là thơ ngũ ngôn
- Mỗi câu có 7 chữ gọi là thơ thất ngôn
- Mỗi bài có 4 câu gọi là thơ tứ tuyệt
- Mỗi bài có 8 câu gọi là thơ bát cú
Riêng thể cổ phong số câu có thể thay đổi hoặc 8 hoặc 6 hoặc 12 câu và những bài thất ngôn nào dài quá 8 câu, ngũ ngôn dài quá 16 câu gọi là "trường thiên" hoặc "hành".
I- THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Thể thơ Đường luật đã trở thành thể thơ thi cử của nước ta từ cuối đời Trần. Năm 1396, vua Trần Thuận Tông quy định thể lệ thi Hội "tứ trường", trong đó có kỳ đệ nhị (kỳ 2) thí sinh phải làm một bài thơ Đường luật và một bài phú. Các khoa thi Tiến sĩ ở thời Lê Sơ, Mạc, Lê Trung hưng đều lấy thơ Đường luật để thi.
Thơ Đường luật gồm nhiều dạng, nhưng có bốn dạng chính:
-Ngũ ngôn bát cú tức 5 chữ 8 câu
-Ngũ ngôn tuyệt cú tức 5 chữ 4 câu
-Thất ngôn bát cú tức 7 chữ 8 câu
-Thất ngôn tuyệt cú tức 7 chữ 4 câu
Trong thơ Đường, dạng thức thất ngôn bát cú là dạng thức thông dụng.
Trong lối thơ Đường luật, dù ở dạng thức nào đều có 5 điều phải lưu tâm: vần, đối, luật, niêm và cách bố cục.
1- Vần
Trước khi nói về vần ta cũng nên biết về thanh hay âm
a/ Thanh hay âm
Tiếng Việt là tiếng đơn âm, dựa theo chữ quốc ngữ bây giờ, có tiếng chỉ có 6 thanh, có tiếng có tới 8 thanh.
- Tiếng có 6 thanh, tùy thuộc vào 6 dấu như: không dấu, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng. Những thanh này gồm những tiếng (chữ) có một, hai hay ba nguyên âm ở sau cùng.
Thí dụ:
-ma, mà, mã, mả, má, mạ
-đôi, đồi, đỗi, đổi, đối, đội,
-muôi, muồi, muỗi, muổi, muối, muội.
- Tiếng có 8 thanh là những tiếng có một hoặc hai phụ âm ở đằng sau, cộng thêm 2 thanh của dấu sắc và dấu nặng và có những phụ âm c, ch, p, t sau cùng.
Thí dụ:
- Tiếng "thiên" có 8 thanh âm gồm: thiên, thiền, thiễn, thiển, thiến, thiện, thiết, thiệt (cuối là t)
- Hay tiếng "tinh" có 8 thanh âm gồm: tinh, tình, tĩnh, tỉnh, tính, tịnh, tích, tịch (cuối là ch).
b/ Thanh bằng và thanh trắc
Tám thanh chia ra làm hai loại: bằng và trắc.
- Bằng, chữ Nho là bình, có hai thanh, là những thanh mà âm phát ra bằng phẳng đều đều gồm những tiếng viết thành chữ quốc ngữ có dấu huyền và không dấu.
- Trắc, có 6 thanh còn lại của 8 thanh sau khi bỏ đi hai thanh bằng. Đó là những thanh khi âm phát ra hoặc tự thấp lên cao, hoặc tự cao xuống thấp. Gồm những chữ quốc ngữ có dấu ngã, hỏi, sắc, nặng, và hai thanh theo quy định dấu sắc và dấu nặng có những phụ cuối cùng là những chữ c, ch, p, t.
c/ Vần
*/ Vần, chữ Nho là vận, là những tiếng thanh âm đặt một cách hòa hợp vào hai hoặc nhiều câu thơ để hưởng ứng nhau.
*/ Cách gieo vần
-Thơ Đường luật dùng vần bằng, ít khi lắm mới dùng vần trắc. Có ý kiến, thật ra thơ Đường luật chỉ dùng vần bằng chứ không dùng vần trắc. Những bài thơ người ta gọi lầm là thơ Đường luật vần trắc chỉ là lối thơ cổ phong được làm bằng cách dùng thơ Đường luật đổi ra vần trắc chứ không phải thơ Đường.
-Suốt bài thơ Đường luật chỉ theo một vần, gọi là độc vận, và vì gieo vần vào chữ cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 nên gọi là cước vận.
Thí dụ:
Chơi Núi An Lão
1. Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ, (v)
2. Đây hồn Thục Đế thác bao giờ. (v)
3. Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
4. Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ. (v)
5. Có phải tiếc xuân mà đứng gọi,
6. Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ. (v)
7. Ban đêm ròng rã kêu ai đó,
8. Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ. (v)
(Nguyễn Khuyến)
- Để xét vần gì, chỉ cần xét chữ cuối ở trong câu gọi là cước vận hay túc vận.
