Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Hồng Thập Tự QT 67-75... L.H.Thăng- Trần K. Đoàn

RED CROSS

VANG BÓNG MỘT THỜI
PHÂN BỘ HỒNG THẬP TỰ QUẢNG TRỊ
(1967  -  1975)

Như một nén hương,tưởng nhớ đến quý anh:Tôn Thất Hoán, Hoàng Phụng, Ngô đa Mỹ, Lê văn Ngạc, Lê văn Mãn, Lê Hữu Nam, Phan Phụng Thạch, Trần Văn Lữ,  Phan Văn Cẩn, Lê Lợi…và một số các em thanh niên HTT/QT đã một thời cống hiến công sức  và tinh thần nhân ái để chia sẻ ngọt bùi với bà con Quảng trị”
Tổ chức Hồng Thập Tự Quốc tế (International  Red Cross) là một tổ chức nhân đạo, bất vụ lợi, phi chính trị  và với tinh thần tự nguyện.Người sáng lập Hội là Ông HENRY DUNANT. Sau khi chứng kiến những nổi đau đớn, khốn khổ, tuyệt vọng..của các thương, bệnh binh trên các chiến trường Âu châu trong Đệ I Thế chiến. Ông đã vận động cùng một số người và can thiệp đôi bên để được phép di tản các thương,bệnh binh về hậu phưong điều trị. Từ tinh thần và quan điểm nhân đạo đó, một buổi Đại hội đươc tổ chức tại Genève để thống nhất của tổ chức và danh nghĩa HỒNG THẬP TỰ QUỐC TẾ (International Red Cross) được ra đời.
Qua thời gian,tinh thần nhân đạo đươc phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới và hiện nay tất cả các nước  đều có tổ chức Hội Hồng thập tự quốc gia .Về hoạt động, không những nhu cầu của hậu quả chiến tranh mà Hội rất tích cực, kịp thời trong các nạn nhân của thiên tai, bão lụt, động đất, các bệnh dịch…
Hội Hồng thập tự của Việt Nam được thành lập năm 1946, do sắc lệnh của Quốc trưởng Bảo Đại; trụ sở đặt tại 210 đường Hồng thập tự ,Sàigon và lần lượt, tất cả các tỉnh, thành phố Việt Nam đều có tổ chức HTT, với danh xưng Phân bộ Hồng thập tự  của tỉnh.

I.-SỰ THÀNH LẬP PHÂN BỘ HTT/QUẢNG TRỊ:
      Tháng 6 năm 1967,một Phái đoàn của Ban chấp hành Hội HTT/Nam Việt Nam gồm có Dược sĩ La thành Trung (Chủ tịch Hội), Dược sĩ Đặng Trần Lợi (Tổng thư ký Hội), Ông Phan quang Trữ (Đại diện Hội tại Vùng I) đến thăm Quảng Trị và có buổi tiếp xúc,mạn đàm với quý vị: Bác sĩ Lê bá Tung (Giám đốc Bệnh viện Quảngtri), Dược sĩ Tôn thất Hoán (Hiệu trưởng Trường Trung học Bồ đề Quảng Trị),Anh Ngô đa Mỹ (thương gia Mỹ Phát), anh Lê Hữu Thăng (giáo viên trường Trung học Nguyễn Hoàng) và đề nghị địa phương thành lập Phân bộ HTT để đảm trách chương trình cứu trợ đươc hữu hiệu và  kịp thời hơn, nhất là Quảng Trị thường xuyên bị bão lụt triền miên, cùng với cường độ chiến tranh càng ngày càng ác liệt, dân chúng bị chết, bị thương, nhà cháy, ruộng vườn tan nát, rồi nhiều  nơi phải lìa bỏ thôn làng, di tản, lánh nạn…(Những năm về trước, mỗi lần có thiên tai, thì phái đoàn Trung Ương mang thực phẩm, ngân khoản…đến Quảng Trị phối hợp với nhóm thiện nguyện tại địa phương để cứu trợ).
       Tháng 12 năm 1967,một buổi đại hội đươc tổ chúc để thành lập Hội và Ban chấp hành Phân bộ HTT/QT , nhiệm kỳ 2 năm với thành phần như sau:
       - Chủ tịch Phân bộ:  Bác sĩ Lê Bá Tung (1)
       - Phó Chủ tich  1   :   Dược sĩ Tôn thất Hoán
       - Phó  Chủ tịch 2   :   Ông Hoàng Phụng
       - Tổng thư ký        :   Ông Lê Hữu Thăng
       - Thủ quỹ             :    Ông Ngô Đa Mỹ
       Và các Ban:
      
**BAN KẾ HOẠCH & CỨU TRỢ: Các Ông Lê văn Quýt, Hồ ngọc Thanh, Lê Hữu Nam, Lê Văn Mãn, Phan Văn Cẩn (giáoviên/ Trường Nguyễn Hoàng), Trần Đạo Đông (gv/Trường Triệu phong), Soeur Nguyễn Thị Niềm (Hiệu trưởngTrường TH Phước môn), Lê Lợi (gv/PMôn).
**BAN BÁO CHÍ:-  Các Ông Phan phụng Thạch, Trần Dạ Thảo, Hồ Thế Vĩnh, Trần văn Lữ (gv/NH)..Họa sĩ Phạm văn Hạng hằng năm phát hành Đặc san ĐAN TAY để phổ biến tin tức, sinh hoạt của Hội và quảng bá tinh thần nhân đạo đến với bà con Quảng trị.

Để hổ trợ  sinh hoạt và công tác cứu trợ của Hội, bên cạnh Ban chấp hành, có PHÂN ĐOÀN THANH NIÊN HTT/QT, một tổ chức gồm nam,nữ thanh niên thiện nguyện.
      - Phân đoàn trưởng : Anh Lý Văn Nghiên (gv/NH)(2)
      - Phân đoàn phó      : Anh Lê Văn Mãn     (gv/NH)
Cùng các Thầy,Cô trong Ban hướng dẫngồm có:Hồ Thế Vĩnh(gv/NH), Phan Ngọc Lan (gv/NH), Bùi Ngọc Lan (gv/NH), Võ thị Hồng (gv/NH), Nguyễn thị Đặng (Cán sự Y tế, Bệnh viện QT)….và hơn 100 em, nam, nữ thanh niên, đa số là các em học sinh của các trường trung học:Nguyễn Hoàng,Thánh Tâm, Bồ Đề, Phước môn…với các Trưởng toán như: Lê Bân, Nguyễn Cảnh, Nguyễn Sắt, Phan Du, Nguyễn Thiện, Nguyễn Quát, Tống Thị Huê, Lê Thị Mỹ Liên, Thanh, Hoa….và còn nhiều lắm không có điều kiện để kê hết. Nhưng thỉnh thoảng có dịp gặp nhau ở  Quảng Tri, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và cả Cali, Houston.
II.-HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI QUA CÁC GIAI ĐOẠN:
   
 1.-GIÚP NẠN NHÂN  BÃO LỤT.-
Những biến cố chiến tranh dồn dập cùng với những trận bão lụt của những năm 68,69,70…các thiện nguyện viên của HTT/QT đã hoạt động tích cực với sự hỗ trợ phương tiện,ngân khỏan của Trung Ương. Bác sĩ Lê Bá Tung có một phòng mạch, nhiều ngày cuối tuần cũng đóng cửa để đi cứu trợ với Hội. Dược sĩ Tôn Thất Hoán, anh Ngô Đa Mỹ rất bận rộn với thương trừơng, nhưng luôn luôn có mặt cùng anh em,tại những điểm nóng bỏng và kịp thời như tại thôn Hà Lỗ, Câu Nhi phường (Hải Lăng), Gia Đẳng, Hà tây (Triệu Phong), Mai Đàn, Cùa (Cam lộ)… sau những lần giao tranh, nhà cháy, người chết…nhiều lần anh Hoán, anh Mỹ  xuất tiền riêng của mình để cứu trợ cho nhanh chóng ,đáp ứng nhu cầu cấp thời của bà con nạn nhân.
         Năm 1970, Quảng Tri chịu một trận lũ lụt lớn, 2 quận Triệu Phong và Hải Lăng chìm trong biển nước, nhất là quận Hải Lăng,nhiều làng, xã..nước ngập đến mái nhà, nhiều gia đình phải di tản đến các gò cao, cồn mả…tránh lụt. .Anh Ngô đa Mỹ, vận động được 10 chiếc trực thăng của quân đội đương thời ở căn cứ Ái Tử để vận chuyển thực phẩm:Bánh mì, mì gói …cơm vắt đến các nơi bà con lánh nạn. Điểm tập trung và xuất phát là sân bay tại căn cứ quân sự La Vang; .Hơn một trăm thanh niên HTT và các chị em thương  gia cùng phối hợp với sự hỗ trợ của các binh lính tại căn cứ này, mượn các phương tiện như song, chảo để nấu cơm người vào bếp, người vắt cơm vào túi nylon….và chia  thành 10 toán theo máy bay đi cứu trợ  trong hai ngày liên tiếp.Trong tinh thần”lá lành đùm lá rách”, anh chi em đều vui vẻ và hăng say trong công việc,thể hiện tinh thần tương thân, tương ái của bà con Quảng Trị trong những năm kham khổ  bởi thiên tai và chiến tranh.

