Thứ Tư, 2 tháng 6, 2010

Một chút kỷ niệm- H.T.Tình

MỘT CHÚT KỶ NIỆM
Hồ Thị Tình
Hồ Thị Tình  đang hát tại buổi gặp mặt CHSNH tại SG xuân Canh Dần
Cứ mỗi lần mùa thu đỗ bên thềm, tôi lại hoang mang về những kỷ niệm của ngày xa xưa ấy. Tôi nhớ lắm khi tôi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa bậc trung học. Tôi đã trở thành học trò trường Trung học Triệu Phong. Trên con đường làng nhỏ hẹp ven sông đầy đất đỏ, buổi sáng mùa thu sương khói vấn vương, tay ôm cặp sách thả bộ tới trường, dọc theo dòng sông Thạch Hãn lặng lờ trôi. Trời mù sương, mặt trời quên cả sáng, gió heo may thổi nhẹ. Tôi bước chân lang thang đi học, lòng xao xuyến ép cặp sách vào ngực, mong sao cho mau đến trường!
“ Hàng năm, cứ vào cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm” của thời hoang xưa ấy!

Hàng tuần, cứ đến sáng thứ Bảy, dù nắng hay mưa, dù mây còn lang thang trên bầu trời hay đã tan đi, nhường lại cho không gian những ánh sáng ban mai dịu dàng, tôi cũng thức dậy sớm, vào phòng ba tôi xin tiền để rủ bạn ăn quà cuối tuần, và hối lộ cho bạn để bạn bày vẽ bài. Ba tôi rất thương tôi, vì thuở nhỏ tôi rất hiền và ngoan, nhà đông anh chị em nhưng lúc nào tôi cũng được ưu tiên mọi thứ. Ba tôi lúc nào cũng biết cái tật của tôi là sáng thứ bảy phải có tiền cho tôi thật nhiều và phải có sớm. Nhưng ba tôi vẫn làm đủ thủ tục và thói quen buổi sáng của mình rồi mới cho tôi tiền để đi học.
Ba tôi rất gọn gàng, ngăn nắp. Thấy tôi ôm sách vở ngồi đó, ba tôi đi đánh răng, rửa mặt, lên gương chải tóc, vào phòng thay quần áo. Lúc nào ba tôi cũng nhẹ nhàng, lịch sự với con cái. Trong phòng của ba tôi có rất nhiều sách vở để nghiên cứu về bệnh tật, vì ông làm ngành y. Bây giờ, khi đã khôn lớn, tôi thấy mình giống hệt đức tính của ba tôi: thích đọc sách và làm thơ, thích đẹp và gọn gàng từ bản thân đến gia đình, dù có khó đến đâu tôi cũng không chịu bó tay mà luôn tích cực làm cho kỳ được. Những kỷ niệm đầu đời của tôi thì nhiểu lắm, không bút mực nào tả hết được! Mỗi năm thêm một tuổi, người già đi một tí, nhiều suy nghĩ nhớ nhung cứ hằn lên trong tôi không sao quên được. Đến lớp, ngồi cạnh tôi là Bạch Nhạn, Nết, Vân, Thiện. Những bạn ấy đều biết chuyện nghịch ngợm của tôi, nhất là Bạch Nhạn cứ ngăm nghe mách thầy mãi. Tôi phải hối lộ để khỏi bị mách. Sau bài vở của tôi, lúc nào tôi cũng vẽ ảnh T. là người đàn ông và một người phụ nữ là tôi. Tôi thích ai thì ghi tên người đàn ông đó vào. Bạch Nhạn biết được nên tôi bị la mãi. Nhiều khi Nhạn còn véo vào tay tôi, đau quá tôi lại khóc. Hồi đó tôi ngây thơ quá, không biết gì cả. Sao vậy hè? Đi học gần nhà nhưng lúc nào cũng bảo người giúp việc nấu cơm gói vào lá chuối cho tôi mang đi để ăn cùng Nhạn, Nết, Thiện và Vân. Thức ăn của tôi lúc nào cũng nhiều trứng và thịt để bạn ăn cùng, và để bạn giấu cho tôi cái tội viết tên thầy vào bìa vở, cặp đôi với tôi! Bây giờ ngồi nhớ lại những kỷ niệm đó mà thương chi lạ. Chuỗi ngày thơ dại qua đi thật nhanh, không sao níu lại được. Tiếc nuối cũng bằng không!
Các bạn ạ, mỗi lần nhắc đến trường Trung học Triệu Phong, lòng tôi lại nao nức như buổi tựu trường. Vừa qua, bạn Tâm, người bạn học cùng quê, hiện ở Bà Rịa - Vũng Tàu gọi cho tôi: “Alô, Tình ơi, trường Trung học TP mình sắp có chân dung và kỷ niệm rồi đó!).
Tôi hỏi sao bạn biết, thì Tâm bảo có nghe thầy Quang báo tin như vậy. Đêm hôm ấy tôi không ngủ được. Tôi có công việc phải về Huế một mình. Tối lại tôi cứ thao thức. Ngoài hiên, gió thổi nhè nhẹ, cây cối trong vườn xào xạc rung rinh. Tự nhiên tôi nhớ nhiều về những kỷ niệm của ngày xưa thân ái. Giá như lúc ấy tôi khôn ranh hơn thì bây giờ trong tôi không có những kỷ niệm đẹp dễ thương đó! Tôi thầm cảm ơn Trời Đất đã ban cho tôi cái thuở ngây ngô khờ dại ngày xưa.
Đêm hôm ấy, trong căn nhà thơm ngát hương hoa, giữa không gian thanh vắng, yên tĩnh, tôi đã nghĩ ra hai câu thơ:
Ba đi rồi nơi xóm nhỏ quê hương
Con lạc lõng nơi phố phường xa lạ!
Con đường trước nhà tôi lá vàng vẫn còn đó, phố Huế vẫn như xưa trong đón chờ. Nhưng ba tôi đã ra đi vĩnh viễn, cũng như tuổi thơ tôi đã ra đi vĩnh viễn! Tôi cảm thấy thật bơ vơ, và bỗng dưng tôi khóc òa nức nỡ!!!