- Nếu vần đó là chữ thuộc thanh âm bằng thì gọi là bình vận.
- Nếu vần đó là chữ thuộc thanh âm trắc thì gọi là trắc vận.
Các nhà thơ sử dụng thường là vần bằng, rất ít khi dùng vần trắc. Năm thanh trắc này phải tránh trùng vận, nếu trùng âm thì phải khác nghĩa.
- Nếu vần được gieo giữa 2 câu liền kề nhau thì gọi là liên vận.
Thí dụ:
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ (câu số 1)
Đây hồn Thục Đế thác bao giờ (câu số 2)
- Nếu vần gieo giữa câu này và câu kia phải bị cách một câu chèn giữa như các câu số chẳn 2-4, 4-6, và 6-8 bởi những câu lẻ 3,5,7 thì gọi là cách vận.
Thí dụ:
Đây hồn Thục Đế thác bao giờ (câu số 2)
. . . (câu số 3)
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ (câu số 4)
- Nếu gieo sai vần thì gọi là lạc vận.
Thí dụ:
1. Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
2. Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
. . .
(Thu Vịnh-Nguyễn Khuyến)
- Nếu gieo vần không sát gọi là cưỡng vận (ép vần).
2- Đối (Đối ngẫu)
Đối là đặt hai câu đi song đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau. Vậy trong phép đối, vừa phải đối ý, vừa phải đối chữ. Đối chữ thì phải để ý tới đối cả về thanh lẫn thể loại. Với chữ quốc ngữ ngày nay phải kể đến tự loại như phải đồng là tĩnh từ, danh từ, động từ . . . đối với nhau.
Thí dụ:
Lắt lẻo cành thông cơn gió giật
Đầm đìa lá liễu hạt sương gieo
(Hồ Xuân Hương)
Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, sắn váy quai cồng, tất tưởi chân nam chân xiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc.
Bà đi đâu vội mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.
(Khóc vợ - Nguyễn Khuyến)
a/ Các phép đối (được phân loại theo nhà thơ Quách Tấn). Gồm 6 loại: (*)
*/ Phép chỉnh đối: Đây là phép đối thông dụng nhất, các chữ của câu trên và câu dưới theo thứ tự đối nhau từng chữ một hay từng cặp chữ kép một.
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
(dưới núi đối với bên sông)
(Bà Huyện Thanh Quan)
*/ Phép tá tự đối: Đây là phép đối tiếng (chữ)
Hai mái trống tung đành chịu dột
Tám giờ chuông điểm phải nằm co
(trống đối với chuông)
(Trần Tế Xương)
*/ Phép bất đối chi đối: Không đối tự loại mà đối ý.
Bóng chiều đã ngả đâu quê cũ
Xưa nay chinh chiến mấy ai về
(Tổng trấn Nguyễn Văn Thành)
*/ Phép đối lưu thuỷ: Ý câu dưới tiếp ý câu trên vì một mình câu trên không đủ nghĩa.
Thôi về bãi biển cho êm ái
Để mặc bên sông nó gật gù
(Nguyễn Khuyến)
Tổng đốc vì thương người bạc mạng
Tiền Đường chưa chắc mộ hồng nhan
(Tản Đà)
*/ Phép Cú Trung Đối:Còn gọi là tiểu đối. Tự đối nhau trong từng câu. Câu trên tự đối, câu dưới cũng tự đối. Hai câu đều tự đối.
Lấy của đánh người quân tệ nhỉ
Xương gà da cóc có đau không
(Nguyễn Khuyến)
(Lấy của đối với đánh người. Xương gà đối với da cóc)
Chim trời cá nước duyên ai đó
Vía dại hồn khôn chết dễ chơi
(Tản Đà)
(Chim trời đối với cá nước. Vía dại đối với hồn khôn)
*/ Phép giao cổ đối: Từng nhóm hay từng chữ của câu trên đối chéo với từng nhóm hay từng chữ của câu dưới
Chân bước vững đường chiều khấp khểnh
Rừng cây rậm rạp trúc vươn cao.
(Trần Tuấn Ngọc)
(Chân bước vững của câu trên đối chéo với trúc vươn cao của câu dưới
- đường chiều khấp khểnh của câu trên đối chéo với Rừng cây rậm rạp của câu dưới)
b/Luật đối trong thơ bát cú:
Những câu phải đối trong thơ bát cú, kể cả ngũ ngôn lẫn thất ngôn, trừ hai câu đầu và hai câu cuối, còn 4 câu giữa đối với nhau từng cặp,
-Câu 3 đối với câu 4 (3.4)
-Câu 5 đối với câu 6 (5,6)
Thí dụ:
Bạn Đến Nhà Chơi
1- Đã bấy lâu nay bác đến nhà,
2- Trẻ thì đi vắng, chợ thì xa.
