Thứ Bảy, 10 tháng 4, 2010

Nổi nhớ ..H.T.Tình

CHS. HỒ THỊ TÌNH
Hiện ở : TP. HCM
ĐT: 0914230593
NỖI NHỚ

Em muốn gởi về quê từng nỗi nhớ
Bao năm rồi xa vắng biết không anh?
Con sông cũ còn thương người viễn xứ
Anh có buồn vào những buổi chiều êm?!

Quê em đó, con đường xưa lối cũ
Ông lái đò còn đợi khách tha phương!
Đưa em về gặp lại anh lần nữa
Chuyện hẹn hò nay lỗi nhịp rồi anh!

Quê hương ơi! Anh khô cằn sỏi đá
Nuôi dưỡng bao người nắng hạ mưa đông
Em vẫn dạt trên đất người xa lạ
Hễ có buồn, có nhớ cũng đừng trông!

Anh bây giờ còn hương như ngày nọ
Tiếng chuông chùa trầm lặng mãi ngân nga?
Giòng nước mắt khóc chia ly còn đó
Tiễn đưa người làm kiếp sống tha phương.

Em muốn gởi về quê những mong chờ
Biết bao giờ gặp gỡ lại em đây?!
Anh nằm đó cheo leo tình đã muộn
Chức Nữ - chàng Ngưu nước mắt vơi đầy!

Muốn gởi anh mấy vần thơ thương nhớ
Kỷ niệm ngày ta gặp lại tình nhau
Thôi bây giờ trên bước đường dong ruổi
Ngày tháng nào ôm trọn khối tình câm!

Bông hồng đó, tên em anh còn giữ
Hãy cài lên ngực áo trọn niềm yêu
Từ đất khách, em thương sao thương quá!
Kỷ niệm xưa là khúc nhạc ban chiều.

Hãy đứng dậy hỡi quê hương yêu dấu
Để người thương tìm lại lối đường về
Anh mừng đón bên đoá hồng đang nở
Em ngập ngừng bỡ ngỡ giữa trời quê!
HTT
MƯA
(Triệu Phong ngày ấy có Tình)
Lòng thổn thức bên khung trời nhỏ hẹp
Kỷ niệm nào mở lối dẫn vào thơ
Đã bao lần gợi tình lòng khép nép
Đưa ta về bao nỗi nhớ vu vơ!

Mưa chiều nay hay mưa chiều thuở nhỏ
Cạnh cuộc đời nghe mấy nỗi đắng cay
Tựa cánh chim lạc bầy đi tìm tổ
Gió chẳng ngừng nên đã mỏi cánh bay!

Hãy mưa mãi để ngàn năm anh ngủ
Khóc tình buồn đếm nốt trên làn mi
Ta muốn hát vang khúc ca tình lỡ
Một ngày qua là một nỗi buồn ghi.

Sầu ươm mộng xin đời thôi băng giá
Rơi lạc loài ru đã mấy chiều mưa
Rơi trên mái hay lăn trên gò má
Giọt mưa buồn hay nước mắt người xưa?!

Mưa không đợi, người đi không từ giã
Chảy ra khơi nước lại trở về nguồn
Lòng héo hắt tháng năm khô tàn tạ
Mắt u buồn sau mỗi buổi hoàng hôn!

Thân khép kín trong dòng đời câm lặng
Tiếng mưa nào gõ nhịp gọi đau thương
Ta ôm mãi tấm thân ta còn lại
Trọn cuộc đời nỗi nhớ mãi còn vương!
HỒ THỊ TÌNH

Trăng xưa vàng ...H.H.Bản


Chùm thơ  : TRĂNG XƯA VÀNG NỖI NHỚ 
HOÀNG HỮU BẢN
(Sáng tác từ 20/3 đến 22/3/2010, để thương tặng quê hương, trường xưa, thầy cô và bạn bè cũ - HHB)
Hoàng Hữu Bản quê làng Bích Khê, Triệu Long, TP,QT.
Anh là CHS khóa đầu tiên của trường. Học xong Đệ nhất cấp ở Trung học Triệu Phong, anh tiếp tục lên học ban C tại trường Trung học Nguyễn Hoàng. Đỗ Tú tài, anh thi vào Sư phạm và làm nghề dạy học. Nay đã nghỉ hưu và sống tại TP. Phan Thiết. Anh có năng khiếu thơ văn, làm thơ từ lúc còn học Đệ Thất; và biết yêu cũng rất sớm, dù chỉ là những chút tình vụng dại, đơn phương! Anh sáng tác rất nhanh, những dòng thơ tuôn chảy theo mối cảm xúc dâng trào trong anh. Chúng tôi xin giới thiệu chùm thơ về tình quê,tình trường, tình bạn, tình yêu anh tâm huyết gởi về tặng đặc san kỷ niệm của chúng ta.

NHẶT ÁNH SAO MƠ
Ta còn nửa trái tim côi
Nửa con mắt ngó góc trời liêu xiêu
Trăng xưa vàng sợi tóc chiều
Vàng thu lá rụng, nắng thiêu hạ buồn.
Ta còn mây trắng hoàng hôn
Ráng xưa vùi lấp hồn hoang dại khờ.
Xin làm chú nhện giăng tơ
Dang tay nhặt ánh sao mơ cuối trời.
Ta về tình lặng mù khơi
Mắt thương lệ ứa, ve phơi xác hè.
Lam chiều quyện khối tình quê
Ráo con mắt ngóng sao khuya đêm tàn!

NHỚ (I)
Nhìn trẻ ngây ngô rộn rã cười
Ta hồi tưởng lại tuổi đôi mươi
Bờ thương gởi gió trao ngàn tiếng
Bãi nhớ nhờ trăng trút vạn lời.
Chốn cũ đong đầy hương mãi đượm
Trường xưa lưu luyến sắc còn tươi.
Ân sư nửa chữ lòng ghi tạc
Dẫu nắng mưa phai , mãi nhớ Người!