Thứ Ba, 1 tháng 6, 2010

THTP và hình ảnh

Dưới đây là những hình ảnh ghi được qua các buổi gặp mặt quý Thầy Cô và CHS trường TH Triệu Phong 1960-1975

 Trước : Lê Ngọc Quế-Hoàng Văn Thông- Lê Mậu Ẩn- Lê Trâm; Sau: X, Thầy Nguyễn Văn Quang- Võ Thìn
Trước : Lê Ngọc Quế-Văn Thiên Tùng- Lê Mậu Ẩn- Lê Trâm; Sau: X, Thầy Nguyễn Văn Quang- Võ Thìn
 Ban Biên tập :  Tập san Trung Học Triệu Phong 1960-1975
KÝ ỨC TRƯỜNG XƯA

Võ Duyên,Hoàng Mãi,Lê Thị Thanh Hà,Nguyễn Thị Việt Điểu,Lê Ngọc Quế,Nguyễn Văn Quang

 Anh Lê Văn Thuận,Chị Nguyễn Thị Việt Điểu,Lê Thị Giao, Lê Thị Thanh Hà ( ảnh 05/5/2010)
sau 38 năm trờ về thăm quê.

Các thế hệ CHS THTP gặp mặt nhân 4 ACE về quê hương ( Sãi) viếng lễ Tổ tại nhà thờ thăm bà con, xóm làng và CHS THTP ảnh chụp trước cổng đình làng- xưa đây là tiền thân trườngTHTP tạm thời  các khóa đầu tiên.   
Trong ảnh: :Võ Duyên, Hoàng Mãi,Lê Thị Thanh Hà,Nguyễn Thị Gái (cùng Khóa 61-65)Nguyễn Thị Việt Điểu , Nguyễn Văn Quang( cùng khóa 60-64) và Văn Thiên Tùng , Lê Ngọc Quế (ảnh trên Khóa 67-71)

Anh Hoàng Mãi tặng hoa chị Thanh Hà hát chúc mừng ngày gặp lại Họ tộc,người thân, xóm làng và bạn bè


Trong nổi vui của 38 năm xa quê hương nay lại trở về, tiếng hát Thanh Hà đã nói lên hình ảnh quê hương, trong tâm khảm và nổi nhớ mong của người con ra đi từ lâu nơi xứ lạ quê người, nay trở lại với tâm trạng bồn chồn, vui buồn lẫn lộn, không thể nào ngăn dòng lệ, trong tiếng hát mang hơi ấm và chất giọng quảng Trị,của đất mẹ Triệu Phong và  của dòng sông Sãi thân thương vẫn thấy cay nồng đôi  khóe mắt và trên khuôn mặt... Thật là cảm động ....
Các thế hệ HSTHTP.
Văn Thiên Tùng- Hồ Thị Tình- Ngô Thị Ái Anh
Văn Thiên Tùng - Hoàng Tiễn ( K -67-71 lớp 6/2-9/B)

KÝ ỨC TUỔI HỌC TRÒ -N.V Thẩn

KÝ ỨC TUỔI HỌC TRÒ
Nguyễn Văn Thẩn
(CHSTP K. 1963-67)