3- Ao sâu nước cả, khôn chài cá, (Đối)
4- Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà. (Đối)
5- Cải mới ra cây, cà chửa nụ, (Đối)
6- Bầu vừa rụng dốn, mướp đương hoa. (Đối)
7- Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
8- Bác đến chơi đây ta với ta.
(Nguyễn Khuyến)
Thằng Mõ
1- Mõ này cả tiếng lại dài hơi,
2- Mẫn cán ra tay chẳng phải chơi.
3- Mộc đạc vang lừng trong bốn cõi, (Đối)
4- Kim thah rền rĩ khắp mọi nơi. (Đối)
5- Trẻ già thảy thảy đều nghe lệnh, (Đối)
6- Làng nước ai ai phải cứ lời. (Đối)
7- Trên dưới quyền hành tay cất đặt,
8- Một mình một chiếu thảnh thơi ngồi.
(Lê Thánh Tông)
3- Luật bằng trắc
(Dựa theo tài liệu về thơ Đường luật trong cuốn "Việt Thi" của Trần Trọng Kim và cuốn "Văn Học Việt Nam" của Dương Quảng Hàm).
a/ Luật
Luật thơ Đường là cách sắp đặt tiếng bằng, tiếng trắc trong các câu của một bài thơ thành khuôn mẫu hay công thức một cách chặt chẽ đã được định sẵn.
Có hai luật, luật bằng và luật trắc:
-Hễ chữ thứ hai câu thơ đầu tiên là thanh bằng thì bài thơ theo luật bằng
-Hễ chữ thứ hai câu thơ đầu tiên là thanh trắc thì bài thơ theo luật trắc
Nói cách khác:
- Luật bằng là luật thơ chữ thứ hai câu đầu tiên bài thơ là thanh bằng
- Luật trắc là luật thơ chữ thứ hai câu đầu tiên bài thơ là thanh trắc
Trong các bảng luật được liệt kê dưới đây,
- Những chữ "B" thay tiếng bằng và chữ "T" thay cho tiếng trắc
- Chữ "v" thay cho tiếng vần
- Những chữ in đậm (bold) là những tiếng phải theo đúng luật
- Những chữ thường (không đậm) thì theo đúng luật hoặc không theođúng luật cũng được dựa theo lệ "bất luận" (sẽ nói sau).
- Chữ màu đỏ cho luật
- Chữ màu xanh cho vần
Luật trong thơ Ngũ ngôn bát cú (5 chữ, 8 câu)
*/ Luật Bằng vần Bằng
-1: B B T T B (v)
- 2: T T T B B (v)
- 3: T T B B T
- 4: B B T T B (v)
- 5: B B B T T
- 6: T T T B B (v)
- 7: T T B B T
- 8: B B T T B (v)
Tự trào
Phong lưu tính đã quen,
Thằng tôi há chịu hèn.
Bạc mở vung tấn tấn,
Rượu đánh tít cù đèn.
Trên trời đứt dây xuống,
Dưới đất chật nẻ lên.
Ao ước còn toan những,
Có tiền dễ mua tiên.
(Khuyết danh)
*/Luật Bằng vần Trắc
-1: B B B T T (v)
- 2: T T B B T (v)
- 3: T T T B B
- 4: B B B T T (v)
- 5: B B T T B
- 6: T T B B T (v)
- 7: T T T B B
- 8: B B B T T (v)
Mùa Hạ
Tháng tư đầu mùa Hạ,
Tiết trời thực oi ả.
Tiếng dế kêu thiết tha,
Đàn muỗi bay tơi tả.
Nỗi ấy biết cùng ai,
Cảnh nầy buồn cả dạ.
Biếng nhắp năm canh chầy,
Gà đà sớm giục giả.
(Khuyết danh)
*/ Luật Trắc vần Bằng
-1: T TT B B (v)
- 2: B B T T B (v)
- 3: B B B T T
- 4: T T T B B (v)
- 5: T T B B T
- 6: B B T T B (v)
- 7: B B B T T
- 8: T T T B B (v)
Thu Giang
Một thức nước in trời,
Đò ai chiếc lá khơi.
Non xanh cao chót vót,
Dòng nước chảy đầy vơi.
Mảng khúc Thương lang hát,
Ưa tình lữ khách chơi.
Mong cho yên sóng gió,
Qua lại mặc người đời.
(Khuyết danh)
*/ Luật Trắc vần Trắc
- 1: T T B B T (v)
- 2: B B B T T (v)
- 3: B B T T B
- 4: T T B B T (v)
- 5: T T T B B
- 6: B B B T T (v)
- 7: B B T T B
- 8: T T B B T (v)
Ngày Tết
Nhớ tưởng vào ngày Tết,
Cứ ăn cữ nói chết.