NHỚ (II)
Bạn với trăng thơ níu tuổi già
Chắt chiu từng kỷ niệm mùa qua
Chút hương phấn thoảng chao trời mộng
Mấy giọt xuân nồng hứng ngõ xa.
Nhặt cánh hoa xưa cài liếp nhớ
Dở chồng sách cũ ép trang nhòa.
Trường xưa man mác trời di niệm
Nhắp chén tình đầy, lệ nhỏ sa!

THUYỀN CHAO BẾN ĐỢI

Ta nghiêng vai gánh vô thường
Còng lưng trĩu nặng hạt thương vơi đầy.
Ta ngồi đếm lá trên cây
Đếm tình thủa dại, tình ngây ngây tình.
Ta về em cứ lặng thinh
Mắt liêu xiêu ngó bóng hình mờ xa
Ta về áo trắng vàng pha
Nắng che màu áo, hương nhòa mùi hương.
Ta về tìm lại mái trường
Dấu xưa cổ tích ngỡ tuồng chiêm bao.
Ta về bước thấp, bước cao
Nghe bờ hỏi bến thuyền xao đâu rồi?…
DẶN LÒNG
Thôi ta về lại với ta
Nhớ mần chi để xót xa quặn lòng!
Thương chi mực cạn đèn chong
Nhớ chi rồi cũng mây hồng xa bay!
Tàn đêm rồi cũng tàn ngày
Tàn cơn ảo mộng trắng tay thôi mà!
Thôi về lắng giọt tình ca
Trăng-Thơ-Rượu đó, Ta và Em thôi!

LƯỢM
(Tặng NTVĐ)
Ta ngồi lượm mảng thơ rơi
Cắn từng hạt mọng mùng tơi vỡ òa.
Em ơi, tim tím đã nhòa
Thơ ơi, thơ cũng một tòa rêu rong!
Ai về xứ Quảng- Triệu Phong
Hỏi đàn chim Việt phiêu bồng nơi nao?
Đàn Em ơi, còn nhớ không nào?

EM CÒN CÓ NHỚ TÔI KHÔNG?
Em còn có nhớ tên tôi
Hay tình đã héo giữa trời nắng mưa?
Buổi thanh xuân mắt dại khờ
Tuổi màu xanh trắng ngồi mơ mộng tình.
Anh còn dép lốp hàn sinh
Còn mo cơm vắt cho mình cho ta.
Hay hương xưa đã nhạt nhòa

Để lòng hóa đá cho hoa úa vàng?
Em ơi tình mãi còn đang
Cây còn bám đất, còn trang sách hồng.
Em còn có nhớ anh không?

MỘT THỜI
Một thời vở sách và thơ
Một thời để nhớ và ngờ ngợ thương.
Một thời trường chửa ra trường
Chữ thì không thiếu mà thường thiếu cơm!
Một thời quần lật, áo sờn
Chia nhau bắp nướng qua cơn đói dài.
Một thời sách vở miệt mài
Tranh nhau từng điểm, từng bài thầy cho.
Một thời chẳng biết âu lo
Trắng trang giấy trắng học trò trắng trong.
Năm mươi năm đã phiêu bồng
Năm mươi năm nữa cũng không nhạt nhòa!
 THỔN THỨC
(5 bài liên vận - trao về quê hương dấu yêu và trường cũ mến thương)
I-Trong đục rồi qua chuyện bể dâu
Trời xanh, mây trắng phủ giăng đầu
Tha hương ngày đợi lòng thắt quặn
Ly khách đêm chờ tim nhói đau
Trường cũ nửa mùa chim gảy cánh
Tình xưa một thoáng dạ khắc sâu
Bạn vàng ngựa hí tung mất vó
Khói nhạt, gừng cay gối mộng sầu.

II- Khói nhạt gừng cay gối mộng sầu
Vườn xưa tan tác nỏ còn đâu
Bích Khê lửa rực trời ly loạn
Sông Thạch bom tuôn nước đỏ ngầu!
Quảng Trị máu chan dòng lệ thảm
Cổ Thành tường nát vệt hằn sâu
Tang thương một thuở hồng hoang dậy
Rẽ nghé tan đàn ngấm nỗi đau!

III- Rẽ nghé tan đàn ngấm nỗi đau
Dìu em ta bước, bước lên mau
Trăng ngàn còn đó mây đan lối
Hạc nội còn đây rêu phủ đầu.
Chùa lặng bờ nghiêng chuông mãi vọng
Tháp chao suối lệch nước in sâu.
Xuân sang rồi nhỉ, tình phơi phới
Ruộng lúa , ngô, khoai khởi sắc màu.

IV- Ruộng lúa, ngô, khoai khởi sắc màu
Xanh tà áo lụa ngát hương cau
Cỏ hoa tươi mát, cây vươn cánh
Giun dế reo ca nhạc dạo đầu.
Cấy hạt nhân vùi gieo giống mới
Nâng mầm tình dậy gặt mùa sau.
Đàn chin lạc MẸ bay về TỔ
Ríu rít cười vang bên khóm lau.

V- Ríu rít cười vang bên khóm lau
Hoài mong nếm lại bát canh rau
Hương quê ngọt lịm chen niềm nhớ
Nghĩa cũ thắm nồng ấm nỗi đau!
Họ Đỗ làng ta bàn thiếu ghế
Hậu Kiên đình bạn bảng không màu!
Chao ôi, tuổi dại đâu rồi nhỉ?
Gió cuộn tình trong, mắt lệ ngầu!