Nếu không trúng tuyển vào trường Trung học Triệu Phong hồi ấy thì bây giờ tôi chẳng có gì để nói. Niềm vui như tràn ngập trong lòng cậu học trò 14 tuổi khi thấy tên và số báo danh của mình có tên trúng tuyển vào trường. Trên đường về, tôi ghé vào quán mua một chiếc kèn nhựa vừa đi vừa thổi toe toe cho đến lúc về đến làng. Tôi thấy sung sướng hơn nhiều so với các bạn cùng khoá phải vào học trường Thánh Tâm hay Bồ Đề.
Tôi nhớ vào trường niên khoá 1963-1964, tôi được xếp vào lớp Đệ Thất 2, ban Anh văn. Những phát âm đầu tiên do thầy Tôn Thất Phú dạy bây giờ tôi vẫn nhớ nằm lòng như tiếng mẹ đẻ. Thầy còn kiêm một tuần một giờ dạy nhạc, hệ số 1. Thầy Thiện Lữ dạy Toán kiêm một giờ vẽ. Thầy hướng dẫn chúng tôi cách đo khoảng cách, ước lượng hình thể đồ vật và quang cảnh. Chúng tôi cũng được hướng dẫn cách chọn bút chì. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ các ký hiệu trên ngòi bút chì mà ngày nay vẫn không có gì thay đổi, ví dụ: BB là black black có nghĩa là đen đậm, HB là high black có nghĩa là đen nhạt).
Một tuần chúng tôi cũng được học một giờ Hán văn do thầy Trần Sĩ Tiêu dạy Quốc văn dạy kèm. Tôi còn nhớ bài học hôm ấy là Cao sơn đại hà, hảo hoa mỹ thụ. Chúng tôi không có thì giờ để học những bài học căn bản “Nhơn chi sơ tánh bổn thiện,...” như người xưa. 
Qua năm Đê Lục, đệ Ngũ thầy Tiêu vẫn dạy chúng tôi môn Quốc văn. Thầy giảng rất thực tế với những ngôn ngữ dân dã, chúng tôi tiếp thu rất hào hứng. Có lần trong tiết Tục ngữ, ca dao, thầy ngồi ngửa người trên ghế giáo viên cao hứng đọc:
“ Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc
Con chàng còn trứng nác thơ ngây
Chẳng hay chàng ở đâu đây
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng!”
Chúng tôi cười muốn vỡ bụng. Có lần học trò “ thấy trâu lành xỏ chân lỗ mũi” (lời của thầy), thầy quát cho một trận nên thân! Sau mỗi lần như thế, thầy nói lẫy: “ Tôi thà về đạp xích lô còn hơn dạy các cô, các cậu!”
Ở lớp Đệ Ngũ, Đệ Tứ, cô Tĩnh dạy Lý, Hóa rất dễ hiểu. Cô thường nói: “Cái gì ở trước mắt mà các em nghĩ đâu đâu nên không thuộc bài”. Cô ân cần chỉ bảo cho từng người. Chúng tôi coi cô như người mẹ. Cô giáo hiền nhất là cô Diệu Thanh, phu nhân của thầy Hiệu trưởng Phan Thanh Thiên. Ở lớp Đệ Ngũ, thỉnh thoảng thầy Thiên cũng dạy một vài giờ Toán thay cho thầy chuyên trách bận đi công tác. Có lần thầy cầm nguyên cuốn sách Hình học bằng Pháp ngữ để giảng bài. Đôi khi chúng tôi không hiểu nhưng chẳng ai hỏi lại.
Qua Đệ Ngũ tôi có một sự cố! Vô tình tôi lấy bản nhạc Hoa biển để bao cuốn Sử địa và bị các bạn gái theo chọc. Đại khái họ cho tôi là sành điệu, là lãng phí,... gì gì đó. Xấu hổ quá, tôi về nhà lột vứt đi và lấy tờ báo khác thay vào.
Đến Đệ Tứ là lớp cuối cấp, ai cũng lo thi để lấy chứng chỉ Trung Học Đệ Nhất Cấp và còn lo cho việc phân ban vào Đệ Tam (lớp 10) tại trường Đệ nhị cấp Nguyễn Hoàng. Các bạn vừa học vừa ôn thi tối tăm mặt mày như thế nhưng cũng trao cho nhau những dòng lưu bút rất đỗi thân thương. Tôi đóng một tập rất dày bằng giấy pơ-luya đủ màu và đưa cho các bạn viết. Khi sắp chia tay, ai nấy hí hửng nhận lại lưu bút để đọc. Riêng cuốn lưu bút của tôi thì bặt vô âm tín! Tôi hỏi mọi người thì chỉ nhận được tiếng cười đáp lại! Tôi nghĩ rằng một anh chàng lãng mạn nào đó đã giữ lấy nó để chép thơ tình rồi.
Sau khi nhận được chứng chỉ Trung học, tôi vẫn không vui vì những trang lưu bút ghi bao kỷ niệm thân thương của tuổi học trò trong 4 năm học tại trường Trung học Triệu Phong vẫn không được cầm trong tay. Tôi buồn quá, không muốn nói chuyện với ai cả. Bất ngờ, ngày cuối cùng tôi được một bạn gái trao cuốn lưu bút cho và còn hỏi tôi có tiếp tục lên học trường Nguyễn Hoàng không. Tôi mừng quá, lật từng trang sổ ra xem thì cuốn lưu bút dày của tôi được các bạn viết gần hết  với những lời chúc rất chân tình và tốt đẹp. Một điều lý thú nữa là các bạn gái viết rất nhiều, lại còn dán thêm vào trang viết của mình nhiều hình ảnh đẹp nữa. Các bạn bên Đệ Tứ 1 ban Pháp văn cũng có viết cho tôi những dòng lưu niệm rất tình cảm. Không ngờ những người bạn tôi ít gần gũi, quen thân lại viết cho tôi nhiều như thế! Tôi trân trọng cất giữ cuốn lưu bút cẩn thận, xem nó như một kỷ vật quý báu nhất của đời mình. Nhưng chiến tranh tàn ác quá, nó lấy đi tất cả, cuốn lưu bút của tôi cũng đã mất tiêu, không thể nào tìm lại được. Tuy nhiên những gì các bạn đã viết cho tôi, tôi vẫn nhớ suốt đời. Sau này vào Hải quân, trong các bản nhạc về người lính thuỷ tôi lại thích nhất là bài HOA BIỂN. Bài hát mà các bạn gái ngày xưa dùng để trêu chọc tôi đã trở thành một kỷ niệm đáng yêu của tuổi hoa niên./.
  Trước: Lê Lào- Võ Tư-Nguyễn Tắc 
  Sau : Nguyễn Văn Phường- Hãn -Nguyễn Văn Thẩn
ảnh : Nguyễn Văn Thẩn tặng  tập san
Các bạn! 
Giờ đây đang ở nơi đâu!?
Gặp nhau chắc đã mái đầu hoa râm
Cho nhau một chữ " nhắn tin"
Để mong gặp lại chúng mình "TỨ HAI"
(Thân tặng các bạn lớp Đệ Tứ 2 NK 66-67, trường Trung học Triệu Phong)
An cư, ngày 6 tháng Giêng, năm Canh Dần-2010

Gió Ngàn ,...L.N.Quế

GIÓ NGÀN
Lê Ngọc Quế 6/2-67-71

Lối về chiều thu xưa
Em có hoài nhung nhớ!
Áo trắng chung sách vở
Gió vờn theo đong đưa