Cơm canh dọn đủ đầy,
Bánh trái chưng không hết.
Cha mẹ hân hoan nhiều,
Cháu con làm chết mệt.
Vui vầy bày cuộc chơi,
Pháo chuột nổ xì xẹt.
(Khuyết danh)
Luật trong thơ Thất ngôn bát cú (7 chữ, 8 câu)
*/ Luật Bằng Vần Bằng
-1: B B T T T B B (v)
- 2: T T B B T T B (v)
- 3: T T B B B TT
- 4: B B T T T B B (v)
- 5: B B T T B BT
- 6: T T B B T T B (v)
- 7: T T B B B TT
- 8: B B T T T B B (v)
Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ dưa vèo.
Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt.
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
(Tam Nguyên Yên Đổ - Nguyễn Khuyến)
*/ Luật Bằng Vần Trắc
- 1: B B T T B B T (v)
- 2: T T B B B T T(v)
- 3: T T B B T T B
- 4: B B T T B B T (v)
- 5: B B T T T B B
- 6: T T B B B T T (v)
- 7: T T B B T T B
- 8: B B T T B B T (v)
Ghẹo cô hàng nước
Bán hàng nay cô đã mấy tuổi,
Nước cô còn nóng hay là nguội?
Lủng lẳng trên treo dăm nắm nem,
Lơ thơ dưới móc một chuồng chuối.
Bánh rán bánh dày đều xoa mỡ,
Khoai ngứa khoai lang cũg chấm muối.
Ăn uống xong rồi tiền chưa đủ,
Biết nhau cho chịu một vài buổi.
(Nguyễn Quỳnh)
*/ Luật Trắc vần Bằng
- 1: T T B B T T B (v)
- 2: B B T T T B B (v)
- 3: B B T T B BT
- 4: T T B B T T B (v)
- 5: T T B B B TT
- 6: B B T T T B B (v)
- 7: B B T T B BT
- 8: T T B B T T B (v)
Qua đèo Ngang
Bước tới đèo ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
(Bà Huyện Thanh Quan)
*/ Luật Trắc vần Trắc
- 1: T T B B B T T (v)
- 2: B B T T B B T (v)
- 3: B B T T T B B
- 4: T T B B B T T (v)
- 5: T T B B T T B
- 6: B B T T B B T (v)
- 7: B B T T T B B
- 8: T T B B B T T (v)
Đến làng Tam Chế
Bóng ác non đoài ban xế xế,
Bỗng đâu đã tới miền Tam Chế.
Mênh mang khóm nước nhuộm màu lam,
Chận ngắt đỉnh non lồng bóng quế.
Chợ họp bên sông gẫm có chiều,
Thuyền bày trên đất xem nhiều thế.
Cảnh vật bằng đây họa có hai,
Vì dân khoan giản bên tô thuế.
(Lê Thánh Tôn)
b/ Thất luật
Một câu thơ đặt sai luật là không dựa trên khuôn mẫu quy định của luật đã nêu trên. Phải luôn tuân thủ luật bằng, trắc. Trong một câu thơ chữ nào đáng đặt tiếng bằng mà đặt tiếng trắc, hoặc ngược lại, đáng đặt tiếng trắc mà đặt tiếng bằng thì gọi là thất luật, không được.
c/ Bất luận và khổ độc
*/ Bất luận: Cứ như theo đúng những khuôn mẫu quy định của luật bằng trắc thì rất khó làm nên có lệ bất luận, nghĩa là trong câu thơ có một vài chữ không cần phải đúng luật.
Như:
-Trong bài thơ ngũ ngôn thì chữ thứ nhất, thứ ba (1,3) không cần đúng luật tức "nhất, tam"bất luận
-Trong bài thơ thất ngôn thì chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm (1,3,5) không cần đúng luật, tức là "nhất, tam, ngũ"bất luận.
Thí dụ:
- Bất luận trong bài thơ ngũ ngôn "Luật Bằng vần Bằng"
-1: BBTT B (v)
- 2: TTTB B (v)
- 3: TTBB T
- 4: BBTT B (v)
- 5: BBBT T
- 6: TTTB B (v)
- 7: TTBB T
- 8: BBTT B (v)
- Bất luận trong bài thơ thất ngôn bát cú "Luật Bằng Vần Bằng"
-1: BBTT TB B (v)
- 2: TTBB TT B (v)
- 3: TTBB BTT
- 4: BBTT TB B (v)
- 5: BBTT BBT
- 6: TTBB TT B (v)
- 7: TTBB BTT
- 8: BBTT TB B (v)
*/ Khổ độc: Những chữ có thể thay đổi theo lệ bất luận trong câu thơ, chữ đáng trắc đổi thành bằng thì bao giờ cũng được, ngược lại chữ đáng bằng mà đổi thành trắc, trong vài trường hợp không được vì sự thay đổi ấy trở nên khó đọc nên gọi là khổ độc.