VI- Gió cuộn tình trong mắt lệ ngầu
Năm mươi năm đó chẳng là bao
Miễn lòng còn thắm hương còn đượm
Thì mắt dẫu mờ lệ dẫu chao ...
Thầy hỡi ! Trình (*) thưa con nhớ kỹ
Bạn ơi ! Kế (*) tục cháu pha màu
Phòng (*) khuya hiu hắt trăng vàng lạnh
Thổn thức tàn canh tim hoắm sâu ...

VII-  Thổn thức tàn canh tim hoắm sâu
Năm mươi năm gặp lại nhìn nhau
Điểm danh coi thử "thằng mô" thiếu ?
Gạch sổ xem chừng "đứa nọ" ao!
Quang -Hóa-Thảo-Kha-Giang-Bát trụ(*)
Khanh-Thiên-Thiện-Ứng-Sỏ-Em(*) đâu ?
Bốn phương tám hướng đời dâu bể
Thôi ! Hãy vui lên gạt lệ sầu...

IIX-  Thôi hãy vui lên gạt lệ sầu
Đời trôi xuôi ngược bể nương dâu
Vô thường quán trọ hoài canh mộng
Bể khổ mồ hoang khắc nỗi đau
Xuân đến hoa cười , đông thấm lạnh
Ngày qua tuổi rụng tóc pha màu
Thảnh thơi buông hết lòng thanh thản
Ta lại về đây ủ mộng đầu

IX-  Ta lại về đây ủ mộng đầu
Gương NGƯỜI thuở nọ nỏ cần lau
Ân sâu muôn kiếp còn ghi tạc
Nghĩa bạn ngàn đời dạ khắc sâu
Hút bóng trường xưa sương phủ lối
Khuất mình ngõ cũ cỏ pha màu
Thời gian dẫu xóa tình không nhạt
Đêm lạnh lùng rơi tiếng vó câu ...

X-   Đêm lạnh lùng rơi tiếng vó câu
Ta như bèo dạt dưới chân cầu
Nổi trôi khắp nẻo đành quên hẹn
Ngụp lặn muôn dòng đắng nỗi đau
Tháng lụn mắt thương trời cố quận
Ngày tàn ruột héo đất chôn nhau
Lặng nghe giun dế hòa âm vọng
Vẳng tiếng đêm thâu Mẹ ạ ầu ...

                                                     
Hoàng Hữu Bản 
(245/1 Trần Quý Cáp,TP Phan Thiết.
ĐT: 0626280313- 01654606037).

Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2010

Nhớ và Xa- Hoàng Giỏi




 CHS. HOÀNG GIỎI

Hiện ở : Ô 2, Ấp Bắc I, xã Hòa Long,

Thị xã Bà Rịa, BRVT.

ĐT: 064.3751622 – 0975149668

NHỚ
Lớp tôi, lớp Pháp cuối cùng
Chín A, tên gọi; Triệu Phong, tên trường
Từ ngày cất bước ly hương
Cô Thầy, bè bạn vấn vương trong lòng.
Đêm mơ, ngày nhớ, tháng trông
Mong ngày hội ngộ, thỏa lòng nhớ nhung!
Lưu niệm xin chép mấy dòng
Gởi về trường cũ Triệu Phong nhớ hoài!

XA
Xa Nại Cửu quê cha đất mạ
Rời Triệu Phong, rời mái trường xưa
Xa thầy, xa bạn, xa cô
Xa con đường Bốn, sớm trưa tới trường.
Bạn học tôi mỗi đứa mỗi phương
Thầy cô cũ mỗi người một hướng
Sao lòng tôi mãi vấn vương
Nhớ về kỷ niệm mái trường Triệu Phong!
BRVT, 01/4/2010
Giỏ Hoàng

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

Quê hương và ngôi trường...


CHS : LÊ ĐÔNG
Khóa :  1962-1966
Trường : TH Triệu Phong
Sinh năm:  1951
Quê gốc : Ái tử, Triệu Ái, TP,QT
Hiện ở :47/6- ĐinhTiên Hoàng
P. Tam thuận, Q. Thanh khê, TP. Đ.Nẵng
ĐT: (0511) 6505407 – 0983003313