Phút ban đầu bỡ ngỡ
Mơ màng chút tình thơ
Bên này chưa hò hẹn
Bên kia vẫn ngóng chờ

Chiều tan trường chung lối
Tiếng mưa nhè nhẹ rơi…
Thơ em trao ánh mắt
Tình tôi gửi tiếng cười

Chưa tàn cuộc chiến chinh
Em lặng nhìn đưa tiển
Áo tôi thay màu lính
Qua rồi tuổi học sinh

Xa nhau trong vấn vương
Lắng phút giây hồi tưởng
Bóng hình ngày xưa ấy
Tình buồn, tình xa đưa

Gom thương về phủ TRIỆU
Góp nhớ đẩy cuồng PHONG
Mây vương vương màu NHỚ
Gió thoảng nhẹ mùi THƯƠNG 
Tháng 3/2010


THƯ GIẢN  
 với 9B - 67-71

Bác THƠM cầm đùi trống
Vội vã đến văn phòng
Tùng …Tùng …Tùng trống điểm
Vào lớp kẻo Thầy trông …

Học sinh ngồi ngay ngắn
Thầy thong thả vào phòng
Hôm nay trời lạnh lắm
Đóng hết cửa vào trong

Học sinh lo lắng hỏi
Thưa Thầy! “Lạnh lắm không?”
Sao “ cửa” thầy không đóng
Sợ chết chim trong lồng

Thầy cười vui, chống chế!
Trứng nở chim bay rồi
Thôi các em im lặng
Thầy ra ngoài “ĐÓNG” ngay…
Lê Ngọc Quế 3/2010

Thứ Bảy, 29 tháng 5, 2010

Hình ảnh Q.Trị trong mùa Phật Đản 2554

Quảng Trị trong mùa Phật Đản 2554
Năm nay các Chùa  trong tỉnh và các Niệm Phật đường từ các làng xã với khói hương trầm tỏa ngát; hàng ngàn Đạo hữu và Đoàn sinh GĐPT từ khắp nơi về Chùa tỉnh hội dự Đại Lễ Phật Đản 2554,  cắm trại tại bãi cát trước cổng chùa; thả hoa và đèn trên sông Thạch Hãn.Đặc biệt là đoàn xe hoa diễu hành trong đêm lễ (14/4) đi vòng quanh TXQT và đến một số Chùa lân cận...
Một số hình ảnh  ngày Đại lễ Phật Đản Phật lịch 2554.(2010)
Ảnh: Trần Sanh

















Các Chùa , Niệm Phật đường được xây dựng lại đều khắp thôn làng. Người dân Quảng Trị có nơi phụng thờ Phât tổ tôn nghiêm; đến hành lễ trong các ngày rằm , mồng một và các ngày  lễ chủ yếu của Phật Giáo cũng như sinh hoạt hàng tuần của các  ĐS GĐ Phật tử trong từng NPĐ hoặc Chùa khu vực cư trú một cách thoải mái...

Chùa Long An ( trước 72 gọi Chùa Sư Nữ)

Chùa Cổ Thành ( NPĐ C.Thành), Triệu Thành,Triệu Phong

Chùa Long Hưng( Phần tiền sảnh) , Hải Phú,Hải Lăng



Chùa Hậu Kiên ( NPĐ H.Kiên)

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2010

Nhớ về trường cũ- Trò xưa - Họa Thơ

Khi vào trang này xin mời quý Thầy - Cô và ACE CHS THTP cùng gửi bài hoặc tham gia Xướng- Họa

NHỚ VỀ TRƯỜNG CŨ, TRÒ XƯA
                                    Hồ Trọng Trí (Tức thầy Hồ Trị)

Nhớ sao! Kỷ niệm tuổi thanh niên
Biệt Triệu Phong, xa trò, bạn hiền.
Thế cuộc đẩy đưa đi mọi chốn
Thầy trò lan tỏa đến muôn miền.
Kẻ ra hải ngoại yên quê mới,
Người ở nước nhà vui cố viên.
Trường tuổi năm mươi mừng tái ngộ,
Cảm hoài, trân quý, dạ uyên nguyên.

Bài họa 1:
Xiết bao thân quý tuổi hoa niên!
Bạn cũ, thầy xưa lắm thảo hiền.
Trung học Triệu Phong vui mấy độ
Hồi chuông Ái tử vọng khắp miền.
Người đi đau đáu thương nguồn cội
Kẻ ở mơ màng nhớ cố viên.
Đoàn tụ, hẹn ngày vui tái ngộ
Nghĩa tình muôn thuở vẫn còn nguyên!
Nguyễn Văn Quang

Bài họa 2:
Nhí nhảnh vui đùa tuổi thiếu niên,
Học hành chăm chỉ ngó ngoan hiền.
Triệu Phong quê Mẹ chìm trong đạn,
Hòa Khánh trường kho đón khắp miền.
Lũ trẻ thênh thang đường sự nghiệp,
Bọn già nương náu chốn điền viên.
Dịp may xuôi ngược truy tầm cội,
Biển cả bao la vọng thủy nguyên. 
 Hoàng Đằng 

Bài họa 3

Trường cũ nay đà ngũ thập niên. 
Thầy hay đào tạo lớp trò hiền . 
Triệu Phong văn thái vang muôn hướng 
Quảng Trị tài danh nổi khắp miền
Kẻ đã bôn ba cùng viễn xứ
Người đang vui thú với điền viên 
Chờ mong ngày được vui đoàn tụ 
Nghĩa nặng tình sâu vẫn vẹn nguyên
                                 Nguyễn văn tương
                                 Bà rịa  26/5/2010
Vào trang xin họa...