  2.-CỨU GIÚP NẠN NHÂN CHIẾN TRANH:
      Cuộc chiến Nam Lào là một trận chiến đẫm máu mà đôi bên đều tung ra những đại đơn vị thiện chiến và những trận đánh với sự  phối hợp với chiến xa, pháo binh…quần thảo nhau, tập kích, công đồn, cận chiến…và rồi, mỗi bên đều có những thiệt hại lớn lao, khốc liệt chưa từng có, thương binh của nhiều đơn vị cả hai phía cộng thêm một số dân thượng các vùng đai chiến sự không di tản được, khắc khoải chờ chết trên chiến địa, trong rừng sâu, bờ suối…,chết trong đau đớn qua từng ngày vì vết thương không ai băng bó,chết vì đói, vì khát…..
       Bệnh viện dân sự Quảng Tri được tăng cường  thêm về phía Quân y cùng phối hợp cấp cứu ở giai đoạn 1. Hằng ngày có hằng trăm người bị thương được chuyển về đây ngổn ngang đầy cả máu me .Hàng trăm thiện nguyện viên HTT Quảng Trị cùng sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm trên đường phố Trần Hưng Đạo, đường Quang Trung, các chị em tiểu thương tại ch Quảng Trị … tất cả rất sốt sắng, chia ra những bộ phận như: chuyển thương  từ trên xe xuống, phân loại nặng (đầu,tim,phổi...), trung bình: gãy chân, gãy tay, nhẹ như xây xát, bị thương ngoài da...,đến các trạm, bộ phận y tế chuyên môn..Những nồi cơm, nồi cháo, nồi sữa, tô mì gói,…đươc các chị lo lắng và mang đến cấp dưỡng cho các nạn nhận cùng những  vật dụng cần thiết: dép, khăn mặt, bàn chải, kem đánh răng, xà phòng. Nhóm thanh niên  HTT, các em vừa đi học, xuống lớp là đến bệnh viện, tất bật, vất vã..áo quần vương vải máu me, thu gom, vệ sinh kể cả nhưng cánh tay, ống chân sau khi giải phẩu, phải rời thân thể.
Mọi người đều làm  việc liên tục 24/24,chia ca để nghỉ ngơi vài giờ cho mỗi ngày, riêng các Bác sĩ và chuyên viên giải phẩu thì quần quật , tất bật…may ra được 5,10 phút để gặm ổ bánh mì. Trong các lều vải, băng ca dọc  các hành lang bệnh viện trải dài là những bàn giải phẩu, thế mà vẫn không đáp ứng được nhu cầu cần trợ giúp cấp cứu và cứu thương...
      Bác sĩ Lê Bá Dũng, trứơc đây  là một sinh viên y khoa xuất sắc, những ngày hôm nay, bàn tay “mát” và tay nghề của anh đã cứu không biết bao nhiêu sinh mạng và anh đã đem hết  nhiệt tình, lương tâm, trách nhiệm với  những nạn nhân đang cần được cứu thương trong thời gian này.
      "Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ", bà con thành phố Quảng Trị, không ai gọi ai, không có vận động hay kêu gọi…nhưng trước tình huống tang thương đó, bà con đã tự nguyện tiếp sức với bệnh viện không mệt mỏi, và cũng không biết từ nguồn nhân ái nào, mỗi ngày chúng tôi tiếp nhận hàng trăm lon sữa, cam, đường, vật dụng…để bồi dưỡng cấp thời cho người đang được cứu thương
       Không biết bao nhiêu người đã tự nguyện ,cũng không biết bao nhiêu lòng hảo tâm, của cải và vật chất, những sự việc đã nói lên tình cảm, nghĩa tương thân của bà con Quảng Trị thật nồng nàn, tuyệt vời. Bà con,anh chị em làm việc trong âm thầm, không khoe trương, kể cả những mạnh thường quân mang quà, hiện kim đến tặng, khiêm tốn với hai chữ ẩn danh. Làm sao chúng ta quên được những tấm lòng vàng, những con người nhân đức, vị tha…để bà con,người dân Quảng Trị được chan hòa trong niềm vui, nổi khổ với nhau.
3.-PHÂN BỘ HTT/QT VỚI CHƯƠNG TRÌNH DI TẢN CHIẾN SỰ VÀ  HỒI CƯ:
a) DI TẢN:
   Hội đươc thành lập cũng là giai đoạn quận Trung Lương và một phần quận Gio Linh đươc phải đi di tản, bà con  được tạm cư tại quận Cam Lộ và một phần đươc di tản vào Nam (Suối nghệ, Bà Rịa) Nên Hội phải khẩn trương bắt tay vào tiếp nhận hàng để cứu trợ tức thì giúp bà con sớm được ổn định cuộc sống tại nơi đang sơ tán.
b) HỒI CƯ
Sau  cuộc chiến 1972, nhân sự của BCH/Phân bộ HTT/QT phân tán định cư mỗi người mỗi nơi, người Đà Nẵng, Huế, Bình Tuy, anh Ngô đa Mỹ, anh Tôn Thất Hoán di chuyển vào Sài gòn. Riêng tôi,tháng 6-1972 đươc BCH/Trung Ương đề cử giữ chức vụ Đại diện HTT/tại Vùng I; do đó,Phân bộ HTT/QT tạm ngưng hoạt động, chỉ còn lại sinh hoạt của Phân đoàn Thanh niên do anh Trần kiêm Đoàn, anh Lê văn Mãn phụ trách.
Lúc bấy giờ, thế giới cùng đặt vấn đề cho một Việt Nam sau khi hiệp ước Paris được ký kết và khắc phục hậu quả của cuộc chiến. Về tổ chức HTT/Quốc tế, đã cử ngay một phái bộ đến Sài gòn và phân bổ đến các Vùng ,riêng tại Vùng I có một toán, 8 thành viên HTT/Quốc tế làm việc với tôi, trong đó có 3 người Thụy điển, 1 Pháp, 2 Thụy sĩ, 2 Na uy. Phái bộ HTT/QT yêu cầu trong khoảng 2 tháng, đi thăm và tìm hiểu tất cả các quận, một số xã tiêu biểu của 5 tỉnh thuộc Vùng I (Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi) để soạn thảo một dự án với các giai đoạn: cứu trợ cấp thời, y tế  và tiếp theo là phát triển kinh tế hậu chiến.
Chúng tôi đã hoàn tất một bản dự thảo khá chu đáo.Trong đó đặc biệt dành cho các quận cón có dân tạm cư chưa về quê cũ như : Ba Tơ, Minh Long (Quảng Ngãi);Tiên Phước(Quảng Tín),Hiếu Đức,Thượng Đức (Quảng nam); và Quảng Trị thì đất sãn xuất nông nghiệp không đủ cho dân hồi cư, vì đất ruộng bị hoang hóa trong thời gian chiến sự  xảy ra và một số lập vùng phi quân sự  tạm thời  ở đôi bờ sông Thạch Hãn …
Tháng 01-1974, Anh Tôn Thất Nam nhận nhiệm vụ Chủ tịch Phân bộ và anh Lê văn Mãn chức vụ Tổng thư ký. Phân đoàn Thanh niên do anh Trần kiêm Đoàn phụ trách. Giữa bối cảnh khó khăn, nguy hiểm như thế, sự dấn thân của các anh và các em thanh niên HTT là một thiện chí lớn cho bà con Quảng Trị. Chúng tôi đã vận động 3 phân bộ HTT: Đà Nẵng, Huế và Quảng Trị thay phiên công tác cứu trợ cho Quảng Trị và 3 Phân đoàn thanh niên hơn 300 em đã luân phiên cắm trại trong một tháng tại Trạm y tế xã Hải Chánh (Mỹ Chánh)- quận Hải Lăng để thực hiện chương trình.
Phân bộ cũng đã vận động và xây dựng tại làng Câu Nhi (Hải Lăng) một trạm xá, một trường học và Mỹ Chánh cũng một trạm xá, một trường học (hiện nay, những cơ sở này vẫn còn hoạt động).
Hơn 30 năm qua rồi,bối cảnh xã hội đã thay đổi khá nhiều, hôm nay có người đã ra đi vĩnh viễn. Những người còn lại, ôm ấp những kỷ niệm, những hình bóng trân trọng, thân thương và những giá trị tinh thần tuyệt vời. Giữa cuộc sống nghèo khó và chiến tranh cận kề từng ngày, người Quảng Trị vẫn có nếp sống hào phóng, nhân ái, địa linh cho chúng ta cái tinh thần cao quý ấy. 
Colorado.11-05-2010
 Lê Hữu Thăng 
                                                                                                                                                               
1.-Chủ tịch Phân bộ HTT/Quảng Trị:
Bác sĩ Lê Bá Tung           (1967-1969)
Dược sĩ Tôn Thất Hoán  (1969-1970)
Ông Ngô Đa Mỹ              (1970-1972)
Ông Tôn Thất Nam          (1973-1975)                                 
2.-Phân đoàn trưởng Thanh niên HTT/QT;                      
Anh Lý Văn Nghiên   (1967-1969)
Anh Hồ Thế Vĩnh      (1970-1972)                                    
Anh Lê Văn Mãn        (1972-1973)
Anh Trần Kiêm Đoàn  (1973-1975)

 HỒI CƯ 
Trần Kiêm Đoàn 
 ( Trích một đoạn bài viết "Hồi cư"  của thầy Trần kiêm Đoàn về hoạt HTT Quảng Trị   73-75 tại Thĩ Tứ Hải Lăng)
  ........................
Cơ hội tôi được gần gũi với tuổi trẻ Quảng Trị nhiều hơn là qua thực tế những tháng ngày làm công tác xã hội trong sinh họat Hồng Thập Tự


Đoàn Thanh niên Hồng Thập Tự Quảng Trị do tôi tổ chức, thành lập vào mùa Hè năm 1973 với sự khuyến khích và hỗ trợ nhiệt tình của anh Lê Hữu Thăng, giáo sư Nguyễn Hoàng, đại diện Hồng Thập Tự vùng I và anh Tôn Thất Nam, trưởng ty Thủy Lâm, đại diện Hồng Thập Tự Quảng Trị. Số đoàn sinh có lúc đông tới 200 em, phần đông là học sinh Nguyễn Hoàng, Hải Lăng, Triệu Phong. Trước “mùa hè đỏ lửa 72” tôi chỉ biết tuổi trẻ Quảng Trị như là những học trò chăm chỉ, lễ phép và dè dặt với thầy cô giáo có khi đến mức khô khan. Sau biến cố “đại lộ kinh hoàng” và tiếp theo những ngày tản cư, tỵ nạn, hồi cư, có dịp sinh hoạt với các em trong nhiều hoàn cảnh và va chạm trong nhiều mảnh vụn của cuộc đời, cái nhìn của tôi về tuổi trẻ Quảng Trị đổi khác.


 Suốt ngày Chủ Nhật hàng tuần đoàn thanh niên Hồng ThậpTự chúng tôi đi làm công tác khắp các vùng quê Quảng Trị nằm phía Nam sông Thạch Hãn với sự yểm trợ phương tiện không riêng của cơ quan Hồng Thập Tự quốc tế mà còn từ phía các tổ chức từ thiện khác nhờ tiếp tay. Càng đi nhiều, tôi càng thấy mình gần gũi với làng xóm Quảng Trị, một Quảng Trị điêu tàn sau cuộc chiến bão lửa năm 1972. Không có một vùng quê nào còn nguyên vẹn, tránh được dấu đạn bom trong ngày hồi cư. Ước mơ của người dân thường Quảng Trị cũng như bao người dân Việt hiền hòa khác, là được về lại quê xưa, sống nép đời trong thôn xóm với mái nhà khiêm tốn, có khu vườn nhỏ, có ao rau và cánh đồng làng nhỏ bé, chia thành những thửa ruộng nhỏ nhắn thấp cao nhiều đợt. Nơi đâu trên đồng lúa cũng có những mảnh cồn làng làm nơi an nghỉ thiêng liêng của mồ mã tổ tiên.               