QUÊ HƯƠNG VÀ NGÔI TRƯỜNG QUẬN

Có thể nói không đại ngôn rằng: Ai là con dân của huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, được sinh ra và lớn lên từ thập niên 50 của thế kỷ trước đều biết ngôi trường Trung học Triệu Phong, cũng như con dân Quảng Trị thì đều biết Trường Trung học Nguyễn Hoàng.Vì sao vậy? Vì có thể là họ, con cái, cháu chắt họ có học ở ngôi trường này, Nếu không, ít ra họ cũng nghe tiếng của trường.
Tôi sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo yên ả, thanh bình, nơi đó có tổng hành dinh của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng trong những ngày đầu tiến về phương Nam theo lời khuyên của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Đó là làng Ái tử, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong , tỉnh Quảng Trị. Quê tôi có chiếc cầu đã đi vào lòng người qua làn điệu dân ca bằng lời ru ngọt ngào:
“À … ơi… Mẹ thương con ra ngồi cầu Ái tử,
Vợ trông chồng lên đứng núi Vọng phu …”
Ở đó có dốc Cồn Kho (tương truyền là nơi tích trữ lương thảo của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng), chùa Sắc Tứ (Sắc Tứ Tịnh Quang), có miếu Trảo Trảo. Quê tôi ở cạnh dòng sông Thạch Hãn quanh năm nước trong xanh hiền hoà, được chia hai bởi con sông Ái tử rợp mát bóng tre làng, đổ về hạ lưu sông Thạch Hãn. Cũng tại quê tôi có động Cơn Ràn, choi Mương nước, choi Rọ, rú Trấm, chà Đê, chà Căng, những đồi hoa sim tím, hoa Chạc chìu nở quanh sườn đồi… Đất Ái tử tuy không phì nhiêu, không thẳng cánh cò bay nhưng cũng đủ nuôi sống dân làng từ buổi đầu khai khẩn, qua thời khốn khó vì chiến tranh và thời bao cấp.
Tôi xa quê sau Tết Mậu Thân 1968, không lâu sau lệnh tổng động viên của chính quyền cũ khi tôi mới 18 tuổi, dạt vào thành phố biển miền Trung xin một chân thư ký (để được hoãn dịch), phải vất vả lo toan đủ điều cho cuộc sống trong thời ly loạn. Cung đường từ Đà Nẵng ra quê không phải là xa lắm nhưng thời chiến tranh và do cuộc sống quá khó khăn nên 5,7 năm mới về được một lần. Sau này đời sống khá hơn, tôi mới có điều kiện về thăm quê một năm một lần, có khi được vài ba lần do có ngày kỵ giỗ, tảo mộ hoặc, việc làng, việc họ …
Chim xa bầy lạc loài kêu sương” là tiếng kêu thổn thức nhớ về đất mẹ yêu thương, nơi có bóng dáng mẹ hiền một nắng hai sương như bóng chiều tà đã khuất sau luỹ tre làng, nơi đó có bà con họ hàng, bạn bè quanh năm bám lấy mảnh đất khô cằn mà thân thương, có sinh phần của tổ tiên, ông bà, cha mẹ …Ở nơi đó có tuổi thơ đi mò cua bắt ốc, chăn bò, đốn củi, câu cá ở những ao làng, có những buổi chiều mùa hè, sau giờ tan học tụ tập bạn bè cùng trường cùng lớp, cùng tuổi chia làm hai đội đá banh trên thửa ruộng sau mùa gặt (gốc rạ đã được cắt làm chất đốt), cùng kéo nhau lên chiếc cầu tre bắc qua sông Ái Tử, nhảy ùm xuống nước,  trèo lên và nhảy ùm lần lần nữa, chao ôi là mát, chao ôi là thoả thích !; tưởng không gì mát hơn được nữa! Quê tôi còn có Bàu Môn, Bàu Đưng, chợ Hôm, bến đò, có dấu tích sân bay dã chiến của Mỹ, có mùa đông giá buốt, đạp xe đến trường lạnh cóng cả hai tay; có ngọn gió nam Lào xào xạc mùa hè làm cây lá, ruộng vườn xác xơ, tàn úa; có quốc lộ 1, có đường xe lửa chạy ngang qua, ngày đêm rầm rập kéo còi inh ỏi; có tiếng chuông chùa Sắc Tứ đêm đêm vọng về làm thức tỉnh lòng người. Và nơi đó còn in đậm dấu ấn của thời cắp sách đến trường với nhiều thiếu thốn vất vả với thầy cô, bạn bè thân thương nay người còn kẻ mất, lưu lạc bốn phương trời; có tình yêu tuổi học trò vụng dại, ngây thơ. Tuổi học trò của tôi gắn chặt với 3 ngôi trường: Trường tiểu học Phước Mỹ, trường Trung học Triệu Phong và trường Trung học Nguyễn Hoàng tỉnh Quảng trị. Ở những ngôi trường đó có những thầy cô luôn tận tâm với nghề nghiệp, hết lòng hết sức truyền thụ kiến thức cho học trò và còn có cái quý báu không gì so sánh được, đó là đạo lý làm người. Sau bao năm dâu bể, cách xa, lòng tôi luôn nhớ về thầy cô và bạn bè thân yêu.
Nhân kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường Trung học Triệu Phong xưa, tôi xin viết kỷ niệm về trường, nơi tôi đã từng cùng bạn bè được thầy cô dạy dỗ nên người.