Như:
-Trong bài thơ ngũ ngôn, chữ thứ nhất các câu chẵn, và chữ thứ ba của tất cả các câu lẻ, đáng bằng mà đổi ra trắc là khổ độc (1 chẵn, 3 lẻ).
-Trong bài thơ thất ngôn, chữ thứ ba của các câu chẵn, và chữ thứ năm của các câu lẻ, đáng bằng mà đổi ra trắc là khổ độc (3 chẵn, 5 lẻ).
Thí dụ:
- Khổ độc trong bài thơ ngũ ngôn "Luật Bằng vần Bằng"
-1: B B T T B (v)
- 2: T T T B B (v)
- 3: T T BB T
- 4: BB T T B (v)
- 5: B B BT T
- 6: T T T B B (v)
- 7: T T BB T
- 8: BB T T B (v)
- Khổ độc trong bài thơ thất ngôn bát cú "Luật Bằng Vần Bằng"
-1: B B T T T B B (v)
- 2: T T BB T T B (v)
- 3: T T B B BTT
- 4: B B T T T B B (v)
- 5: B B T T BBT
- 6: T T BB T T B (v)
- 7: T T B B BTT
- 8: B B T T T B B (v)
4- Niêm
Niêm nghĩa đen là dính với nhau, là sự liên lạc về âm luật của hai câu thơ trong bài thơ Đường luật.
a/Hai câu thơ niêm với nhau
- Khi chữ thứ hai của hai câu cùng theo một luật, hoặc là cùng bằng, hoặc là cùng trắc, nghĩa là bằng niêm với bằng, trắcniêm với trắc theo từng cặp đôi "nhất bát, nhị tam, tứ ngũ, lục thất" tức những câu (1,8), (2,3), (4,5), (6,7).
Thí dụ:
Niêm của bài thơ thất ngôn bát cú "luật bằng vần bằng". (Để ý đến vần bằng trắc của chữ thứ hai trong hai câu niêm với nhau).
-1: B B T T T B B (v)
- 2: T T B B T T B (v)
- 3: T T B B B T T
- 4: B B T T T B B (v)
- 5: B B T T B B T
- 6: T T B B T T B (v)
- 7: T T B B B T T
- 8: B B T T T B B (v)
Câu 1 niêm với câu 8
Câu 2 niêm với câu 3
Câu 4 niêm với câu 5
Câu 6 niêm với câu 7
Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt.
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
(Tam Nguyên Yên Đỗ - Nguyễn Khuyến)
Cái chổi
Lời chúa vâng truyền xuống ngọc giai,
Cho làm lệnh tướng quét trần ai.
Một tay vùng vẫy trời tung gió,
Một cõi tung hoành đất sạch gai.
Ngày vắng, rủ mây cung bắc-Hán,
Đêm thanh, tựa nguyệt chốn lâu đài.
Ôm lòng gốc rễ, lâu càng dãi.
Mòn mỏi lâu còn một cái đai.
(Lê Thánh Tôn)
b/Thất niêm: Bài thơ không theo đúng niên luật thì gọi là thất niêm, không được
5- Bố cục
Một bài thơ bát cú gồm bốn phần: Đề, thực, luận và kết.
*/ Đề gồm 2 câu gọi là phá thừa
-Câu 1, gọi là phá đề, nói rõ cái đề tài để người đọc hiểu ngay mình muốn nói về cái gì
- Câu 2, gọi là thừa đề, nối ý câu phá để nói cho rõ thêm ý của câu phá đề
*/ Thực gồm 2 câu gọi là cặp trạng
- Hai câu 3 và 4 giải thích đầu bài cho rõ ràng thêm ra.
- Câu sau phải đối với câu trước
*/ Luậngồm 2 câu gọi là cặp luận
- Hai câu 5 và 6 bàn luận rộng ra, hoặc khen, chê, so sánh ... và có thể dùng điển cố để giải thích, biện luận cho hết ý của đầu bài.
- Câu sau phải đối với câu trước
*/ Kết gồm 2 câu gọi là thúc kết
- Hai câu 7 và 8 tóm tắt hết ý nghĩa của bài thơ. Có khi còn khuyên, trách, mừng giận, hỏi . . .
Cấu trúc của bài thơ Đường như ở trên được tóm tắt trong bài thơ sau:
Câu đầu nói trổng việc gần xa,
Câu thứ đề bài phải chỉ ra.
Trạng kể căn do cho đích xác,
Đối khai thượng hạ chớ sai ngoa.
Luận bàn mọi thứ thêm minh bạch,
Trên dưới hai câu cũng xứng hòa.
Sau kết vài lời cho hợp ý,
Nên bài phong hóa dạy người ta.