 Bom bi! Một nỗi kinh hoàng mới trong buổi đầu Quảng Trị hồi cư. Bom bi rơi rớt trên nương, ngoài đồng, dưới ao, bên cống rảnh... Không biết bao nhiêu vạn bom bi đã cắm vào da thịt Quảng Trị như những cái “dằm” vô tình xóc vào bàn tay chơn chất của cô gái quê nghèo. Đã bao nhiêu lần tôi thắt ruột nhìn những đứa em, những đoàn sinh, những đứa học trò với chữ thập đỏ viền xanh nổi trên vai áo trắng, trên mủ lưỡi trai, tỏa vào đồng ruộng giúp nông dân bơm thuốc rầy, hay đốn cây bới đất giúp bà con dựng căn nhà lá mới. Từ trong vô thức, tôi nghe như râm ran có những mảnh bom bi đang rình rập và có thể nổ bùm không ai biết trước. Tôi có thể dặn các em tránh sông tránh núi nhưng không thể dặn các em tránh bom bi như các em thường nói, “sợ bom bi thì chỉ có về nhà đắp mền nằm ngủ!”. Tuần thứ hai công tác ở làng Ngô Xá, xe chưa vào điểm hẹn đã phải dừng lại vì bom bi đã nổ ở thửa ruộng kế bên. Một người thanh niên trẻ đang dãy dụa trên bùn với con trâu bị thương còn chạy quanh như điên cuồng và cái cày đè trên mình người bị nạn. Chúng tôi lập tức biến chiếc xe Hồng Thập Tự công tác thành xe tải thương, khẩn cấp chở nạn nhân về bệnh xá quận. Trong đời, tôi đã thấy những đôi mắt thật buồn, nhưng chưa bao giờ thấy một lúc những ánh mắt tuổi trẻ vừa thương cảm xót xa, vừa đau buồn thăm thẳm đến thế. Các em tải thương. Những vết máu tươi loang vào chữ thập đỏ trên áo của những người tuổi trẻ Quảng Trị “lá rách đùm lá nát” đã làm tôi xúc động đến lạnh người. Những em học trò ít nói trong lớp đang vươn vai thành những người yêu nhân ái với tâm hồn lồng lộng. Trâm nhút nhát trong lớp giờ linh hoạt như một nữ trợ tá chiến trường. Định ấp úng trong lớp giờ xuôi ngược như giao liên mặt trận. Kháng “tếu”, cây cười của lớp, giờ mặt mày nghiêm trọng, khom mình nâng cán như viên cai tổng cẩn trọng chuyển hương án đầu năm. Những đôi mắt đăm chiêu bâng khuâng mờ nước mắt khi chiếc xe tải thương khuất dần trong bụi đỏ đường quê.


 Chiều Giáng Sinh hồi cư đầu tiên, chúng tôi chọn làng Phước Môn và Như Lệ gần thánh đường La Vang làm công tác. Tất cả đều làm rất hăng để kịp đến tập trung tại khu vực nhà thờ trước khi trời chiều. Các đoàn sinh dù có đạo hay không cũng có cùng mẫu số chung:  Đó là tình người, tình quê hương và tình đồng bào ruột thịt. Tiếng còi họp chung vang vọng dưới chân nhà thờ La Vang đổ nát sau chiến tranh trong buổi chiều Giáng Sinh lành lạnh, mây vần vũ xuống thấp, có một sức hút huyền nhiệm lạ lùng. Chưa đầy một trăm đoàn sinh, tóc tai, quần áo bơ phờ sau một ngày công tác xã hội tay chân hoạt động như con thoi đang quây quần dưới tượng đài của Chúa. Nhà thờ La Vang ngày hồi cư cũng trơ xương tả tơi chung số phận với người dân Quảng Trị. Bom đạn như gậy người mù, đâu có trái tim để tránh giáo đường hay chùa tháp. Trâm vốn là đoàn trưởng Thanh Sinh công giáo, nên chiều nay được giao cầm còi điều khiển. Cả một trăm tâm hồn khác nhau chiều nay như mềm lại, hòa với đất trời để cùng hướng về một sức mạnh nhiệm mầu. Chúng tôi chỉ có thể hát chung hai bài hát, đó là bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” và bài “ Đêm Thánh Vô Cùng” (Silent Night). Đặc biệt bài Đêm Thánh Vô Cùng với cung điệu thanh thoát và u trầm mà cố hát đồng ca theo nhịp hành khúc là kể như đem thơ tao đàn vào hò giã gạo. Cái tuyệt vời và ma thuật của âm thanh không phải là đúng hay sai mà nên dùng lúc nào là hợp nhất. Nhịp “hành khúc” của Silent Night dưới chân nhà thờ La Vang đổ nát có lẽ sẽ làm cho cả thế giới tức cười nhưng lại làm cho Quảng Trị hồi cư thổn thức, vì hát lúc nầy không phải chỉ là xướng lên âm giai, âm điệu, mà hát còn là sự mặc khải tâm hồn bằng lời nguyện và âm thanh. Từ một trăm cửa miệng, lời hát “Nửa đêm mừng Chúa giáng sanh ra chốn dương trần. Người mang ơn phúc cứu cho muôn dân lầm than”, đã được đổi ra, “...Người mang ơn phúc cứu cho La Vang lầm than!”. Đông đảo giáo dân đi lễ đã cùng quây quần hát với chúng tôi trên đồi La Vang sương mù, càng về chiều càng thấm lạnh. Trong khoảnh khắc xúc dộng, tôi ngước lên nhìn nóc giáo đường trơ xương đầy dấu đạn bom và tự nhiên có cảm tưởng Chúa và những thiên thần có đôi cánh trắng đang từ những vương cung thánh đường cao sang về ngự giữa bầu trời La Vang mây phủ, về đậu trên bệ thờ đổ nát mang dấu vết thù hận chưa tan.

 Lúc chia tay, trời đã gần chạng vạng. Mấy em đoàn sinh có Đạo trao cho tôi và anh Niên đoàn phó, mỗi người một gói quà  nhỏ. Chúng tôi cùng cám ơn và chúc các em một mùa giáng sinh an lành. Quà Noel cho tôi là một cái cà vạt thời trang.

Cầm món quà giáng sinh dễ thương của mấy em trên tay, tôi cảm thấy bình an pha một chút bâng khuâng và rộn ràng vì tình nghĩa giữa vùng đất hồi cư còn nhiều khốn khó nầy vẫn còn là một chút gì mong manh nhưng có thật.


 Sau giáng sinh là đến Tết hồi cư Đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự Quảng Trị cùng với thầy trò trường Hiền Lương Nghĩa Thục cùng chuẩn bị tất niên. Vui nhất của đời hoạt động thanh niên là được nghe tiếng đồng ca vọng xuống lưng đồi. Vui nhất của đời dạy học cũng là tiếng hát vang vang của học trò chuẩn bị đón Xuân. Quan khách văn nghệ tất niên hồi cư 1973 nghe đâu có cả ông tỉnh trưởng Quảng Trị, nên chúng tôi chuẩn bị khá rầm rộ và công phu.

Đêm trình diễn văn nghệ tất niên, tôi phụ trách điều hợp chương trình. Niềm vui và tiếng hát học trò đã mang chút hương hoa cho đồi cát Hải Lăng chưa xoá hết nỗi ám ảnh kinh hoàng của bom đạn. Nhạc cảnh Đám Cưới Ngày Hoà Bình do tôi và Lê Hữu Nam đạo diễn đã làm cho khán giả khao khát hòa bình và cả diễn viên lẫn “đạo diễn” còn bồi hồi nhắc nhở đến mấy năm sau vì sự trình diễn xuất thần của vai cô dâu chú rể. Trâm thủ vai cô dâu và Định trong vai chú rể. Cả hai đều là học sinh lớp 12 và cùng là đoàn viên Đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự. Trâm trong y phục hoá trang rực rỡ của cô dâu bước đến gần tôi đang diều động ở hậu trường khi người xướng ngôn đang giới thiệu chương trình. Tôi hỏi:

 - Định biến đâu mất rồi?

 Không có tiếng trả lời... 

 Cả ban văn nghệ đang dáo dác tìm thì Định bước vào, ướt sũng như con chuột lột, tóc tai áo quần bê bết bùn đất. Định giải thích vắn tắt nhưng mọi người chợt hiểu:

 - Em bị rớt xuống hố bom B-52!

 Ngày Quảng Trị hồi cư, những hố bom sâu như cái hồ nhỏ còn loang lỗ cả xóm làng. Những đêm tháng chạp sương mù dày đặc, ít ai dám đi ra ngoài vì sợ bị sỉa hố bom.

 Bộ áo quần chú rể với quần là, khăn đóng, áo thụng thuê ở Huế đem ra giờ chỉ còn là mớ vải ướt tang thương trên mình Định.



 Trong lúc tôi đang lặng người bối rối, vì sự việc bất ngờ xảy ra vào phút chót thì tiếng hát của ai đó thoảng nghe êm êm như một chút gió giữa trưa Hè đứng bóng: “Đường hành quân băng lau lách sương đêm. Sương trắng rơi vai tôi ướt lạnh mềm... “.  Tiếng hát như một sự nhắc nhở rằng, vùng đất nầy vẫn còn đang là vùng hỏa tuyến. Một nỗi buồn nào đó chợt hiện về trong tôi. Tôi thấy khăn vành, áo hoa thêu kim tuyến lấp lánh trên mình Trâm nhòa đi. Hình ảnh chữ thập đỏ loang máu người dân cày trúng mảnh bom bi giữa đồng hoang làng Ngô Xá hiện về. Tôi kêu lên tiếng nói từ vô thức:

 - Phù phiếm. Không được!

 Những ánh mắt kinh ngạc kéo tôi về với thực tại. Tôi quyết đoán một cách không ngờ:

 - Phải thay đổi hết. Cô dâu phải là hình ảnh cô gái quê hồi cư và chú rể phải là người trai làng thương binh vừa trở lại quê xưa. “Đám cưới ngày hoà bình” trên mảnh đất còn khốn khổ nầy không thể là áo rộng khăn vành được!

 Có tiếng phản đối của thầy Mãn:

 - Quá trễ để thay đổi. Còn không đầy 30 phút nữa là cô dâu chú rể phải lên diễn rồi.

 Tiếng xôn xao lại rơi vào im lặng khi tôi nói lên thực tế:

 - Nhưng đào đâu cho ra áo quần của chú rể. Cô dâu hóa trang lộng lẫy như vậy, không lẽ chú rể lại mặc áo dài đen khăn đóng bạc màu lếch thếch mượn của bác cai trường?

 Trâm lên tiếng, đầy vẻ nghiêm trọng:

 - Thưa thầy, em nghĩ là được. Tất cả các nhạc cảnh giữ nguyên, chỉ có em và Định thay đổi chiếc áo choàng và trang điểm lại chút xíu là được thôi. Để em tìm mượn...

 Trâm chạy biến vào rừng khán giả đang đứng ngồi chen chúc trước sân khấu. Có khá đậm màu áo xanh của giới lính tráng xa nhà đến tìm vui với đêm văn nghệ học trò.

 Những thầy giáo nghiêm nhất cũng phải bật cười khi thấy Trâm kéo tay một người lính trẻ, ngơ ngác, vén màn vào hậu trường sân khấu với giọng cầu nài khẩn khoản một cách trẻ tội nghiêp:

 - Thưa chú, nhờ chú giúp đỡ tụi cháu. Xin chú chịu phiền cởi áo quần lính cho bạn em mượn tạm để đóng kịch.