Chia tay nhau cuối năm lớp Nhất với mảnh bằng Tiểu học sau 5 năm học ở trường Tiểu học Phước Mỹ, bọn tôi tung cánh đi thi vào lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ) tại các trường công lập. Tôi may mắn thi đỗ vào trường Trung học Triệu Phong, một ngôi trường nhỏ vừa mới được thành lập với 4 phòng học khang trang rộng rãi, nằm cạnh quận lỵ Triệu Phong, gần chợ Sãi, cạnh con đường đất đỏ mà mùa mưa thì lầy lội, ổ gà, mùa nắng thì bụi đỏ bay mịt mù bởi những chuyến xe khách tuyến Quảng Trị- Bồ Bản nhả khói ạch chạy qua. Ngôi trường nhỏ bé mà thân yêu này tựa lưng vào một cánh đồng rộng thẳng cánh cò bay, gần hơn là những mảnh đất màu mỡ mà người nông dân dùng để trồng đậu, ngô, rau các loại. Bốn năm học ở trường, tôi có những kỷ niệm vui buồn lẫn lộn …Nhà cách xa trường trên 10 cây số, mùa đông cho đến mùa hè đạp xe đến trường (nên nhớ rằng chỉ khi đỗ vào được lớp Đệ Thất mẹ mới tích góp mua cho một chiếc xe đạp làm phương tiện - thời đó xe đạp thuộc loại quý hiếm!). Mùa nào khổ nấy: mùa hè thì ngọn gió nam Lào phả vào người cùng với cái nắng cháy da, mùa đông thì gió rét căm căm, lại thêm lũ lụt phải qua đò đoạn từ chùa Tỉnh Hội xuống xóm Hà thật quá nguy hiểm!(bây giờ nhớ lại thật rùng mình, hồi đó đò chèo, không có đò máy, không có phao bảo hộ). Lũ học trò nghèo chúng tôi chen chúc cho kịp chuyến. Khi may, gặp chuyến đò có thầy cô cùng qua thì được thầy cô trả tiền thay cho, vậy là ngày đó còn được 5 hào để có được một suất cơm xã hội cạnh bờ sông Thạch Hãn. Nếu muốn gần hơn, chúng tôi cũng phải qua đò An Mô, mùa hè thì được hưởng gió nồm mát rượi, nhưng mùa đông qua đò cũng hiểm nguy không kém.
Lớp tôi (Đệ Thất 1 đến Đệ Tứ 1, ban Pháp văn) có trên 50 học sinh, tuổi tác lớn nhỏ khác nhau từ các trường Tiểu học trong huyện tụ về, cũng có mấy bạn từ thị xã Quảng Trị về học (chắc sợ thi ở Nguyễn Hoàng không đỗ?). Lên học được trung học Đệ nhất cấp (PTCS. bây giờ) cũng oai lắm rồi vì khó khăn lắm mới vượt qua được kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất. Tôi nhớ năm đó tổng số thí sinh dự thi là 350 mà nhà trường chỉ lấy 2 lớp (Pháp và Anh văn) 100 người. Tôi thuộc loại làng nhàng, xếp đỗ thứ hạng 50 mà cũng đã “trợt rọt” rồi, không dễ dàng gì đâu! Gần 50 mươi năm trôi qua, bây giờ nhớ lại mùa thi năm đó tại một trường tiểu học (quên tên) cũng gần chợ Sãi, cạnh con sông nhỏ.Khoảng 3 giờ sáng thức dậy xin mạ mấy đồng ăn trưa cho 2 người và nhờ người bà con chở xe đạp lên huyện dự thi. Thời đó nhà cửa thưa thớt lắm, hai đứa ra đến ngả ba Quốc lộ 1  khoảng 4g 30 trời vẫn chưa sáng hẳn. Cảnh vắng vẻ của đồi cát trắng chạy dài, những hàng thông gió thổi vi vu rợn người, chúng tôi đứng lại định thần khoảng 30 phút mới thay nhau đạp xe qua cầu Ga Quảng Trị, rồi về dọc đường Gia Long, xuống chùa Tỉnh Hội, qua đập Rì rì đến xóm Hà và cuối cùng đến trường để dự thi. Mặc dù chỉ thi 2 môn Toán và Quốc văn nhưng vẫn phải thi cả ngày. Tôi nhớ rõ Toán là một bài toán động tử 2 vòi nước, còn bài Văn là: “Em hãy tả một cuộc đi du ngoạn”. Ngày hôm đó làm xong hai bài thi, tôi biết chắc chắn mình sẽ đỗ, vì toán làm đúng, văn không hay nhưng mà sát ý, có hình tượng. (Thời học Tiểu học, tôi thuộc tốp giỏi: toán, văn đều nhau). Toán động tử hồi ấy thầy Hồ Ngọc Thanh và thầy Nguyễn Xuân Tăng dạy rất kỹ, lại thêm hè của năm lớp Nhì, lớp Nhất được anh Lê Hoá luyện thi nên tôi làm dễ như “cháo”. Thi đỗ đã là quá khó, đỗ rồi lại có cái khó khác: nghèo.
Mạ nghèo một nắng hai sương, quanh năm suốt tháng làm lụng vất vả lấy đâu ra tiền nuôi con ăn học?! “Thôi thì cực khổ gì cũng phải chịu, thi đỗ rồi chẳng lẽ nghỉ ngang!”, lời mạ nói đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ như in.
Các thầy cô dạy chúng tôi hồi đó là: thầy Đỗ Thanh Quang (Hiệu trưởng), Phan Thanh Thiên (Hiệu trưởng kế nhiệm thầy Quang), Nguyễn Thiện Lữ, Nguyễn Quang Kế (đã mất), Trần Sĩ Tiêu, Hồ văn Kham (đã mất), Hồ Ngọc Hội, Trương Quý Nghi, Tô Thất Quỳnh Nam, Đào văn Hoà, Tôn Thất Phú, Hoàng Ngân Hà, Nguyễn Thông (làm hành chánh, dạy Công dân giáo dục); các cô là Phan Thị Ngọc Tỉnh, Phạm Thị Như Hoàn, Bùi Thị Gái, Phạm Thị Diệu Thanh.
Ngày đó hầu hết các thầy cô đều mới ra trường, còn độc thân, đã đem hết công sức truyền thụ, dạy dỗ cho chúng tôi. Thầy Hiệu trưởng Đỗ Thanh Quang  người mập, trắng, tóc hớt cao một mái (sau này mới thấy ít ai để kiểu tóc này). Thầy nghiêm trang, nếu không muốn nói là quá nghiêm khắc. Sáng thứ hai hàng tuần chào cờ, bốn lớp (Thất, Lục, Ngũ, Tứ) ngang hàng thẳng lối, đồng phục áo trắng quần xanh, mang sandal hoặc dép 4 quai (tuyệt đối không được mang dép lê), ngực thêu chữ đỏ: họ, tên, lớp, trường, đứng nghe lời huấn thị của thầy. Bọn tôi xếp thầy loại nghiêm khắc nhất trong số những thầy nghiêm khắc! Ngày đó trò nào vi phạm kỷ luật là bị phạt cấm túc, không chừng bị bạt tai ngay vì vô lễ, nên ai cũng ngán thầy! (Học trò trường huyện nên không thấy dấu hiệu ngựa chứng sân trường) và đều chăm lo học tập.