(Hồ Ngọc Cẩn)
Thí dụ:
Đề miếu bà Trương
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vừng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
(Lê Thánh Tông)
[TÓM LƯỢC những thành phần trong bài thơ Đường (thất ngôn bát cú)
*/ Luật vềVần
-Trong một bài thơ thất ngôn bát cú, vần, thường là vần bằng, ít khi dùng vần trắc, được gieo ở cuối câu đầu và cuối những câu chẵn, tức là những câu 1, 2, 4, 6, 8. Suốt bài thơ chỉ gieo một vần gọi là độc vận, gieo vào cuối câu gọi là cước vận.
*/ Luật về Đối
Hai cặp câu 3,4 và 5, 6 bắt buộc phải đối với nhau
*/ Luật bằng, trắc
Trong thơ Đường luật, có luật bằng và luật trắc
-Hễ chữ thứ hai trong câu thơđầu tiên là thanh (tiếng) bằng thì bài thơ theo luật bằng
-Hễ chữ thứ hai trong câu thơđầu tiênlà thanh (tiếng) trắc thì bài thơ theo luật trắc
Bài thơ dù theo luật bằng hay luật trắc gồm hai quy định:
Quy định hàng ngang gọi là Luật:
-Những chữ 1,3,5 được tự do (nhất, tam, ngũ bất luận, những chữ bất luận
đáng là bằng mà đổi thành trắc gọi là khổ độc vì khó đọc)
-Những chữ 2,4,6 phải đúng theo luật (nhị, tứ, lục phân minh) không được đổi.
Quy định hàng dọc gọi là Niêm
-Bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc
-Niêm, theo chữ thứ hai trong mỗi câu, và theo từng cặp (1,8),(2,3),(4.5),(6,7)
Sai về Luật gọi là thất luật. Sai về Niêm gọi là thất niêm. Cả hai đều không được.
*/ Bố cục hay cấu trúc
Một bài thơ bát cú gồm bốn phần, mỗi phần hai câu: Đề, thực, luận và kết]
6- Thơ tứ tuyệthay tuyệt cú
Là loại thơ có 4 câu.
a/ Thơ tứ tuyệt (tuyệt cú) ngắt ra từ thơ bát cú
Đây là thơ bốn câu, tứ là bốn, tuyệt là đứt hay ngắt. Lối thơ này gọi là tứ tuyệt vì nó được ngắt ra từng bốn câu thơ lấy từ bài thơ bát cú Đường luật.
Có nhiều cách ngắt để trở thành những bài thơ tứ tuyệt.
- Ngắt ra 4 câu đầu (câu 1,2,3,4), gồm 2 câu đầu không đối và hai câu cuối có đối, gọi là khai thừa song hợp. Tương tự với hai cặp câu (1,2 và 5,6).
- Ngắt ra 4 câu cuối (câu 5,6,7,8), gồm 2 câu đầu có đối và 2 câu cuối không đối, gọi là song khai chuyển hợp.
- Ngắt ra 4 câu giữa (câu 3,4,5,6), gồm hai câu đầu có đối và hai câu cuối cũng có đối nhau, gọi là song khai song hợp.
- Ngắt ra lấy hai câu đầu và hai câu cuối (câu 1,2,7,8), gồm hai câu đầu và hai câu cuối, đều không có đối, gọi là tuyền thủ thuận lưu.
Thí dụ:
-Khai thừa song hợp (bốn câu đầu) hoặc (hai câu đầu và hai câu 5,6)
Dệt vải
Thấy dân rét mướt nghĩ mà thương,
Vậy phải lên ngôi gỡ mối giường.
Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt, (đối)
Gót vàng giậm đạp máy âm dương. (đối)
(Lê Thánh Tông)
-Song khai chuyển hợp(bốn câu chót)
Tặng sách
Chung Tử gò Nam còn thấy mặt,(đối)
Bá Nha đàn Việt phải ra tay. (đối)
Còn non còn nước còn tương ngộ,
Tích cổ duy kim mới rỡ mày.
(Diên Hương)
- Song khai song hợp (hai câu giữa)
Tự cảm
Gió đưa dương liễu cành cành nguyệt, (đối)
Cụm tỏa ngô đồng lá lá sương. (đối)
Thuyền mọn năm canh người Bãi Hán, (đối)
Địch dài một tiếng khách Tầm Dương.(đối)
(Phan Thanh Giản)
- Tuyền thủ thuận lưu (hai câu đầu và hai câu cuối cùng-không đối)
Cái pháo
Xác không, vốn những cậy tay người,
Bao nả công trình, tạch cái thôi.
Kêu lắm, lại càng tan tác lắm,
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.
(Nguyễn Hữu Chỉnh)
Xét ra thì dùng dạng nào thì cũng lấy từ thơ bát cú mà ngắt ra nên thơ tứ cú gọi là tuyệt cú hay tứ tuyệt.
b/ Bố cục hay cấu trúc, tương tự như thơ bát cú
- Câu đầu, gọi là câu đề, để nói rõ đầu đề.