 Nhìn bộ áo lính ka-ki bạc màu sương gió trên mình người lính trẻ nhỏ nhắn, tôi bỗng mơ hồ đâm ra có cảm tình với một chú rể tưởng tượng trong trang phục “Ngày trở về” ngay. Tôi cẩn thận giải thích hoàn cảnh “lâm nguy” của màn nhạc cảnh và ngỏ lời xin mượn tạm bộ quân phục cho Định sẽ thủ diễn trong vai chú rể. Anh lính vui vẻ nhận lời ngay và còn góp thêm:


 - Trước tôi là trưởng ban văn nghệ trường Luật nên cũng có chút kinh nghiệm. . Nếu quý vị cho phép, tôi sẽ giúp một tay trong phần hóa trang cho màn kịch. Từ sau cánh gà sân khấu, tôi đã bắt gặp đôi mắt người lính trẻ nhòa đi khi anh hé nhìn cô dâu trong chiếc áo bà ba, chú rể trong màu áo trận bạc màu của chính mình, cầm tay mẹ già với dư vang tiếng hát mừng tủi, nghẹn ngào: “Mẹ lần mò, ra trước ao, nắm áo người xưa, ngỡ trong giấc mơ.  Tiếc rằng ta, đôi mắt đã loà, vì quá đợi chờ...” 


 Năm học hồi cư 1973 - 1974 qua rất nhanh. Những ngày tháng thân thương, êm đềm, gần gũi của những người Quảng Trị hồi cư có chung hoàn cảnh laị bị giao động mạnh sau một khoảng thời gian ngắn thử thách. Cũng mồ hôi, nước mắt đổ ra để làm lại cuộc đời mới sau chiến tranh, nhưng niềm tin và thành quả dưòng như đang chao đảo, mỏi mòn, chua cay hơn trước. Sức người, sức của đổ ra trên những vùng đất hoang chưa khai phá ở đâu đó thuộc vùng Cam Ranh, Long Khánh, Cao Nguyên, Cửu Long... có vẻ đầy hứa hẹn hơn là ở trên quê hương đã bị bom đạn cày nát và bị ám ảnh bởi giông tố chiến tranh có thể ập đến bất cứ lúc nào. Gần đến Hè, rất nhiều học sinh và đoàn sinh của tôi thường nhắc đến chuyện sẽ chia tay, đi vào Nam hay di chuyển ra khỏi vùng “Khu Thị Tứ” để theo gia đình sinh sống làm ăn. Có những lúc từ trên bàn thầy giáo, trầm ngâm nhìn học sinh lặng lẽ làm bài hay những chiều cuối tuần họp chung sau giờ công tác tôi nhận ra cái cảm giác nao nao của của sự sắp chia xa dâng lên trong lòng mình và bóng “hoàng hôn trong mắt trong” của các em.



 Trại Hè chia tay năm 1974 là cuộc họp mặt sau cùng của đoàn sinh Thanh Niên Hồng Thập Tự Quảng Trị và học sinh hai trường Hải Lăng, Hiền Lương Nghĩa Thục của tôi. Địa điểm trại là vùng biển Hải Nhuận. Chúng tôi tập trung tại bến đò Vĩnh Tu, thuê bốn chiếc đò băng qua phá Tam Giang để sang Hải Nhuận. Ba chiếc đò trước đi vào buổi trưa để tránh bớt sóng gió thường nổi lên bất thường vào buổi chiều, gồm những học sinh không sinh hoạt thường xuyên trong đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự. Đò “chỉ huy” chúng tôi xuất phát vào buổi xế chiều vì phải chuẩn bị tải những vật dụng nặng cho cuộc cắm trại gồm các em đã có “kinh nghiệm chiến trường” với những hoạt động thanh niên. Đò ra giữa phá Tam Giang, gió chướng bắt đầu nổi lên. Trời như tối sầm lại vì gió cuốn bụi nước như sương đặc che khuất mặt trời. Sóng cuồn cuộn nổi lên như từng đàn núi nhỏ biết đi. Bác lái đò hét lên đằng lái bằng một giọng kinh hoàng chọc thủng cả tiếng máy dầu cặn đang bị át đi bởi tiếng gió và ngọn sóng đánh liên tục vào mạn thuyền:


 - Cha ơi, mạ ơi! “Mệ” về rồi. Hết “chộ” mặt vợ con rồi, ôn mệ ơi!


 Mỗi lần ngọn sóng đánh vào mạn thuyền, nước phủ cả đầu người, các em hét lên một cách khủng khiếp và ôm chầm lầy nhau cho khỏi bị bắn tung ra khỏi thuyền.  Không hiểu do một linh tính nào đó, khi vừa bước xuống đò, tôi lại nghĩ ngay đến bầu trời vần vũ mây trên đồi La Vang chiều Giáng Sinh vừa qua.  Tuy chẳng phải là người dễ dãi phó thác số phận cho niềm tin tôn giáo, nhưng trước sự đe dọa kinh hoàng của cái chết tập thể, tôi chỉ còn một vũ khí chèo chống duy nhất là chiếc phao tinh thần và tôi lâm râm cầu nguyện đức Quán Thế Âm, đức Mẹ Maria.  Dường như là đức tin đã giúp tôi thành người bình tĩnh nhất trên đò trong lúc nguy cấp. Tôi bắt các em quăng tất cả đồ đạc ra khỏi đò, chỉ giữ lại thau và nồi nấu cơm để tát nước. Gió vụt mạnh quá, không ai nói ai nghe, tôi phải hét trong tai các em đội trưởng, bắt tất cả các em phải đứng khom người, chống chân vào lòng thuyền, lưng áp chặt vào mạn thuyền và khoác vai nhau để làm thành một “bức tường người” cản bớt nước tuôn vào đò. Một số em phải dùng bất cứ vật dụng gì có thể dùng được để tát nước ra ngoài. Sóng gió mỗi lúc một hung hãn hơn. Tôi nghe tiếng kêu phía trước và lảo đảo chạy đến, vừa lúc nước bắn vào khoảng trống giữa Trâm và Định. Tôi gào lên:

 - Trâm, ép sát vào Định. Trám ngay chỗ trống nầy tức khắc!

 Trâm nhìn đăm đăm vào khoảng không một cách thản nhiên. Vẻ bình tĩnh bất thường của cô học trò lạ lùng trong giờ phút nguy cấp nầy làm tôi phát hoảng. Trâm vẫn ngồi yên, nói một cách khó khăn:

 - Thưa thầy, ngồi rứa coi kỳ quá!

 Tôi gắt lên:

 - Không cãi, đây là trường hợp khẩn cấp. Ngồi vào ngay!

 Trâm vẫn bướng bỉnh ngồi yên. Một đợt sóng gầm lên hất chiếc đò chao đảo. Tự nhiên tôi phản ứng như một cái máy: Bốp! Tôi tát vào má Trâm. Tôi chỉ muốn làm một cử chỉ “thị uy” trong lúc khẩn cấp, nhưng sức gió giật, độ giao động của chiếc đò trong cơn sóng dữ và thế đứng mất thăng bằng của tôi đã biến cái tát mạnh toé nước một cách không ngờ. Trâm nhìn tôi hoảng hốt với đôi mắt nai vừa bị thương và ngồi ép sát Ngay vào người bên cạnh. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong cuộc đời dạy học tôi đánh học trò. Tôi không có khoảng trống để suy nghĩ điều gì mình vừa làm. Tôi nhào tới đằng mũi thuyền, cố nhắm mắt trước những đụn sóng hãi hùng và quỳ xuống cầu nguyện. Tiếng máy đò yếu ớt, tiếng hét thưa dần để nhường cho tiếng ào ạt rít lên từng hồi của sóng gió. Tôi có cảm tưởng con đò chạy nhanh hơn một chút và cơn gió có vẻ dịu dần. Nắng chiều lại lên, con nước im dần. Chiếc thuyền và đám người tả tơi mệt nhoài cặp bến.  Trên đường di chuyển về địa điểm trại, tôi ái ngại nhìn Trâm lặng lẽ cúi đầu đi tách lại phía sau với vết hằn của cái tát vẫn còn in rõ trên gò má trắng xanh.

 Ba chiếc đò đi đầu đã chuẩn bị sẵn sàng cho bữa cơm chiều và đêm lửa trại. 

Chuyện đò gặp bão và Trâm bị đánh trở thành đề tài nóng bỏng cho đến giờ khai mạc lửa trại.  Trước khi Trâm đứng ra diều khiển đội nhảy lửa như đã được phân công.  Tôi đã kể lại vắn tắt những diễn tiến đã xảy ra trên chuyến đò chót cho các trại sinh nghe và nhường còi điều khiển lại cho đội nhảy lửa và quản trò. Sự lanh lợi và bản lỉnh của cô học trò nầy làm cho tôi thầm cảm phục. Sau khi bắt nhịp bài đồng ca “Anh Em Ta Về”, Trâm thổi còi ra dấu im lặng và nói một cách vắn tắt:

 - Tôi không bị thầy đánh. Tôi chỉ bị thầy phạt vì “không theo đúng nội quy trại” trong khi khẩn cấp. Em xin lỗi thầy vì không theo đúng lời thầy dặn. Quản trò chuẩn bị, đội nhảy lửa sẵn sàng!

 Tuổi trẻ đã quên rất nhanh chặng đường hiểm nghèo đã qua để hòa mình rộn rã trong đêm vui.

 Cuộc vui nào rồi cũng có lúc tàn. Tôi ngồi lại bên đống lửa cho đến khi những em chịu thức khuya cuối cùng về lều ngủ. Chưa bao giờ tôi ngủ được trong những đêm lửa trại. Gió biển và rừng thông Hải Nhuận về khuya không ngừng rì rào với tiếng sóng. Những mảnh than ấm cuối cùng của bếp lửa trại cũng bắt đầu thiu thỉu thành tro. Tôi thèm một điếu thuốc và một cốc cà phê như Quang Dũng nhớ “Khói thuốc khơi giòng xanh lối xưa. Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ...”. Lửa sắp lụi tàn và Trâm, Hiền, Hồng, Nga hiện đến với những mớ củi nhỏ trên tay làm sự trống vắng khuya khoắt  trở thành nỗi vui ấm áp, dịu dàng. Trâm hỏi, giọng hồn nhiên như hỏi bài trong lớp:

 - Tụi em biết thầy chưa ngủ nên đem củi thêm để “hâm nóng chiến trường!”

 Tôi hơi ngạc nhiên thấy các em vẫn còn thức đến giờ đó. Tôi nói đùa nhưng đã làm cho một chút sương khói đêm vui như trầm hẳn lại:

 - Chiến trường Bình Trị Thiên đỏ lửa đã đốt cháy Quảng Trị mình rồi. Mấy em còn đem củi hâm nóng trở lại e lần này phải bỏ xứ mà đi!

 Sự im lặng bất ngờ kéo dài khá lâu khi mỗi người đều có sẵn trong tâm tư những ý nghĩ thật buồn, trong lúc các em cố nhen bếp lửa hồng trở trại. Từ phía núi Trường Sơn tiếng súng vẫn nao nao vọng về. Tự nhiên tôi nhớ đến những vẻ mặt buồn lặng lẽ của những nghệ sĩ trong đoàn hát Phụng Vũ ngày xưa, trước giờ khăn gói ra đi.