Thầy Đào Văn Hoà dạy chúng tôi chừng 2 năm. Hình như cuối năm đệ Ngũ, sắp nghỉ hè thầy đề nghị mỗi trò nộp cho thầy một ảnh 4x6 để thầy dán vào cuốn lưu bút của thầy. Tôi nhớ ngày đó tôi ghi vào dưới ảnh của mình (mượn lời một bài hát):
“…mai đây đường ngược, đường xuôi, nhớ nhau trong đời chỉ tìm lại lưu bút thôi, đời trai tung cánh ngang trời …”
Thầy Hoàng Ngân Hà cũng dạy bọn tôi 2 năm, sau đó hình như thầy vào Huế. Năm 1972 tình cờ tôi và Lê Văn Hậu (USA) cùng dạo phố, đoạn ngã tư Hùng Vương-Phan Châu Trinh, Đà Nẵng, gặp lúc thầy cũng đang đi một mình. Hai chúng tôi kính cẩn chào thầy, thầy sửng người nhìn chúng tôi: một áo quần nhà binh 2 hoa mai trên ve áo, một áo quần thường phục dáng dấp công chức, chào mình. Sau khi biết cả hai đều là học trò cũ của mình ở trường Trung học Triệu Phong, thầy rất mừng. Chúng tôi chia tay nhau trong bịn rịn. Từ đó đến nay tôi chưa được gặp lại thầy.
Thầy Trịnh Ngọc Phòng (đã mất) cũng dạy chúng tôi 2 năm. Tôi nhớ rõ là trong kỳ thi đệ nhất hay đệ nhị lục cá nguyệt gì đó, thầy ra đề thi môn Văn như sau: “Em hãy kể lại một câu chuyện cổ tích, nói lên lòng tham của con người”. Nhớ những năm ở bậc tiểu học tôi thường hay qua nhà anh Lê Hoá để đọc sách, truyện, trong đó có câu chuyện dân gian: “Ăn khế trả vàng”. Câu chuyện nói lên sự tác hại của lòng tham vô đáy của con người. Tôi gần như thuộc lòng, ghi lại rõ ràng, rành mạch câu chuyện trên vào giấy thi. Kết luận của bài văn tôi còn dẫn chứng thêm câu chữ Hán: “Nhân dục vô nhai- lòng tham vô đáy”. Kết quả thầy cho 8 điểm và phê là “xuất sắc”. Thầy bị tổng động viên sau đó, và đã ra đi biền biệt không về!
Thầy Nguyễn Quang Kế (đã mất) cũng dạy chúng tôi 2 năm. Sau đó thầy bị tổng động viên. Khi xuất ngũ, thầy về dạy lại ở Trung học Triệu phong (và Nguyễn Hoàng) cả Anh Văn lẫn Pháp văn. Năm 1972 thầy mất vì tai nạn máy bay tại Phan Rang.
Thầy Hồ Văn Kham (đã mất) dạy chúng tôi 3 năm. Năm Đệ Lục thầy dạy Quốc văn. Trong một lần bình giảng một bài văn (lâu rồi, tôi quên tên, chắc là một tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn), thầy đọc đến một đoạn chào hỏi gì đó:
- …các chị đấy à!
Cả lớp cười ồ, cười như vỡ bụng, làm thầy rất ngạc nhiên. Sau đó thầy hiểu ra nên thầy trò cùng cười. (đấy tiếng Quảng Trị có nghĩa là đái, tiểu tiện) Thầy hiền từ, đạo đức, dạy văn rõ ràng. Bọn học trò chúng tôi dù có ngỗ nghịch bao nhiêu chăng nữa nhưng thấy thầy hiền quá nên cũng thôi.
Bẳng đi thời gian khá dài, hỏi thăm bạn bè, thầy cô mới biết là thầy đã mất trong biến cố Mậu Thân 1968.
Thầy Hiệu trưởng Phan Thanh Thiên có dáng đi rất nhanh.Từ đầu hành lang thấy thầy đi tới là bọn tôi nói nhỏ với nhau: “ Phản lực đến oanh tạc bây ơi!(Trần Lợi A đặt ra). Thầy rất giỏi Toán. Lý, Hoá. Gặp lúc các thầy bận việc nghỉ dạy là thầy vào dạy thay, cả 3 môn. Thời gian sau này thầy vào Sài gòn và dạy trường chuyên Thành phố. Năm 2006, tôi và Trần Đình Khảm có gặp thầy ở Đà Nẵng. Hiện nay sức khoẻ thầy có phần giảm sút. Nhắc lại kỷ niệm xưa, thầy cười thoải mái.
Thầy Trương Quý Nghi dạy chúng tôi mấy năm, sau đó thầy bị tổng động viên. Năm 1972, tôi vào bệnh viện Đà Nẵng thăm người quen đang điều trị ở đây, tình cờ tôi được gặp thầy. Từ xa, trông thấy thầy trong bộ quân phục với ba hoa mai vàng trên ve áo, tôi cúi đầu nghiêm trang chào thầy, thầy rất vui mừng vì dù rất lâu rồi nhưng nay vẫn có học trò luôn nhớ đến mình.
Thầy Nguyễn Thiện Lữ hiện đang ở Đà Nẵng. Tôi thường gặp thầy mỗi lần họp hội đồng hương Quảng Trị và gặp mặt cựu GS&HS Nguyễn Hoàng tại Đà Nẵng, Quảng Trị và Huế.
Tôi cũng thường gặp thầy Trần Sĩ Tiêu trong những lần họp mặt Nguyễn Hoàng. Thầy tuy tuổi cao nhưng vẫn khoẻ. Thầy dạy Quốc văn chúng tôi năm Đệ Tứ. Ngày đó thầy nghiện Bastos xanh. Khi giảng bài, thỉnh thoảng thầy hút một điếu thuốc, rít một hơi dài làm có đứa học trò nghiện hút thèm không chịu nổi. Những lần gặp mặt, thầy trò tâm sự, nhắc những kỷ niệm xưa dưới mái trường Trung học Triệu Phong, thầy cười rạng rỡ …
Tôi nghe nói quý cô Phan Thị Ngọc Tỉnh, cô Phạm Thị Như Hoàn, cô Bùi Thị Gái đang sống ở nước ngoài. Ngày đó 3 cô oai nghiêm lắm. Trong đó cô Gái được học trò cho là “dữ” nhất, vì chẳng thấy lúc nào cô cười với học trò cả! Cô Hoàn và cô Tỉnh dạy chúng tôi liên tiếp 4 năm. Ngày đó các thầy cô giỏi thật, môn nào cũng có thể dạy tốt cả.