- Câu thứ nhì, gọi là câu thực, miêu tả cụ thể.
- Câu thứ ba, gọi là câu luận, để bàn rộng hoặc khen chê.
- Câu thú tư, gọi là câu kết, để tóm tắt ý nghĩa của bài thơ.
7- Biến thể của thơ Đường
Có rất nhiều loại biến thể trong thơ Đường
- Phá lục: câu đầu 6 chữ, những câu sau 7 chữ như thường lệ
- Yết hậu: ba câu đầu đủ chữ, câu cuối cùng chỉ có một chữ "vận" (vần) mà thôi
- Thủ vĩ ngâm: Câu đầu và câu cuối giống nhau
- Thủ vĩ liên hoàn: câu "kết" (thúc kết) của bài 1 làm câu "phá" (phá đề) của bài 2; câu kết của bài 2 làm câu phá đề của bài 3; và tuần tự như thế cho đến hết thì lấy câu phá của bài 1 làm câu kết của bài chót.
Và còn nhiều loại biến thể khác nữa.
Thí dụ:bài thơ biến thể loại "Yết hậu"
- Anh nhè
Sống ở nhân gian đánh chén nhè,
Thác về âm phủ cắp kè kè.
Diêm vương mới hỏi: "mang gì đấy?"
Be!
- Giữa ban ngày sãi ghẹo vãi
Sãi ghẹo vãi:
Chùa vắng có ai mà!
Yêu nhau chút gọi là,
Rủ nhau ra hậu uyển,
ta …
Vãi mắng:
Lẳng lơ cái mặt như …
Cóc nhái cũng chẳng từ,
Tu hành đâu có thế!
hư!
Tiểu tăng dọa:
Hôm qua có chuyện hay,
Thầy ghẹo vãi ban ngày!
Bổn đồ không ai biết,
may!
Sãi van:
Chú tiểu thật là ngoan,
Chuyện thấy chớ nói càn!
Đêm rằm cho ăn oản,
van!
(Tác giả (?))
Thí dụ: bài thơ biến thể loại "Thủ vĩ ngâm"
- Khóc ông Phủ Vĩnh Tường
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
Cái nợ ba sinh đã trả rồi.
Chôn chặt văn chương ba tấc đất,
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời.
Cán cân tạo hóa rơi đâu mất?
Miệng túi càn khôn thắt lại rồi.
Hăm bảy tháng trời đâu mấy chốc,
Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!
(Hồ Xuân Hương)
II- THƠ CỔ PHONG
Thể thơ này có trước thơ Đường chỉ cần có vần, không cần đối, không cần theo niêm luật bằng trắc chặt chẽ, miễn sao đọc cho êm tai là được. Từ thời nhà Đường về sau vẫn được dùng, không theo Đường luật, hoặc nếu có thì chỉ một số câu theo luật mà thôi.
1/ Số chữ
Lối này chỉ có số chữ trong câu là nhất định, hoặc ngũ ngôn (5 chữ) hoặc thất ngôn (7 chữ); ngoài ra, không phải theo thể lệ chặt chẽ như lối Đường luật, nghĩa là không có niêm, luật, không phải đối (một câu đôi khi có đối là tùy theo người làm thơ chứ không bắt buộc).
2/Số câu
Không hạn chế số câu: cứ từ bốn câu trở lên, muốn làm dài ngắn bao nhiêu cũng được. Các thi gia cũng thường hay làm một bài 4 câu (tứ tuyệt) hoặc 8 câu (bát cú), nhưng cũng có bài làm 6 câu hoặc 12 câu.
Những bài thất ngôn nào dài quá 8 câu, và ngũ ngôn dài quá 16 câu gọi là trường thiên hoặc hành.
3/ Cách gieo vần
- Hoặc có thể cả bài dùng nguyên một vần tức độc vận (như lối thơ Đường)
- Hoặc dùng nhiều vần tức liên vận. Khi dùng liên vận thì:
- hoặc mỗi hai câu mỗi đổi vần tức mỗi cuối câu mỗi hạ vần,
- hoặc mỗi bốn câu đổi dùng một vần như lối thơ tứ tuyệt. Mỗi khi đổi
vần, câu thứ nhất hoặc có gieo vần hoặc không gieo vần cũng được
Thể thơ cổ phong đã dùng trong thi cử thời nhà Lý. Thời nhà Trần cũng vậy, trong kỳ thi có bài "ngũ ngôn trường thiên". Ngũ ngôn trường thiên cũng được ra thi ở những khoa Đông các thời Hậu Lê.
Thí dụ:
*/ Ngũ ngôn cổ phong
- Ngũ ngôn tứ tuyệtđộc vận
Qui tiều
Rừng lau gió xao xác,
Chim hôm bay lác đác.