 Bếp lửa đỏ trở lại, mang theo tiếng cười hồn nhiên của đám thầy trò hồi cư nhưng quê hương bình an đích thực vẫn còn xa ngoài tầm tay với. Tiếng củi nổ lách tách bên ánh lửa khuya khoắt bập bùng như gợi nhớ những ước mơ thần tiên hoang dại: Các em lại tưởng tượng có bà tiên bay từ Biển Nam Hải bay vào và ban cho mỗi người ba điều ước. Là người sau cùng được nói lên ba diều ước, tôi trả lời thành thật:

 - Thứ nhất: một tách cà phê; thứ hai: một điếu thuốc; thứ ba: một giấc ngủ ngon lành.

 Đám học trò phá lên cười:

 - Uớc mơ của thầy dễ quá nên ai cũng làm bà tiên được hết. Để tụi em làm bà tiên hết trơn cho thầy coi.

Đám học trò dành nhau làm “bà tiên” đã chạy ào vào đêm tối. Nhìn bếp lửa lập lòe với gió biển, tôi ngồi đối diện với chính mình để tự hỏi Quảng Trị đâu có phải là quê hương của mình mà chọn hồi cư về đó, sao mình không chịu yên thân làm một thầy giáo với nếp sống bình lặng, quanh năm, ngày hai buổi đi về với tập bài soạn vàng úa chữ nghĩa thánh hiền như những ông thầy mình ở Huế. Tại sao tôi lại dễ dãi để sự xôn xao của hoàn cảnh xã hội thêm những dấu chấm hỏi, chấm than vào những bài giảng văn, bình luận đã được viết thẳng hàng, an phận trên những trang sách mang dấu ấn của thành trì tư tưởng xuôi chiều giống mái sông con đang trôi về biển mẹ?

  Một viên đá nhỏ nào đó đã ném vào bếp lửa làm tôi giật mình cùng với tiếng cười trong trẻo của Trâm. Trâm đưa que lửa cho tôi và nói như chiến thắng:

 - Thầy thắp thuốc đi. Em ăn cắp thuốc của thầy Vạn đó! Tụi nó còn đang lục túi thầy Mãn, thầy Nam. Mấy thầy nớ hút thuốc như tàu hỏa, khuya mới còn thuốc. Em thắng rồi!

 Khi hơi thuốc Bastos xanh bay lên nhè nhẹ thì có tiếng thầy Vạn như ông già râu trắng vừa tới đã khuấy động không khí chìm lắng của rừng thông về khuya.

 - Ê! ta bắt được thầy trò bây ăn cắp thuốc rồi!

 Trâm vẫn reo vui hồn nhiên:

 - Mô có thầy, em đã được phân công làm đội trưởng nhảy lửa nên phải đi quanh “chia lửa” cho đều.

 Bếp lửa lại vui thêm với những khuôn mặt thân thương không ngủ được. Dưới xa, có tiếng máy ghe đánh cá bắt đầu ra khơi. Trời sáng.



 Huế - Quảng Trị cách nhau chỉ một giờ đồng hồ mà hơn sáu năm sau tôi mới gặp lại cô học trò đội trưởng nhảy lửa. Sau 1975, tôi lái xe Lam Huế - Bao Vinh nhưng vẫn bị anh em kêu bằng “thầy” và kéo đi làm những công chuyện có liên quan đến giấy tờ, chữ nghĩa. Lần nầy đội xe Lam ký hợp đồng chở phế liệu chiến tranh nhập vào Huế từ Quảng Bình, lên ga Huế để xuất khẩu. Tôi đã được nghe người làng đi nhặt phế liệu và anh em tài xế xe Lam nói về sự khôn khéo và tài kinh doanh của “bà chủ”.  Khi nhận lời đi ký hợp đồng với anh bạn đội trưởng tài xế, tôi hình dung sẽ gặp một bà chủ kinh doanh phế liệu sồ sề lớn tuổi. Khi đến nơi, hóa ra bà chủ là Trâm. Điều khá lạ là khi gặp lại tôi Trâm đã tỏ ra không một chút ngạc nhiên. Tôi hơi thất vọng trước sự lễ độ mang tính xã giao của người học trò cũ. Hợp đồng đã được soạn sẵn, thay đổi chút ít, thỏa thuận và ký rất nhanh. Tôi cũng nói và làm những công việc cần phải làm một cách khô khan rồi ra về cùng với anh đội trưởng.

 Buổi chiều, sau buổi họp phân công tại văn phòng hợp tác xã xe Lam Huế, khi tôi băng qua đường Trần Hưng Đạo để ra về thì Trâm đã ở đợi ở bên kia đường. Trâm lại gần, tôi cố giữ giọng rất thản nhiên, hỏi trước:

 - Trâm đó hả. Em cần thay đổi điều gì trong hợp đồng không?

 Trâm  che miệng cười:

 - Thưa thầy, vở kịch đã hạ màn rồi. Em xin mời thầy đi ăn cơm chiều có được không ạ?

 Nhìn cô học trò cũ đã già dặn, nhưng nét tinh anh và hóm hỉnh xưa vẫn còn đó, tôi thấy chút chua xót trong lòng mình dịu lại. Tôi trả lời như phản ứng tự nhiên:

 - Được. Đi thì đi nhưng với điều kiện là em phải để tôi trả tiền.

 Trâm cười thành tiếng:

 - Điều kiện chi em cũng chịu nhưng ít nhất thầy cũng cho em cơ hội làm “bà tiên” vì theo sổ nợ đời, em còn thiếu thầy một ly cà phê chưa kiếm được trong đêm trại Hè Hải Nhuận.

 Trong tiệm ăn, tôi có cảm tưởng như Trâm vẫn còn y nguyên là cô học trò sáu năm về trước. Tôi hỏi:

 - Hình như em thích sống về dĩ vãng hơi nhiều. Người thích quá khứ thường hợp cho việc làm thơ, vậy mà em lại thành công trong buôn bán kể cũng lạ?

 Vẻ buồn hiện lên trong dáng ăn hờ hững và cách nói của Trâm:

 - Hiện tại có chi vui đâu thầy. Em đi buôn phế liệu, thầy đi lái xe lam. Em nghe mấy bạn cùng lớp kể lại là thầy bị đuổi ra khỏi trường rồi hết lái xe lam đến ra bán chợ trời. Em lăn vào đời tranh sống như hôm nay là do thầy dạy đó.

 Tôi đính chính ngay:

 - Tôi có dạy em đi buôn bán hồi nào đâu?

 - Dạ có, nhiều lắm. Thầy đã dạy em về tình người trong công tác Hồng Thập Tự. Thầy đã dạy cần phải hy sinh chiếc áo choàng, phải thay đổi nó khi cần trong đêm văn nghệ tất niên để màn nhạc cảnh được thành công tốt đẹp. Thầy dạy em cần phải sử dụng sự quyết đoán và cái tát tai đầy áp đảo trong lúc nguy khốn để cứu nhau. Thầy dạy em những lặng lẽ suy tư khi trời yên biển lặng... 

 Tôi hoài nghi về cách giải thích vòng vo của cô học trò cũ:

 - Nhưng đó chỉ là những phản ứng tự nhiên khi cần phải đối mặt với cuộc sống chứ có gì liên quan đến thương mãi đâu?

 Với giọng lễ độ đầy tự tin, Trâm nói tiếp:

  - Thưa thầy, dạ có.  Những bài dạy của thầy trong lớp mới chỉ là sách vở và hình như thầy cô nào dạy cũng giống nhau. Theo em, hành động của thầy trong thực tế cuộc sống mới là những bài học cuộc đời quan trọng nhất. Chính vì không quên phong cách xử thế của thầy trong buổi đầu hồi cư mà em đã không tiếc nuối thay chiếc áo sinh viên lăn vào đời buôn bán. Em đã thắng những chủ vựa phế liệu khác vì biết trân trọng tình người; hay như sáng nay, em đã cố ngăn những xúc động tự nhiên khi gặp thầy để khỏi lẫn lộn hợp đồng làm ăn thành bản văn nhân nhượng thầy trò. Thưa thầy, thầy nói đúng, em sống hơi nhiều cho dĩ vãng. Em vẫn cố tình giữ mãi những hình ảnh dễ thương của quá khứ học trò để có niềm vui mà đi lên trong những khi buồn nhất, nhưng em không dừng lại ở đó.
 Sau năm 1975, sau cơn giông bão “đổi đời”, tôi như một ngư ông buông cần loanh quanh bến cũ đã quen với giòng nước nông sâu; Trâm và thế hệ trẻ như những thủy thủ dương buồm ra khơi để khai phá những bờ bến lạ. Gặp lại Trâm, tôi bỗng lạc quan tin vào sức bật mai kia của tuổi trẻ Quảng Trị, tuổi trẻ Huế và tuổi trẻ Việt Nam. .....
TKĐ
Ảnh VTT 2/2010 Thầy Thăng gặp mặt một số ACE . HTT 67-75 
Con B.Lan ,Lê Thị Bích Lan,Phan Du,Trần Hào,Thầy Lê Hữu Thăng và Cô,L.T.Dũng BLLNHQT,Nguyễn Thiện,anh Lớn BLLNHQT,Lê Mậu Trãi,Văn Thiên Tùng
HTTQT 70
HTTQT 73 ( sân Ri Đ.Nẵng
HTT QT 69
Tải Blog : 10.10.2009

Một hoat động đáng nhớ - HỒNG THẬP TỰ QT72-74(VTT)



MỘT HOẠT ĐỘNG ĐÁNG NHỚ
 
Viết tặng quý Thầy Cô và học sinh  trường Nguyễn Hoàng đã tham gia hoạt động xã hội thuộc phân bộ HTT QTrị từ 1972-1974. 