Lớp tôi nhiều trò không chừng xấp xỉ tuổi thầy cô, vì hoàn cảnh chiến tranh nên các bạn học chậm lại, có nhiều bạn còn to và cao hơn cả thầy cô; tiếng nói thì oang oang. Trong điều kiện như thế, các thầy cô  phải nghiêm trang, áp dụng kỷ luật sắt đá cũng là điều dễ hiểu thôi. Dẫu sao, chúng tôi vẫn biết “tôn sư, trọng đạo”, chăm chỉ học hành, ngoan ngoãn theo lời dạy bảo.
Thưa quý thầy, cô, cho người học trò nghèo của trường Trung học Triệu Phong năm nào kính gởi đến quý Thầy, Cô lời thăm hỏi ân cần và kính trọng nhất, (quyển học bạ 4 năm, Chứng chỉ Trung học Đệ nhất cấp lưu dấu một thời ở Triệu Phong, có lời nhận xét và chữ ký của quý Thầy, Cô em còn cất giữ, bảo quản như một báu vật). Kính chúc quý Thầy Cô luôn luôn mạnh khoẻ. Chúng em mong ngày hội trường sắp đến sẽ đoàn tụ đông đủ. Kính thắp một nén hương lòng tưởng nhớ đến quý Thầy đã mất, một nén hương nhớ đến các bạn cùng lớp, cùng trường đã về cõi vĩnh hằng!
Về bạn bè cùng lớp (Thất 1 đến Tứ 1), vì lớp có đến 50 bạn và đã qua 45 năm ít có cơ hội gặp nhau nên nhớ nhớ quên quên. Nguyễn Quang Toan (lớp trưởng), bạn này học giỏi tất cả các môn, chữ viết đẹp, chân phương nên được thầy cho giữ sổ điểm và ghi vào học bạ, tính tình hoà nhã, ít mất lòng ai, nghe nói sau này vào Hải quân.
Nguyễn Đức Liệu, bạn này học giỏi đều, có năng khiếu về thơ văn. Bài luận văn của bạn bao giờ cũng nhất lớp, thi lục cá nguyệt thì làm chemise. Do có tâm hồn nghệ sĩ nên bạn hát hay, đàn giỏi, giọng ngâm thơ truyền cảm, đặc biệt là thời kỳ đang học đệ nhất cấp mà hai ngón tay của bạn đã vàng khè (vì hút thuốc lá nhiều). Sau năm 75, có gặp bạn một lần ở Đông Hà (mới đi học tập về). Bạn bè gặp nhau hồi đó chỉ duy nhất 2 ly cà phê, hai điếu thuốc là sang rồi.Sau này nghe nói là có xin được một chân dạy cấp 2 ở trong Nam, và bạn cũng đã mất vì căn bệnh hiểm nghèo!
Bạn Lê Văn Quýt người An Tiêm, bạn này cũng học giỏi, người cao, trắng, đặc biệt là đôi môi hồng như con gái, tay thường hay vuốt tóc, tính hiền hoà. Nghe nói hiện nay đang ở Sài gòn, từ độ ấy đến giờ chưa gặp lại bạn! Lớp tôi có 2 Lợi: Lợi A và Lợi B. Lợi A học giỏi hơn. Cách đây vài năm nghe thầy Nguyễn Thiện Lữ báo là đã mất, hiện vợ con đang sinh sống ở Sài gòn. Lê Mậu Ngãi người Bích la Đông, to cao, trắng, đẹp trai, học cũng khá giỏi, pha chút bất cần đời, hiện nay đang ở Cam Ranh (Khánh Hoà), cũng có điện thoại thăm hỏi sức khoẻ của nhau.
       Ngày 04/8/2007 (ngày hội trường Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị), nhóm Triệu Phong chúng tôi mấy đứa ngồi cùng bàn quậy tá lả: Lê Văn Soạn, Đoạn Định, Đỗ Mượn (Thanh), Võ Tất Kháng, Võ Thìn, Trần Tân, Trường Thiện, Phan Thại, Hồ Thị Loan.
Tôi xin ghi một số bạn còn nhớ được tên: Nguyễn Quang Toan (lớp trưởng), Nguyễn Đức Liệu, Lê văn Quýt, Lê Văn Soạn, Lê Văn Chương, Lê Đông, Lê Văn Lâm, Đỗ Văn Tuần, Đỗ Khắc Phong, Đỗ Khắc Phụng, Đoạn Kháng, Hoàng Tăng, Võ Truyện, Võ Thìn, Trần Tân, Lê Mậu Ngãi, Nguyễn Đình Thoan, Trần Lợi A, Trần Lợi B, Phan Đình Trọng, Đoàn Thị Kim Ân, Hồ Thị Loan, Nguyễn Thị Tằm, Trần Đình Khảm, Đỗ Mượn (Thanh), Đoạn Định, Võ Tất Kháng, Phan Thại, Trương Thiện, (29 bạn), (Xin lỗi các bạn, vì lâu ngày và vì lớp đông quá nên không nhớ hết. Bạn nào nhớ là cùng học lớp mình thì cố gắng liên hệ với nhau nhé!).
Hè năm Đệ Tứ, chúng tôi chia tay nhau để lên học đệ nhị cấp ở Nguyễn Hoàng, cũng là cấp phân ban nên lớp bạn bè cũ thỉnh thoảng gặp nhau không kịp chào hỏi. Thầy cô thì có người dạy tiếp ở trường, có người đổi lên Nguyễn Hoàng, vào Huế, Sài gòn,…
Thời gian 4 năm học ở ngôi trường nhỏ bé nhưng thân thương này đã để lại trong lòng chúng tôi nhiều kỷ niệm đẹp, khó quên, lưu dấu một thời học phổ thông ở quê nhà. Nhớ ngày nào là cậu học trò nhỏ trường quận (huyện), nay đã bước qua tuổi lục tuần, đúng là thời gian như vó ngựa qua cửa sổ! Ôi, sao nhớ quá! Nhớ những bạn bè thân thương, nhớ thầy cô với tình cảm sâu nặng,, nhớ hình ảnh ngôi trường  nhỏ nhỏ xinh xinh, mái lợp ngói đỏ với hàng rào bao quanh không đủ độ cao, nhớ con đường đất đỏ về chợ Sãi chạy ngang qua quận lỵ, nhớ dòng sông Thạch Hãn hiền hoà trong xanh, nhớ những con đường đất nhỏ, phủ bóng tre làng dẫn tôi đến trường vào những ngày hè mà lòng mát dịu, …Nhớ lắm, tôi nhớ lắm! Nói như Lê Đàn ở Đông Hà: “Về thôi thầy cô ơi, các bạn của tôi ơi!”, ngày hội trường sắp đến./.
Đà Nẵng, Xuân Canh Dần-2010.
Lê Đông