Gánh củi lững thững về,
Đường quen không sợ lạc.
(Bùi Ưu Thiên)
- Ngũ ngôn tứ tuyệt liên vận (cứ 4 câu đổi một vần)
Điền gia lạc (vui cảnh làm ruộng)
Năm ngoái ruộng được mùa,
Nhà ta bốn cót thóc.
Ăn tiêu hãy còn thừa,
Bán cho con đi học.
Năm nay trời hạn hán,
Mười phần thu được ba.
Ăn tiêu đang lo thiếu,
May ra được mùa cà.
Con học không có tiền,
Cha phải đi vay nợ.
Nhà nghèo con học được,
Còn hơn tiền chôn lỗ.
(Bùi Ưu Thiên)
- Ngũ ngôn bát cú
Đêm mùa hạ
Tháng tư đầu mùa hạ,
Tiết trời thật oi ả!
Tiếng dế kêu thiết tha,
Dàn muỗi bay lả tả.
Nỗi ấy biết cùng ai?
Cảnh này buồn cả dạ!
Biếng nhắp năm canh chày,
Gà đã sớm dục dã
(Nguyễn Khuyến)
*/ Thất ngôn cổ phong
- Thất ngôn độc vận
Tửu hữu (6 câu)
Hôm qua có bạn, rượu lại hết,
Hôm nay có rượu, bạn không biết.
Cất đi đợi bạn đến lúc nào,
Cùng uống cùng vui trời đất tít.
Khi say quên cả ta là ta,
Còn hơn lúc tỉnh nhớ mà mệt.
(Bùi Ưu Thiên)
- Thất ngôn liên vận (10 câu)
Cảnh tạo hóa
Đá xanh như nhuộm, nước như lọc,
Cỏ cây hoa lá dệt như vóc.
Trời quang mây tạnh gió đìu hiu,
Ai thấy cảnh này mà chẳng yêu.
Mới biết hóa công tay không vẽ,
Không mực không thuốc mà đủ vẻ.
Tay người điểm xuyết ra nước non,
Bể cạn non bộ nhỏ con con.
Sao bằng tiêu dao cùng tạo hóa.
Bốn mùa phong cảnh thật không giá.
(Vô danh)
PHÚ
- Phú là loại văn học cổ điển của Trung Hoa có từ đời nhà Hán, du nhập vào nước ta từ đời nhà Đường, được dùng trong thi cử từ thời nhà Lý và được đặt trong vị trí rất cao.
- Phú thuộc thể loại "bán thi bán văn" tức nửa thơ nửa văn, mang tính lưỡng thể trong văn chương cổ và được phát triển song hành cùng với các thể thơ và văn khác.
- Phú có nguồn gốc từ cổ thi và cổ văn, thiên về trữ tình, triết lý, nghị luận dựa trên ngôn từ có vần và nhịp điệu.
Bao gồm những điểmđặc biệt:
- Trước hết phú là tổng hợp cả vần (vận), đối (biền văn), và tản văn (văn xuôi không vần không đối).
- Về phong cách và thủ pháp, phú mang tính cách khoa trương, phô bày cái vẻ đẹp của sự vật, sự việc và chí khí. Chính sự khoa trương ấy đã làm nên vẻ đẹp của thể phú. Và, người làm bài văn phú có thể vận dụng được tối đa tri thức, điển cố để cho nội dung triết lý, nghị luận trở nên vững chãi, rõ ràng và thuyết phục cao; làm cho ý tưởng tương đồng hay tương phản có lý lẽ thêm sắc bén trong nghị luận, tình cảm thêm sâu đậm trong tình cảm.
- Nhằm tăng tính cách trữ tình, bài phú có thể chen vào những bài thơ ngắn gọi là "ca", cách gọi này để phân biệt thể phú và thơ.
- Một nét đặc biệt của phú là dùng những bài học lịch sử, thể nghiệm kim cổ đặt vào đoạn cuối bài nhằm để khuyên răn, đề bạt hay thỉnh nguyệt, dãi bày.
- Phú là thể loại văn chương thích hợp nhất để thể hiện thực tài và có khả năng thẩm định giá trị của những bậc đại tài. Như trường hợp Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi trong đời vua Trần Anh Tông. Trong khoa thi Thái Học Sinh năm 1304, do vì dáng người bé nhỏ và xấu xí nên vua không vừa lòng, không muốn bổ quan chức trong triều, Mạc Đĩnh Chi biết ý nên làm bài phú "Ngọc tỉnh liên phú" (Hoa sen trong giếng ngọc) để tự ví mình dâng lên vua, được vua khen, thấy ông có thực tài nên phong chức tước.
XIN ĐỌC VÀI BÀI PHÚ TRONG PHỤ LỤC "B
chimvie3.free.fr
Sơ lược thi cử ngày xưa - Nguyễn Giụ Hùng - Chim Việt Cành Nam