 Qua một chặng đường dài chạy loạn, quê hương Quảng Trị đã vùi trong khói lửa chiến tranh, tin từng giờ,  từng ngày hàng vạn tấn bom đạn đang ngày đêm đổ xuống một mảnh đất nhỏ bé nhất đất nước Việt Nam đó là Quảng Trị quê hương tôi Một Quảng Trị nhưng chỉ kéo dài từ dòng sông Ô Lâu đến Vĩnh Linh bên kia bờ sông Bến Hải. Cảnh rùng rợn nhất là đoàn người chạy loạn từ bắc sông Hiếu, xe, người chen chúc giữa vùng chiến sự đang giao tranh trên tuyến đường quốc lộ từ cầu dài đến cầu Bến Đá từ 8 giờ sáng đến tối ngày , dân  chạy nạn chen lẫn xe quân sự, pháo đạn các loại đã vô tình trúng vào đoàn người trong đó cả dân sự nằm chết ngổn ngang, cùng những ánh chớp của những quả bom Na- pan, tiếng rền 3 loạt bom B52 vào lúc chập choạng tối dội xuống làng quê Trường Phước, cái làng nhở bé nằm phía Tây cầu dài, cách chúng tôi đang kẹt lại tại bãi cát Khe Nước Chè chưa đầy 1km...xen lẫn tiếng pháo kích và súng bộ binh thi nhau xả lên thành cầu và những đoạn đường kế cận...
Chỉ phút giây đó chúng tôi nghĩ đến hàng chục mạng người, bom đạn, pháo đã vô tình biến sự sống thành sự chết … Huống gì mấy trăm ngàn dân Quảng Trị chưa kể là người lính trận đôi bên. Sau đó là những trận chiến ác liệt tại Thành cổ Quảng Trị ...Máu đã nhuộm đỏ dòng sông Thạch Hãn và dòng ắt đã đi vào lịch sử cùng với Thị xã Quảng Trị. Trọng điểm là luỹ thành Đinh Công Tráng, Giờ đây phải gọi là “ Dòng sông lửa và vủng tử địa ” từ gọi đó chắc là không quá đáng.  Như nhà thơ Võ quê đã viết :
…Đổ nát rồi thành phố của chiến tranh
Anh tiếc nuối thương hoài con đường nhỏ
Như có máu trong màu hoa phượng đỏ
Rơi xuống đời từng mảnh thương đau …
( Nơi Con sông VQ)
Hình ảnh TXQT sau chiến cuộc 1972 ( nhìn từ phía Bắc sông  ) 


 Lúc hoảng loạn mọi người dân nhanh chân thoát khỏi vùng chiến sự
Xin kính cẩn nghiêm mình thắp nén tâm nhang về những người đã tử nạn trong ngày hôm đó  - tại đoạn đường kinh hoàng.-  thành cổ Quảng Trị .Cầu mong các vong hồn sớm được siêu thoát...
Từ suy nghĩ đó chúng tôi những học trò Nguyễn Hoàng, là Đoàn sinh Hội hồng Thập Tự tiếp thu lời thề của Henry Dunant  nhanh chóng  tụ tập lại để cùng  với thầy đăng ký tham gia vào phân đoàn thanh niên thuộc Phân bộ Hội Hồng Thập Tự Quảng Trị tại Đất khách quê người,  mong làm được việc gì đó mà lý tưởng và tôn chỉ hoạt động cùng  7 lời thề danh dự buộc đoàn sinh chúng tôi phải tự mình nghiêm túc thực hiện.
Sau khi trường Nguyễn Hoàng tại đất khách quê người được thành lập, tay xách nách mang,  học trò chúng tôi tiếp tục khai giảng một năm học mới tại các căn cứ quân sự sau khi quân đội viễn chinh Mỹ đã rút khỏi ViệtNam.
Chưa đầy nửa tháng sau được thầy Lê Hữu Thăng và các thầy cô trong đoàn công tác xã hội đã nhanh chóng thông báo anh chị Hồng Thập Tự Quảng Trị thuộc phân đoàn Quảng Trị tiếp tục củng cố tinh thần và trang y phục để tập hợp đội ngũ bắt đầu trở lại công tác Hội.
Kể từ bây giờ, vào chiều chủ nhật hàng tuần chúng tôi tập trung tại khu nhà vòm trại 5 Non nước Đà Nẵng sinh hoạt Hội, mọi người phải có sổ ghi chép và phải có ít nhất là 1 bộ áo quần và mũ theo quy định của tổ chức Hồng Thập Tự TW quy định, Huy hiệu đeo cầu vai, áo tay ngắn có 2 túi nắp, cầu vai táo bên phải mang huy hiệu chữ thập, bảng tên màu trắng trên nền xanh, mũ trắng có huy hiệu Hồng Thập Tự chân đi dép  rọ hoặc dày ba ta…
Thủ tục ban đầu đã xong, tuần thứ hai chúng tôi nam cũng như nữ ai nấy đồng phục đầy đủ. Tại khu vực nhà vòm thầy trò bên nhau học tập lời thề cũng như tôn chỉ của hội. mỗi buổi sinh hoạt 50% thời gian lý thuyết cơ bản; 50%  thời gian còn lại về tổ chức đội ngũ, sinh hoạt văn nghệ cũng như học tập  chuyên môn về  cấp cứu, cứu thương, tín hiệu gút, morse, cờ hiệu, băng bó, cùng các kỹ năng xử lý khi gặp các sự cố  xảy ra từ thiên tai, tai nạn chữa cháy cũng như tình huống cấp cứu giữa vùng chiến sự xảy ra …
 Phân đoàn từ nay có đội ngũ trên dưới 50 người kể cả thầy cô, sinh hoạt rất đều đặn và  giao việc gì tròn việc đó từ chỉ tiêu gom góp áo quần, tiền mặt để cứu trợ đến trại bay  từng đợt …
 
  Huynh trưởng Lê Thị Mỹ Liên
 Thầy  ...... và Đoàn Trưởng Lê Văn Chánh
Thầy ..............và Thầy Trần Văn Lữ trại BĐH phân đoàn 
   gồm : X,X,X,Phạm Lợi,X,X,X,Thầy Lê Hữu Thăng,X
  Hàng đầu :Lê,Lựu,Tùng,Lân,Nhiên,Hòa



ĐỢT CÔNG TÁC ĐẦU TIÊN
Sau khi hiệp định Pari ký kết Quảng trị trở thành vùng phi quân sự, sông Thạch Hãn trở thànhh chiến tuyến tạm thời đôi bên.  Phân đoàn được thông báo TW hội tổ chức cắm trại toàn miền tại đồi Thiên An Huế. Sau khi được phổ biến chúng tôi tập đi, tập lại từng động tác nhằm  mong thi thố tài năng cùng các đơn vị bạn trong toàn miền. Lúc nầy phân đoàn Quảng trị đa số là đoàn sinh mới  và còn non trẻ, có đoàn sinh đang học lớp 6 như Lựu, Lân … ngày lên đường đã đến.
Một năm học lặng lẽ trôi qua, kỳ nghĩ hè  đã dến tại đây không một cành hoa phượng, không một tiếng ve kêu, chỉ thấy sóng biển, cát và phi lao rì rào thổi đêm ngày, dưới thảm cây là cả một màu xanh lá muống biển, một màu hoa duy nhất biêng biếc pha lẫn nền trời phản chiếu với màu xanh của biển… chúng tôi vội vàng ba lô, lương thực và  đồ dùng cá nhân cùng  lều trại  thực hiện hành trình  ra đồi Thiên An - Huế vào ngày 15/5/1973.
Đây là đợt hội trại có ý nghĩa lịch sử lớn do TW Hội HTT VN tổ chức tại đồi Thiên An huế có đến 35 phân bộ các tỉnh tham dự. trong 4 vùng Miền Nam. trong đó có Quảng Trị.
Thầy Lê Hữu Thăng và Văn Thiên Tùng gặp tại đại hội Nguyễn Hoàng Quảng Trị  04/8/2007
Đoàn Quảng Trị đến Huế vào lúc xế chiều, mọi người ai lo liệu việc đó, sau khi nhận được địa điểm bên nầy đường ( phía đông) giữa đồi Thiên An, bên trái Quảng Trị đoàn PleiKu, bên phải  phân đoàn Quảng Nam… gọi là vùng I. Lúc nầy Thầy Lê Hữu Thăng giữ chức vụ Chủ tịch hội vùng I.
Đến chập choạng  tối lán trại chúng tôi đâu vào đấy, từng phân chi đoàn  bắt đầu họp mặt điểm danh sau đó về ăn cơm tối và sinh hoạt tại trại của phân đoàn mình.
Kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất là lần đầu tiên chúng tôi thấy được những đoàn sinh nữ phân đoàn Pleiku với bộ  váy dân tộc, màu sắc rất sặc sỡ, bọn con trai lò dò qua  kết nghĩa anh chị em và bắt đầu làm  quen thân thiện phân đoàn bạn với biệt danh là “Plê chiêm…”
 Một ngày qua nhanh, đêm nay lửa trại từng liên phân đoàn kết nghĩa( Quảng Trị , Pleiku và  Quảng Nam) vang lên lời ca tiếng hát, tiếng vỗ tay như vang dậy núi đồi Thiên An và kia tượng Đức Mẹ trên cao như đứng nhìn chúng sinh trong niềm vui hòa bình. Rừng thông hòa nhạc vi vu trong cơn gió Lào thoảng nhẹ tưởng chừng đây là dạ khúc hoan ca  sau những ngày dài  chiến cuộc.
Lê Thị Bích Lan trong đợt trại 15/5/1973  với bộ đồng phục Hội Hồng Thập Tự thuộc phân đoàn HTT QT tại đồi Thiên An Huế  và dưới đây là giấy chứng nhận của đoàn sinh HTT
 