Thứ Ba, 6 tháng 4, 2010

ĐỪNG ĐỢI EM VỀ...

ĐỪNG ĐỢI EM VỀ- CÒN MÃI BÊN NHAU

Nhân đọc bài thơ VẪN ĐỢI EM VỀ của anh Nguyễn Văn Quang, đăng trong Đặc san HƯƠNG QUÊ NHÀ Xuân Canh Dần 2010, anh Tâm Giao :Nguyễn Văn Tương cảm tác bài thơ này, tác giả muốn làm kẻ ra đi nhắn nhủ đôi điều với người ở lại. Chúng tôi xin giới thiệu cả hai bài để bạn đọc thưởng thức và xem thử tình ý của họ, ai ngậm ngùi, da diết hơn; nói cách khác, xem thử: lòng chàng, ý thiếp ai sầu hơn ai? 
Anh cố níu em chặt vào quê hương
Em quyết dứt tình theo miền đất hứa
Nên một nửa đành chia lìa một nửa
Ta mất nhau rồi, còn chi vấn vương?!

Sẽ có một ngày đất hứa cằn khô
Và trái tim em hóa thành sỏi đá
Mây giăng đầy trời, chiều đông buốt giá
Chốn cũ mơ về, sóng biển nhấp nhô!

Giếng nước quê mình vẫn mát, vẫn trong
Hoa trái quê mình vẫn thơm, vẫn ngọt
Chim chóc quanh vườn cất cao tiếng hót
Mãi gọi em về, em có nghe không?

Em có nghe không, em có nghe không??
Chung thủy trọn đời, tình anh vẫn thế
Vẫn dõi tìm em đầu non cuối bể
Như chú Hoàng Cầm tìm lá Diêu bông!

Thao thức canh dài nghe hồn tái tê
Máu cạn tim gầy vẫn hoài nhung nhớ
Nắng đốt bên ni, mưa dầm bên nớ
Lòng chẳng khuây nguôi, vẫn đợi em về!
Nguyễn Văn Quang

ĐỪNG ĐỢI EM VỀ
(Nói hộ một người)
Em đã nghe rồi nhưng em vẫn đi
Đời đã rẽ chia bên nớ, bên ni
Dẫu có trở về người xưa vẫn đợi
Ván đã đóng thuyền, phỏng có ích chi?!

Nơi ấy hoa thơm, cây đơm trái ngọt
Em như còn nghe vườn xưa chim hót
Như thấy dáng anh lảng đảng làm thơ
Và lời hờn trách nghe sao chua xót!

Gói ghém niềm riêng chôn chặt vào lòng 
Tháng ngày buồn tênh chỉ còn kỷ niệm
Tội nghiệp một đời chẳng ai tìm kiếm !
Thì có nghĩa gì hở lá diêu bông ?
 
Chắc hẳn là không, chắc hẳn là không
Níu lại làm chi, ai người giữ lại
Nghe thấy nao lòng, thôi anh đừng nói
Ngày xửa, ngày xưa ai kẻ đèo bồng?!

Phải chọn quê người làm miền đất hứa
Đừng tiếc, đừng thương một mối tình hờ
Dù nắng bên ni, dù mưa bên nớ
Chung thủy có là một mối tình thơ ?!!
Bà Rịa, 03/4/2010 - TÂM GIAO

CÒN MÃI BÊN NHAU
(Cảm xúc khi đọc bài thơ “Vẫn đợi em về” của anh Nguyễn Văn Quang đăng trên HQN, xuân 2010 – Thương tặng NVQ) 
Hoàng Hữu Bản
Em sẽ về, xin anh đừng đợi
Chờ mà chi, lệ ứa tim khô!
Em hiểu lắm làm người là khổ
Khổ hay vui cũng tại mình mơ.
          Em biết lắm lòng anh chung thủy
          Tình vô chung, đời cũng vô thường.
          Trời chợt nắng, chợt mưa anh nhỉ
          Thì buồn chi gối chiếc đêm trường!
Em thương lắm- tình anh giấy trắng
Trắng trang thơ gác ánh trăng trong
Em nhớ lắm: gừng cay, muối mặn
Thì thưa anh: chỉ giấu trong lòng.
           Anh chớ ngại người đi kẻ ở
       Có sông nào không đổ tự nguồn ra?
          Nước muôn đời trôi xuôi vạn ngả
Nước là Anh, Em là sóng thôi mà!
Khi gió im, trời yên biển lặng
Em là Anh, Anh cũng chỉ là Em.
Và tình ta thắm mãi êm đềm
Sưởi nắng ấm, tắm xuân hồng buổi sáng.
           Em không về xin anh đừng đợi
          Có là không, không là có thôi mà!
          Nếu chúng mình quét dần tự ngã
         Dẫu nghìn trùng, ta vẫn mãi bên nhau!
H.H.Bản