Thứ Tư, 19 tháng 5, 2010

Một khoảng không gian Đ.T.Phúc


MỘT KHOẢNG KHÔNG GIAN

Tuy là ở xứ người nhưng tôi cũng tạo được một khoảng không gian ở vườn sau để có những giây phút lắng đọng tâm tư thư giãn ngó trời trăng mây nước.

Tôi chẳng cần gì phải có một hòn non bộ xây dựng lắm công phu mới tạo được một không gian "nhàn" cho riêng mình. Ở đâu cũng được, dù một căn gác nhỏ trong khu apartment hay khu nhà single house đắt đỏ hay trong một khu mobile home, chữ "nhàn" nó phát xuất từ trong tâm tưởng của tôi mà ra.
Chứng minh ư? thì tôi đang ngồi đây, có gì đâu ! một mình tôi ngồi ở vườn sau, cái ghế nhựa, một luống cải vừa lên , vài chậu cúc đủ loại hết mùa , cây ổi lá đang ra và chưa bao giờ thấy trái. Thế mà lạ thay tôi vẫn thấy khung trời quê hương đang đến với "riêng tôi"-- một mình.
A, thì ra chữ nhàn nó cũng dễ không "lắm tiền mua" !
Rồi mới thấy câu thơ của cụ Nguyễn công Trứ xưa tôi học dưới mái trường cũ Nguyễn Hoàng nó thấm thía làm sao! một ý nghĩa thâm thuý của bài cổ văn từ Cô Hồng , thầy Liệu, cô Lan quốc văn ...mấy mươi năm sau nó mới hiện ra ý nghĩa tại xứ lạ quê người :
"Thị tại môn tiền náo
Nguyệt lai môn hạ nhàn "
hay;
"Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc "...
còn chừ tôi thì:
"Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn "(Nguyễn công Trứ)
Thế đó, ở đâu cũng được, tôi chẳng cần cầu kỳ lắm thứ mới có được chữ "nhàn".
Tôi cũng chẳng biết gì về thiền hay yoga gì cả, cứ thả hồn trầm lặng dựa lưng vào chiếc ghế nhựa nghe tiếng bầy chim ríu rít vườn sau, ngắm mây bay thế là nhàn rồi.
Ngang đây, tôi kể bạn nghe chuyện bầy chim vườn sau của tôi. Tôi dám quyết đoán bầy chim tôi hay cho cơm là thứ chim se sẻ y hệt những bầy chim se sẻ ngày xưa Quảng trị. Xứ Mỹ đúng thứ chim này phải to chứ; trái lại bầy chim sẻ tôi hay cho cơm nó nhỏ thó nhanh nhẹn, lạ nhất màu lông chúng cũng màu đà(người Bắc gọi là nâu).
Bầy chim sẻ tôi hay cho ăn , cứ sáng là ríu rít đậu chờ ở vườn sau.
Tôi quên nói với các bạn rằng xứ người ta loài vật không bao giờ sợ người vì có ai làm hại nó đâu. Tôi chợt cười nhớ lại khi đi bộ trong xóm nhà tôi. Bên lề đường mấy chú quạ vừa kiếm trái cây rụng bên đường vừa "thao láo " mắt nhìn tôi chẳng có gì "kiêng dè" cả. Chưa hết, đi ngược lên sau các đám cỏ quanh mấy biệt thự trên các triền cao, mấy bầy nai mẹ con đang nhởn nhơ kiếm cỏ. Cũng chưa hết, mấy bầy gà tây hoang dã từ trên chóp núi nó xuống tận đây kiếm ăn có sợ ai đâu !
Chữ hoà bình tôi kể chưa hết với bạn, không biết bạn có tin không? Có bữa con tôi nhìn ra cửa sổ, sáng thật sớm mấy con nai về kiếm cỏ non ngay vườn trước nhà tôi. Trời sáng hẳn chúng thản nhiên nghênh ngang lên lại núi .
Trở về chữ nhàn của tôi với bầy chim sẻ vườn sau; khi tôi một mình trầm lắng thì chúng cũng tíu tít chờ ăn. Cũng có mây con chim xanh chúng giống chim xanh quê mình. Chim xanh này hung dữ,hay ở một mình không từng bầy như bầy chim sẻ, khi đến giành cơm là bầy chim sẻ bay tán loạn chờ con chim xanh đi mất mới dám bay trở lại. Dĩ nhiên bầy sẻ này làm sao sợ người , nhất là tôi hay cho nó ăn.Chưa hết, tôi còn nghe từ vườn nhà bên khi mặt trời và nắng ấm lên cao có tiếng chim kêu mà tôi dám tin là tiếng sơn ca, tiếng kêu tôi đã nhớ nằm lòng xưa tôi hay đi bộ qua chùa Sắc Tứ Ái Tử. Ngày xưa qua chùa Sắc Tứ, tôi hay xuyên qua mấy cánh đồng cát hoang. Vừa đi tôi vừa ngắm mấy con sơn ca chúng thỉnh thoảng bay lên trời cao vỗ cánh đứng yên. Tiếng chim hót đổ hồi, liên tục , cao ngất một hồi rồi từ từ hạ cánh, im lặng; tiếp tục lại con sơn ca khác bay lên và lập lại nhịp điệu như thế . Đặc biệt, tiếng chim sơn ca lanh lảnh trong vắt khác với tiếng bầy chim se sẻ nghe sao "ríu ra, ríu rít ".
Giờ tôi nói đến đám cải vườn nhà :
Đám cải của tôi đã lên hơn ba lá , màu xanh nõn nà .Một thời gian nữa nó lên bông , sắc hoa vàng rực. Màu vàng hoa cải cũng là một trời quê hương khi mùa đông về những gánh cải cay từ Nhan Biều với chuyến đò ngang đem qua Chợ Tỉnh; hay từ Sãi gánh lên năm ba cây số gánh bộ.
Thế đó, tôi nghiệm ra rằng sau thì giờ vật lộn với công ăn việc làm, cùng những bất đồng ngôn ngữ, những căng thẳng từ luật lệ phép tắc xã hội xứ người ta, tôi phải tạo cho chính tôi một không gian nào đó tĩnh lặng cho mình. Dù nhỏ bé đơn sơ nhưng khi chính tôi tự thoả mãn và bằng lòng với nó thì chữ NHÀN đến không khó.
Tôi lại nhớ về trường xưa thầy cô cũ ,câu thơ cổ văn còn văng vẳng đâu đây :
...
“Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc
Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn "
Đinh trọng Phúc -12/5/2010