Qua ngày thứ hai chúng tôi phải tuân thủ sự điều động qua hiệu lệnh của trại Trung Ương. Lúc nầy  ai nấy nổ lực hết sức mình, mục đích thi thố tài năng để giành lấy nhiều giải thưởng về cho đơn vị. Thể hiện hết tài năng đó là mục tiêu phấn đấu của mỗi đoàn sinh phân đoàn Quảng Trị không kẻ nữ hay nam, lớp lớn hay bé…. Do vậy  từ trại nầy, thầy cô và Ban Hướng dẫn của phân đoàn rèn luyện, từ kỷ luật ,đội ngũ, kỷ năng và kỷ xảo  mà đặc biệt nhất là tài chỉ huy của anh Lê Văn Chánh và chị Lê Thị Mỹ Liên đến Anh Thư ….
   Chiều nay bắt đầu trò chơi lớn thông qua hiệu lệnh morse, cờ và dấu đi đường phải vượt đến hơn 3 quả đồi rồi trờ về lại mới kết thúc được trò chơi.  Khoảng 5 giờ chiều các đơn vị  lần lượt trở về đội ngũ. Trong vòng tròn đối mặt, kiểm điểm và báo cáo quân số. Bất chợt lúc đó tại phân đoàn Quảng Nam mọi người chuyền tay nhau ăn trái rừng không sót một ai .
Đêm nay sau khi giao lưu văn nghệ liên trại  chúng tôi chìm trang giấc ngủ say vì 1 ngày mệt mỏi. Bổng nhiên còi lệnh báo động đi tải thương và cấp cứu “SOS’. Tưởng đâu đây là trại TW tổ chức tập dợt thi đua. Ai ngờ đó là chuyện thật .
Câu chuyện từ những chùm trái cây rừng ngọt màu nâu đỏ kia trở thành nạn nhân ngộ độc toàn bộ phân đoàn Quảng Nam. Cũng may phân đoàn Quảng Trị không ai được rời hàng ngũ qua đó để ăn cùng.  Xe Hồng Thập Tự và các đoàn sinh lúc nầy mới thực sự được thực tập cấp cứu, tiếng còi xe inh ỏi, tiếng ngừơi rên la  từ trại TrungƯơng đến các phân đoàn như đang làm một công việc khẩn cấp. Từ đây về đến bệnh viện Trung ương Huế phải trên chục cây số, Quảng Trị phân đoàn kết nghĩa nên phải hết sức mình phục vụ cho đơn vị bạn, hết ca nầy đến ca khác, 32 đoàn sinh Quảng Nam lần lượt nhập viện. Một đêm thức trắng, thay nhau trực  bệnh và cấp cứu suốt đêm…. Đáng nhớ đời từ những trái cây rừng.  Mọi người kháo nhau ấy là “Tào tháo hay trái mắt quỹ gì đó …”.
Một tuần nhanh quá !  mọi người đều mệt lã vì phần muỗi đốt, phần vì cái nắng của mùa hè oi bức, lại còn bị mấy trận mưa rào, phần mất ngủ. Nhưng với tuổi thanh niên lời ca tiếng hát, tiếng đàn không lúc nào ngắt từ các trại vang rộn sau giờ sinh hoạt tập thể xong …
Ngày mai toàn bộ các phân đoàn từ Quảng Trị đến Cà Mâu được phép ra thăm thị xã Quảng trị đồng thời giám sát trao trả tù binh theo hiệp định hoà bình Pa - ri đã ký kết.
Cơm sáng xong phân đoàn nào  vào đội ngũ phân đoàn đó, đoàn xe với cờ Hồng Thập Tự gắn đầu mui xe, cả đoàn xe màu trắng đang đứng yên lặng, trong đội ngũ trước giờ khởi động, các phân đoàn tay trong tay vừa hát vừa vỗ tay rộn vang trong ánh nắng ban mai dưới tán cây thông. Từng hàng một lên xe, Đoàn BTC trại TW đến đoàn Quảng Trị và tiếp theo cứ thế nối đuôi nhau thành hàng trên đường ra viếng Thị Xã Quảng Trị điêu tàn.
Nơi đây đã trải qua một cuộc chiến hải hùng với 82 ngày đêm và hàng ngàn vạn tấn bom đã giết chết tính ra một ngày đêm hơn 200 sinh linh chưa kế đến thường dân Quảng Trị ở bờ Bắc và Nam sông Thạch Hãn. Qua thông tin báo chí  trong phạm vi Thành cổ Quảng Trị đã nhận số lượng thuốc nổ tương đương 6-8 quả bom nguyên tử mà trong đệ nhị thế chiến Nhật đã hứng chịu 2 qủa tại Nagasaky và Hirosima.
Rời Thành phố Huế, chúng tôi vượt qua không biết bao nhiêu trạm gác, sau 5 tháng ký hiệp định hòa bình Ba -  Lê. Không khí chiến tranh đã vãn hồi, nhưng đồn bốt và  rào chắn  vẫn còn nguyên vẹn. Những người lính Thủy Quân Lục chiến canh giữ trên tuyến đường Q. lộ 1A từ Thừa Thiên đến bờ Nam sông Thạch Hãn. Xe qua cầu Mỹ Chánh chạy ngang qua Đại Lộ kinh hoàng, thật khủng khiếp nơi nầy còn  lố nhô, lố nhố những xác xe , áo quần, tư trang cá nhân và phương tiện chiến tranh mặc dù đã  1 năm qua đi đã bị mưa gió bão san rửa phần nào.
Nhớ lại ngày đó mọi người chen nhau thoát khỏi vòng lửa đạn, tôi chứng kiến ngày đó là ngày  16/3/AL tôi đi trong dòng người chật kín hành lang và lòng đường giữa hai đầu chiến sự cầu Dài và cầu Bến Đá bom đạn, phi pháo kể cả B 52 đã trút xuống thôn Trường Phước  trong đó có cả bom xăng, đốt cháy cả một vùng quê. Đánh cháy cả hàng ngàn chiếc xe và trong đó không biết bao nhiêu con người phải nằm lại vất vưởng trong vùng tử địa nầy. Đại lộ kinh hoàng có tên từ đó.
Đoàn đã vượt qua cầu dài ra đến Quận lỵ Mai Lĩnh và ngã ba đường  mới cũ tiếp đến ngã ba Long hưng ( tên gọi của địa phương hiện giờ )là chòi canh quân sự và cứ 10m đường có 1 rào chắn do lính TQLC canh gác, họ mở đường , rà phá bom mìn cho đoàn tiến vào thị xã Quảng trị không một cản trở nào từ phía quân sự, vì đây là đoàn dân sự và tổ chức nhân đạo đầu tiên thăm vùng chiến sự. Trên đường đi các hàng rào kẽm gai, các ụ bao cát còn ngỗn ngang, xe phải lách đi lách lại mới chạy được. Một xe là một rừng người, trong tiếng loa, trong tiếng hát, tay vỗ nhịp nhàng, một màu trắng từ xe, cờ, người vang dội trong đổ nát và điêu tàn. Chúng tôi ghi được rất nhiều hình ảnh, trên xe với tốc độ 30 km giờ nhưng chắc các hình ảnh nầy  khi trở lại sẽ giúp mọi người thấy được sự tan hoang của Thị Xã với cỏ dại ven đường cao gần 1 m…
Xe tiến thắng vào đường Quang Trung, tại đây đoàn dừng lại vào Ban kiểm soát quân sự 4 bên tại rạp đại chúng cũ. Sau đó tiến thẳng ra bờ sông Nam Thạch Hãn. Tại bãi trống được san ủi bằng phẳng gọi là Ban phối hợp thi hành hiệp định Pa ri . Xe  từ từ dừng lại, nơi nầy trước đây là   trụ sở Ty thanh niên và Bưu điện Thị Xã Q.Trị cũ. Đoàn thăm quan vùng chiến sự, ai vào phân đoàn đó. Đứng vị trí nầy chúng tôi thấy có cầu phao bắc qua bên kia bờ Nhan biều.Phía bờ Bắc, từng chiếc xe tốc hành lộng lẫy đang chở các tù binh chiến tranh và lần lượt được trả về bên ni qua cầu phao nối  đôi bờ có ngắt đoạn giữa giòng. Phía bên nầy cũng vậy, mọi người lần lượt bước xuống cầu phao tiến về bờ bắc vượt sông lên cầu phao để về chiến tuyến ngừng bắn….


 HTT Quảng Trđang giám sát trao trả tù binh đôi bên theo Hiệp định Pa-ri tại bờ sông Thạch Hãn
Ảnh :Văn Thiên Tùng chụp tại bờ sông Thạch Hãn ( Đường Gia Long cũ) 5/1973
 
Thầy Lê HữuThăng  tìm lại ngôi nhà của mình ở 75 Phan Đình Phùng Q.trị. 
và đang ngồi   trên dống gỗ- gạch đỗ nát nhừng gì còn lại của ngôi nhà :
Từ đây trong tầm nhìn cả một vùng ngổn ngang, lố nhố những thanh dầm sắt, bê tông, cổng thành nghiêng ngữa, nhà in Nguyễn Văn phước với tháp cao ngất nghểu  đang vắt chéo qua nhau như cơn đau của một người mang bạo bệnh. Xe chỉ được đi hàng một, vì lòng đường rất hẹp,dù cho trước đây xe san ủi lòng đường và rà phá bom mìn... Những sắt thép, bom, đạn vẫn còn nằm dày đặc ven đường. Nổi kinh hoàng vẫn còn ám ảnh với mọi người.
Hành trình về vùng đất lửa kết thúc. 2 giờ chiều đoàn trở về Huế  và  đêm nay trở về trại mọi người bên nhau tâm sự. Một tuần không là bao nhưng trong chúng tôi, lòng nhân ái gắn kết một tình cảm cao quý, chúng tôi viết lưu ký, thậm chí có em còn lấy kim chích máu viết trên khăn tặng nhau ( rất tiếc những tấm vải băng nầy T không giữ được nữa …) mong hội ngộ những lần sau. Ngày mai tổng kết một tuần thi thố tài năng, chúng tôi những đoàn sinh Hồng Thập Tự Việt Nam không quên lời thề  Henri Dunant- Sống vì lý tưởng NHÂN ÁI Hồng Thập Tự trong mọi lúc và mọi nơi. Hãy gắng hết sức mình vì lý tưởng mà mình đã lựa chọn! 
Những chuyến công tác …
Đầu kỳ nghĩ hè của năm học tại khung trời xứ Quảng. Nơi đây những người dân Quảng Trị rãi dài khắp các căn cứ quân sự khi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam theo hiệp định đã ký kết. Cuộc hội trại toàn miền tại Huế. Tuy rất mệt nhưng mang đến không biết bao nhiêu điều bổ ích.  Một mùa hè  thật ý nghĩa. Chúng tôi về lại Đà Nẵng sinh hoạt thêm một tuần, phân đoàn thông báo chuẩn bị đi công tác giúp dân  hồi cư  và tái định cư tại vùng đất còn lại sau chiến tuyến ngưng bắn. Chuyến đi nầy hơi lâu, lo chuẩn bị tư trang cá nhân đầy đủ, phân đoàn chỉ lo cơm ăn. Tuần sau phải lên đường, hàng cứu trợ đã cập bến Đà Nẵng. Mọi người chuẩn bị tư thế lên đường hành trình về vùng quê mẹ điêu tàn. Nghe nói đến chiến sự, chúng tôi liên tưởng đến những ngày bom, đạn, phi pháo gầm thét ngày đêm trên từng nẻo đường làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn phải chịu chia xa. Giờ đây đến lúc mọi người quay trở lại hàn gắn vết thương chiến tranh trong mọi gian lao, nhọc nhằn và bom đạn còn sót lại sẽ còn nhiều tang tóc và đầy  hiểm nguy.
Đoàn đến tại trạm y tế xã Hải Chánh, vùng  nầy là vùng ven rìa cuộc chiến tại Quảng Trị nên dân cư một phần ở lại một phần chạy đi. Tại đây chúng tôi sắp xếp hành lý,  ở tại  trạm không cần làm lán trại ngoài trời, trải bạt và ngủ dưới sàn nhà. Nhiệm vụ được giao cụ thể  từ quản lý đến hậu cần và ban công tác, cứu thương, cứu nạn cũng như hoạt động khác thường xuyên của phân đoàn.
Mỗi sáng  thức dậy công việc đầu tiên là thể dục bảo đảm sức khỏe, mọi người vào đội ngũ đúng 6 giờ. Sau phần khởi động tại chỗ hàng hai từ sân trạm xá ra Quốc lộ 1A hướng đến chân cầu Mỹ Chánh chạy đều hít thở, 2 vào 2 ra, tay nhịp nhàng theo chân cứ thế một vòng đi về. Sau đó vệ sinh cá nhân, ăn điểm tâm gồm mì và sữa hộp hoặc đường. 7 giờ lên xe theo đoàn đi cứu trợ.
 Chạy 30 phút thể dục buổi sáng từTrạm y tế Mỹ Chánh ( chỗ đóng trại của đoàn công tác) đến cầu  và ngược lại ( hít vào 2 ra 2)
  Chị Lê Trạm y tế Hải Trường  nhận hàng y tế bàn giao và bàn việc cấp phát hàng cứu trợ cho dân...Nguyễn Văn Quảng ; Nguyễn Văn Sơn đoàn HTT
Ngày đầu tiên tại đình làng Lương Điền đội chúng tôi lúc đầu còn ngỡ ngàng, về việc ghi phiếu, lấy số liệu từ chính quyền xã, thôn, đóng dấu cấp sổ và số lượng trợ cấp cho từng hộ.
Ngày thứ 4 đến xã Hải Trường, công tác cứu trợ vô cùng khẩn trương thời gian sắp hết 15 ngày hàng về đủ cấp số đến xã Hải Thiện và Hải Lâm. Rút kinh nghiệm 6 ngày công tác trước đây các thôn chưa đạt chỉ tiêu số hộ cấp phát theo lịch phân đoàn định. Chúng tôi rút ngắn thời gian bằng cách tất cả mọi người xem vào giấy căn cước, có chiều cao bao nhiêu thì tính đầu ngón trỏ tay trái qua tay phải xem như thước đo để cấp phát vải. Mặc dù 1 hộ 4m vải đen và 4 m vải trắng nhưng đây là công việc tốn nhiều thời gian nhất đối với cấp số phát cho 1 hộ. Từ sáng kiến nầy hàng phát nhanh hơn, chỉ cần 2 sãi rưởi là đã xé xong vải, còn chăn mùng, màn cuốc xẻng, đồ hộp, thuốc và gạo số lượng cụ thể đã định rồi.
Thế là còn ngày cuối cùng từ phe tư đến phe ba và về đình Hải Thiện. chúng tôi cắm chốt tại đây 2 ngày nữa là xong chuyến hàng công tác cứu trợ đợt 1 tại các xã tây nam Hải Lăng trở về định cư tại quê hương.

NHỮNG KỶ NIỆM ĐÁNG NHỚ  !!!

Đáng nhớ nhất những buổi trưa chúng tôi nấu ăn tại Đình Lương Điền, Ngôi đình rất rộng rãi, mát lạnh ghê người,  trong vẻ cổ kính , Đình không bị vết đạn nào đánh phá , hướng ra dòng sông Ô Lâu hiền hòa tạo một ấn tượng rất hữu tình,  giữa trưa hè tháng nầy  gió lào thổi về  như lửa cháy, nhưng đây đã có dòng chảy Ô Lâu tắm mát.  Mọi người lăn  ra ngủ như con một nhà chẳng phân biệt là nam hay nữ mặc dù tuổi đời lúc nầy chúng tôi ai thấp nhất cũng là 15 tuổi và cao nhất chỉ 18 tuổi như chị Lê Thị Mỹ Liên  và Lê Văn Chánh, Phạm Lợi, Nguyễn Ngự, Nguyễn Quảng, Trần Bá Tùng, Lê Thị Bích Lan, Văn Thiên Tùng, Thư đến Lựu , Lân Lê lớp nhỏ nhất. Có lẽ trong chúng ít ai có tình yêu ngoài lý tưởng nhân đạo.  Lúc nầy Chánh phụ trách phân đoàn rất năng nổ, lại rất nghiêm túc, ai vi phạm  tự kiểm điểm và tự  chịu phạt liền.  Vậy nên ai cũng tuân theo mệnh lệnh, Chánh thì rất khỏe, chị Mỹ Liên lo văn nghệ và đời sông, chúng tôi xem nhau như chi em một mẹ sinh ra.
Tại Trạm Y tế xã Hải Trường đoàn có nhất nhiều thiện cảm với chị trạm trưởng đó là chị Lê khoảng chừng hơn chúng tôi 4 tuổi. Chị rất vui tính, hòa nhã mọi người, cùng ăn cơm đứng, cơm ngồi. Sinh  hoạt với đoàn trong 3 ngày  có gì chị cũng chỉ dạy, lời chị ngọt ngào  như lời mẹ dạy con…
Chia tay những ngày công tác tại Hải Trường chị đứng chặn xe lại bắt tay từng đứa lần lượt hết 3 chiếc xe, chị còn khóc và can đảm lấy kim tiêm chích vào ngón tay viết vào mảnh vải tặng cho tôi  và một số anh chị khác nữa. Sau 1975 tôi thường lấy ra đọc nhưng đến năm lụt 1984 đã bị cuốn trôi. Nay nhiều lần đến Trạm Hải Trường hỏi thăm nhưng không gặp chị ở đâu …
Tại Đình Hải Thiện nơi đây đường về còn ngổn ngang cây đỗ ven đường, hầm hố  bom, pháo lổ nhố khắp nơi, nhiều đoạn xe qua chúng tôi phải gập người  xuống  sàn xe vì cây đỗ ngã nghiêng nhưng tay vẫn vỗ, miệng vẫn hát say sưa ... Ở đây  không có dòng Ô lâu trước mặt nhưng có con  đường  liên xã về Mỹ Thủy cũng lớn  và đình cũng có vẻ cổ kính nhưng bom đạn cày xéo cũng hơi nhiều. Đợt I công tác cứu trợ đến đây chấm dứt

NHỮNG ĐỢT CÔNG TÁC TIẾP THEO

 Đợt II những ngày còn lại khi dân Quảng Trị hầu hết đã về quê cũ nhưng tiếc thay từ ngã ba Long Hưng ngay tiếp điểm giữa đường Mỹ - Pháp lại không có đất để trở về . Đây là vùng phi quân sự để cho Ban liên hợp 4 bên. Vùng đệm, toàn thị xã Quảng Trị được định cư tại bãi cát trắng Hải Lăng gọi là Thị Tứ, cũng chia phường, khu phố và có trường Trung Học Nguyễn Hoàng  tồn tại đến 3/1975, nay là trường  PTTH Hải Lăng. Đoàn cứu trợ được lệnh tập hợp đi công tác đợt II.  Bây giờ vào năm học mới, hầu hết khi người dân trở về, chúng tôi người ở lại học Huế, kẻ học Đà Nẵng còn một số theo gia đình vào định cư và học tại các tỉnh từ Ninh Thuận trở vào…Đàn chim giờ lại tan đàn rẻ cánh một lần nữa…
Lúc nầy tôi đang học lớp 12C  tại trường J’Arc Huế có tham gia sinh hoạt  tại phân đoàn HHT Thừa Thiên - Huế do thầy Lý Văn Nghiên phân đoàn trưởng.
Bỗng một hôm tôi nhận được giấy báo công tác Hội HTT quảng Trị do  Bà giám thị  đưa đến và cho phép em được tham gia công tác từ thư bảy đến thứ hai. Cầm giấy báo công tác tôi vô cùng hồi hộp vì còn được một thời gian hoạt động cho hội quê nhà… Phân đoàn Quảng Trị cũng tập hợp tại phân đoàn HTT Huế. Trụ sở trước trường tôi học 04 Trần Cao Vân Huế. Hai phân đoàn phối hợp cùng nhau để có đủ nhân lực.
Đợt cứu trợ nầy thuộc các xã phía Bắc Hải lăng và Thị Tứ Quảng Trị được cấp phát hàng cứu trợ của  Hội 2 phân đoàn chia nhau ra cấp phát kịp thời trong 3 ngày mọi người còn phải trở lại trường học. Đoàn Quảng Trị  lúc nầy cứu trợ các xã Hải Lâm Hải Phú, Hải Thượng và khu định cư Gio Linh trên đất Hải Thượng… Chánh ra được một ngày phải trở về nhà tôi được ủy quyền đóng dấu, ký cấp phát cùng các bạn  3 ngày cứu trợ kết thúc ai đó trở về trường và mỗi người đi mỗi ngã từ tháng 11/1974 cho đến bây giờ.
Ảnh 36: Đặt bàn cấp phát hàng tại xã Hải Thượng( chuyến công tác sau cùng của phân đoàn. từ trái sang X,X, LV Chánh, VT Tùng,X
 Điểm lại bây giờ tôi và Bích Lan gặp nhau đầu tiên  năm 1993.  Tình cờ có người bạn đem Lan đến nhờ tôi sửa cái quạt Thái của Lan đã hỏng, Lan nhận ra tôi trước. Mặc dầu trong tay tôi các năm trước đây có 1 cái ảnh B. Lan đứng trước trại  nay không còn nữa vì lụt. Còn Nguyễn Ngự ở Hải Lăng  gặp vào năm 1999 khi đưa con vào thi Học sinh giỏi Huyện, Ngự trong Hội đồng coi thi. Chúng tôi nhận ra nhau ngay vì ngoài ra Ngự còn học chung 1 lớp 10C1 và 11C NNĐN nên không thể quên được. Lúc nầy Ngự là giáo viên  cấp I, phụ trách đội. Cũng mê  công tác xã hội. hiện do bị tai nạn nhiều lần nên sức khỏe yếu Ngự đã về hưu trước tuổi  chỉ có 2 đứa con gái và 1 cậu trai sau cùng học Đại học sư Phạm  Huế giờ phải vào tận Bà Rịa Vũng tàu xin đi dạy học. Con lại 1 người Lê Văn Chánh trước lúc tổ chức họp mặt Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị tại nhà thầy Đỗ Tư Nhơn tôi thấy thư của gia đình NH Đà Nẵng sẽ cho ra tập Tình Quê trong đó anh Lê Văn Chánh viết thư gủi.  Thầy đưa Tùng đọc thư mời tham gia đóng góp bài vở nhưng với tên Lê Văn Chánh không biết  phải là Chánh HTT xưa không. Về nhà tôi  điện thoại hỏi  mới biết là  là Chánh rồi. Chánh Hứa với tôi sẽ ra Quảng Trị trong dịp họp mặt  2007 đến.
Trong những phút đầu tiên họp mặt tôi tìm khắp mọi nơi nhưng không thấy hỏi thầy Nhơn thầy cũng chịu luôn. Điện thoại không ai cầm máy
Sau khi ra về hỏi đoàn Đà Nẵng mới biết Chánh mới mổ tim về. mất một cơ hội tốt cho  Chánh khi không được dự buổi họp mặt lịch sử này.
Trong buổi họp mặt ai ngờ khi khối K10 chúng tôi họp mặt 3 bàn đây trong đó có thầy Hồ Thế Vĩnh lại gặp được chị Mỹ Liên tôi nhận ra chi ngay và để nghị chi nhảy lên sân khấu góp văn nghệ 1 bài, chị thực hiện ngay. Khi vào lại SG chúng tôi gặp nhau, chị em chụp hình kỷ niệm. như vậy gia đình HTT đã chính thức gom góp được 5 người ….
Văn Thiên Tùng và chị Lê Thị Mỹ Liên   họp mặt gia đình Nguyễn Hoàng tại TP.HCM 07/02/2009
Tôi đã gửi ảnh và thông tin cho Chánh, nhưng Chánh biết nhiều bạn hơn tôi nữa, chúng tôi hẹn nhau hàn huyên tại Đại hội gia đình Nguyễn Hoàng Đà Nẵng và tại Quảng Trị năm 2010 sẽ kết nối tình bằng hữu của phân đoàn sau  thời gian dài biệt tin... 
  Lê Văn Chánh ( Đội mũ nồi phải sang hàng sau đứng)

* Cần thông tin và ảnh các bạn thuộc phân đoàn HTTQT. Nếu có xin gửi về
 vanthientungqtlh@yahoo.com.vn.
Xin cám ơn !
 Tải blog : 09.5.2009