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2010

Nổi mừng hội ngộ L.T.T.Tâm


NỔI MỪNG HỘI NGỘ
Lê thị Thanh Tâm

Những tưởng xa rồi lại gặp đây
“Nối vòng tay lớn “ vui lắm thay !
Ngỡ rằng chuyện cũ ngày xưa ấy,
Quên lãng vùi chôn theo tháng ngày.

Kỷ niệm chúng mình ôi đẹp tươi
Xin cùng gìn giữ  lấy bạn ơi!
Áo trắng học trò thời hoa mộng
Còn lại trong tim mỗi một người .

Bây giờ chắc hẳn chẳng còn chi!
Chỉ tiếc cho nhau , thôi được gì ?!
Tình bạn “ sáu hai” bền chặt mãi
Dù đời vạn nẻo cuốn ta đi.

Ta đi vẫn nhớ về nơi ấy ,
Có một ngôi trường thương rất thương.
Lớp lớp bạn bè yêu biết mấy !
Có nghìn nổi nhớ , nghìn vấn vương. 
Bà rịa 14/5 /2010
                                     

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2010

Chút KN và trường lớp...L.B.Tâm

CHÚT KỶ NIỆM VỀ TRƯỜNG- LỚP TÔI
NGÀY ẤY – BÂY GIỜ
Lê Bá Tâm
Tôi thi vào Đệ Thất Triệu Phong năm 1962. Ngồi trong phòng thi, mái lợp ngói liệt, ánh nắng len vào góc các tấm ngói bể, chiếu xuống chỗ ngồi, loá cả mắt. Cuối giờ thi, mồ hôi đổ ra như tắm. Đình làng Hậu kiên được nhà trường mượn để làm phòng thi. Một nửa mái lợp ngói, nửa phía dưới ngói bể, thay vào đó mấy tấm tôn. Tôi ngồi thi ở cuối phòng, nóng ơi là nóng! Ơn trời, tôi được đỗ vào Đệ Thất lớp Anh văn. Lớp kia học Pháp văn. Năm nay có cả thảy 5 lớp: Hai Thất, hai Lục và một Ngũ. Ngôi trường được xây mới giữa cánh đồng lúa của làng Nại cửu, sát tỉnh lộ 4. Trường có 4 phòng học và một phòng ngăn đôi, một nửa làm văn phòng, một nửa làm phòng đợi của giáo sư. Năm chúng tôi vào trường, thầy Đỗ Thanh Quang làm Hiệu trưởng. Các giáo sư giảng dạy có: thầy Trịnh Ngọc Phòng, Hồ Văn Kham, Nguyễn Quang Kế, Nguyễn Thiện Lữ, Đào Xuân Hoà. Qua năm sau có thầy Trần Sĩ Tiêu, Trương Quý Nghi, Tôn Thất Anh Thông, Tôn Thất Quỳnh Nam, Tôn Thất Phú, Tôn Thất Văn. Các cô thì có Cô Bùi Thị Gái, Phạm Thị Như Hoàn, Phan Thị Ngọc Tỉnh, Phạm Thị Diệu Thanh, … Còn bao nhiêu thầy, cô nữa trong 4 năm tôi không nhớ hết.
Mới đó mà ngoảnh mặt lại đã qua 48 năm rồi! Học sinh lớp tôi bây giờ người nhỏ tuổi nhất cũng đã 60 cái xuân xanh. Mấy o tóc dài, áo dài có: Lê Thị Mỹ Kiên, Lê Thị Huệ, Lê Thị Thuận Hoà, Hồ Thị Lý, Hồ Thị Như Mai, Hồ Thị Ngọc Hà, Đoàn Thị Anh, Đoàn Thị Quang, Trần Thị Thương, Trần Thị Chắt, Hồng Ái Huệ, Lương Thị Thanh Vân, Nguyễn Thị Hoa,…
Một số o bây giờ con cái thành đạt, có o hồi xưa học khá nhưng không có tiền học y khoa, bây giờ cho con qua Mỹ chớp bằng Tiến sĩ y khoa về treo lên tường xem chơi. Hai o hồi xưa trong ban văn nghệ trường, một o có giọng liêu trai giống đúc ca sĩ Thanh Thuý. Đêm văn nghệ tất niên (thầy Tôn Thất Phú hướng dẫn) hát bài Màu hoa trắng:
Màu hoa trắng, ngày nào trên tóc mây buông dài, không lẽ nay thay màu trắng khăn tang! Lời hát thì vậy, nhưng ông chồng là bác sĩ đang sống sờ sờ ra đó, con cái bây giờ thành đạt, đi công tác nước ngoài như hồi xưa đi chợ Sãi; chỉ có khổ là mỗi lần ai điện thoại tới cứ nghe tiếng cháu khóc đòi bà:
Giờ này mà có con còn bé rứa hở o?
Không phải mô; cháu nội, cháu ngoại cả bầy.
Rứa con cái đi mô?
Đứa đi Singapore, đứa đi Hàn quốc rồi.
Chà sướng, mà khổ quá hè, khổ hơn tui!
Rứa mi có cháu chưa?
Chưa có đứa mô lấy vợ, lấy chồng chi cả. …
Còn o thứ hai đẹp thất kinh, ưa đi hát biểu diễn ở xã, ở huyện, đêm tất niên mặc robe trắng xoè, má lúm đồng tiền, lúng la lúng liếng hát bài Sương lạnh chiều đông:
Mười năm mơ kết mây thành hoa trắng
Mây vỡ, hoa tan tàn giấc mơ hoa
Sương lạnh chiều đông buông tiếng thở…
Không biết thở dài hay ngắn mà bây giờ một mình ngồi ôm cháu ngoại:
Chiều xưa phai nắng dấu mòn đưa lối
Soi bóng chung đôi mà hoa chia phôi... Nghe buồn quá sá!
đẹp nhất lớp họ Trần, mặt hiền giống như đức mẹ Maria. Từ hồi học hết lớp Đệ Tứ đến nay không biết ở đâu. Đã hơn 44 năm rồi còn gì! Có o dạy học nơi rừng sâu núi thẳm, nón lá che trời; có o may mắn được sống nơi phồn hoa đô hội; có o ngồi tựa cửa chờ chồng, biền biệt chưa thấy trở về!
Bên phía các bạn quần xanh áo trắng thì có Nguyễn Giỏ, Hồ Công Thạnh, Đinh Kim Diện, Lê Thanh Khiết, Phạm Đình Thiện, Đặng Điển, Nguyễn Hào, Nguyễn Quang Hậu, Nguyễn Duyến, Nguyễn Tú, Nguyễn Ân, Vũ Ánh, Lê Liễn, Lê Văn Mai, Lê Đức Lợi, Lê Cảnh Thanh, Lê Bá Tâm, Võ Tánh, Hà Ngọc Tựu, Nguyễn Đình Thuần, Ngô Hào, Đoạn Song, Quốc Đình Cường, Đoạn Hai, Nguyễn Văn Đức, Lê Văn Hoàng, Lê Bá Phương, Trịnh Thoan… Ba bạn Hồ Sĩ Thơ, Trần Văn Thọ, Phan Chánh Thái ở tận bên trời Tây. Các bạn Đoạn Hai, Hà Ngọc Tựu, Võ Tánh, Hồ Công Thạnh, Nguyễn Dũ đã về cõi vĩnh hằng!
Nhớ ngày xưa, từ làng tôi đến trường băng qua cánh đồng lúa lộng gió làng Nại Cửu, mùa hè nắng cháy gió Lào; mùa mưa bùn lầy lụt lội, bùn lên tới đầu gối, gió bấc lạnh buốt tim, nứt da nứt thịt. Bốn giờ sáng dậy ăn cơm đi học, buổi trưa ở lại trường có cơm đựng mo cau, muối mè. Hôm nào ngủ quên không bới, xuống Bích Khê ăn tô bún bò gân giá một đồng của mụ Gái. Trời lạnh, ngồi chờ thấy khói bốc lên từ nồi nước lèo thơm ơi là thơm, hít hà ăn ngon quá sá! ( Mỗi năm chỉ ăn được năm ba đọi là hết cỡ).
Hồi đó chúng tôi nghèo chưa có áo mưa, chỉ có tấm nylon lớn cột ở cổ để che mưa, còn miếng nhỏ để gói tập vở và mo cơm đi học. Đến đầu niên khoá vào Đệ Lục, nhà không có tiền may quần xanh đồng phục, chú ruột tôi có chiếc quần đen cũ đã rách hai bên mông, tôi đem đến thợ may sửa lại, cắt bỏ phần rách, lộn ngược nền vải từ trong ra ngoài. Đến ngày nhập học, vào lớp nhìn quanh, té ra mình còn oai ra phết; nhiều bạn phải bận lại áo quần năm ngoái đã cũ. Có quần mới nhưng tôi phải bận lại cái áo năm Đệ Thất. Tôi đã mua miếng dương xanh về dương cái áo, lại trông như mới. Đến giữa học kỳ, cùng bạn bè đánh bi chui qua hàng rào kẽm gai, vô ý bị rách một đường chữ L phải mạng lại để đi học hết năm. Chừ nghĩ lại thấy hồi đó đi học khổ hết nước nói; thế mà phải cố gắng, chịu khó, chứ không thì về nhà theo Mẹ già cuốc đất trồng khoai.
Nhà mệ tôi có nuôi con trâu đực to tướng, những lúc không người giữ, tôi phải nghỉ học để trông, bài vở theo gió, theo mưa trôi đi một ít. Sau này, khi ngồi với bạn bè ôn lại chuyện cũ thời đi học, tôi nói:
Hồi đó tôi đi học một buổi còn một buổi ở nhà giữ trâu. Anh Lê Cung Bắc bảo:
Em có trâu để chự là may, nhà anh còn không có con chi để chự nữa chứ!
Rứa thì không biết ai khổ hơn ai?! …
Còn có anh bây giờ là đại gia: năm sáu công ty, nhà ba bốn cái, vợ hai ba bà, hồi xưa cũng vừa đi học vừa đi chự vịt như tôi. Học trò quê mình thông minh, chịu khó hết biết! Bạn học lớp tôi bây giờ có đại gia họ Ngô. Nhớ kỳ nghỉ hè năm Đệ Thất, tôi và bạn Cảnh Thanh đạp xe chở nhau từ làng Bích La lên thăm bạn ở làng Như Lệ, đường sá xa xôi, gồ ghề, lồi lõm. Đến trưa nhà bạn mời chúng tôi ăn mấy cũ sắn; ăn xong, ba đứa ra hái dái mít, rau thơm, cắt lá chuối non gói lại làm gỏi. Ăn ngon quá sá, nhưng cả hai đứa về bị khan cổ, khô họng hơn tuần lễ. Giờ ngồi nhớ lại nổi cả da gà!
Lên năm Đệ Lục, thầy Đỗ Thanh Quang chuyển công tác. Thầy Phan Thanh Thiên về làm Hiệu trưởng. Thầy là người đã gây ấn tượng đẹp nhất cho bao nhiêu lớp học trong thời thầy làm công tác quản lý trường. Thầy quê ở Quảng Trị, lớn lên học ở Huế, tốt nghiệp Đại học, vào dạy ở Bến Tre. Thầy chuyển về làm Hiệu trưởng Trung học Triệu Phong từ năm học 1963-1964 đến hết năm học 1968-1969. Lúc nào thầy cũng ăn mặc sang trọng, tề chỉnh: quần Tây đen, áo trắng, tay cài măng-sết, tóc ướt, hai mái thẳng tắp, giày da Ý bóng lộn. Đặc biệt thầy đi nhanh như gió. Thầy dạy rất ngắn gọn, dễ hiểu; chẳng bao giờ nghe thầy la mắng ai. Thế mà học trò của thầy học rất giỏi, rất kính mến thầy, mãi cho đến bây giờ. Bên cạnh việc quản lý, dạy lớp, thầy còn tổ chức các môn thể thao (bóng bàn, bóng chuyền …), cắm trại, thi đua văn nghệ các lớp, thăm hỏi phụ huynh, học sinh khi ốm đau, bệnh tật.
Nhớ năm Đệ Ngũ, chú tôi cho chiếc xe đạp cà tàng để đi học. Ngày nào cũng xảy ra chuyện: khi thì gảy tăm, đứt phanh khi thì bể vỏ đứt ruột, khi thì văng cả giò dĩa, pê-đan… Có lúc ngủ dậy, dắt xe ra đi học bị xẹp lốp, đoạn ruột bị xì hơi lấy dây chuối cột chặt, phải tháo hai cái ngàm phanh (hai cục cao su) mới chạy được; đoạn nào dằn thì xuống dắt bộ, lên đến trường thở không ra hơi. Đôi khi mơ màng nghĩ rằng xe mình đâu có thua gì xe Ishia của thầy Thông, xe Goebel của thầy Bính, và cả xe hơi của thầy Thiên! Đạp đi cũng nổ lép bép, bụp bụp như ai. Về đến làng có mấy đứa nhỏ chăn trâu chạy theo sau, tay đẩy, miệng kéo còi inh ỏi; nhớ lại vui quá là vui!
Hết năm Đệ Tứ, chúng tôi lên học trường Nguyễn Hoàng – xa trường, xa thầy, cô từ độ ấy. Cách đây hơn 10 năm, gặp o học giỏi ở Gài gòn, tay bắt, mặt mừng quá đỗi.
O vô đây mần chi?
Tui đưa con vô học Đại học.
Cháu ở ký túc xá hay ở nhà thuê?
Mình mới mua được căn nhà bên quận 6 cho hai cháu ở, đi học.
Chừ mần chi mà giàu rứa?
Mình buôn bán, có xe tải chạy từ Nha trang vào Sài gòn. Rứa chừ Tâm mần chi?
Tui mần đầy tớ.
Tháng lương bao nhiêu?
Được mấy trăm ngàn, vừa đủ ăn.
Mần đầy tớ chi cho cực. Về mần giúp tui, dọn dẹp, khiêng vác hàng hoá, trông nhà trông cửa cho hai cháu đi học, tui trả tháng một triệu, chịu không? Bạn bè thời Đệ Thất đến giờ còn mấy đứa mô. Nhớ lại hồi xưa tau tức mi lắm.
Tức chuyện chi?
Nhớ hồi trực lớp: mi và tau được phân công trực cùng ngày, mi bỏ chạy đi chơi, một mình tau khiêng băng không nổi để quét, phát khóc luôn.
Có rứa chừ mới nhớ chắc chứ!
Nhớ cái con khỉ. Rứa mi có về mần việc với tau không?
Không được mô. Tui mần đầy tớ sướng hơn, chỉ nói nhiều làm ít, không phải lao động chân tay, khiêng vác hàng cho o mệt lắm. Tra rồi, không mần nổi. …

Thưa quý Thầy Cô, chúng em là những học trò trường Trung học Triệu Phong biết giữ đạo thầy trò, biết “Tiên học lễ, hậu học văn”, rất tự hào vì đã được rèn luyện, học tập dưới mái trường thân yêu ấy để có được kết quả tốt đẹp ngày hôm nay. Chúng em xin kính cẩn tri ân và nguyện noi theo gương quý thầy cô, đem hết lòng truyền bá văn hoá, đạo đức, nghề nghiệp chuyên môn cho thế hệ mai sau để khỏi phụ lòng thầy, cô đã dày công gầy dựng và dạy dỗ.
Các bạn CHS. Triệu Phong thân mến,
Cái thuở học trò lưu luyến ấy,
Ngàn hăm há dễ mấy ai quên!
TP. Hồ Chí Minh, Hè 2010./.
LBT